Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Săn chuột đồng mùa nước nổi

Săn chuột đồng mùa nước nổi

( Copy từ http://www.baohaugiang.com.vn/newsdetails/1D3FE1887EA/_San_chuot_dong_mua_nuoc_noi.aspx  ; đã đăng ngày 25-10-16, mục Phóng dự ảnh.)


Hàng năm, cứ vào thời điểm giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 âm lịch là mùa nước nổi đổ về trên các cánh đồng của tỉnh nên chuột tìm đến những bờ mẫu (bờ đê) cao hay những khu vườn để sinh sống. Từ đó, nghề “săn” chuột đồng mùa nước nổi dần hình thành và đang phát triển tại nhiều địa phương trong tỉnh. Hiện tại, không chỉ có một vài người hành nghề này, mà nhiều nơi đã thành lập được nhóm. Dưới đây là một số hình ảnh độc đáo của nghề “săn” chuột đồng mùa nước nổi được phóng viên Báo Hậu Giang ghi nhận được, khi vừa cùng nhóm bắt chuột ở ấp 3A, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, rong ruổi vào buổi chiều của một ngày trung tuần tháng 9 âm lịch năm nay:
Nhóm bắt chuột đồng tại ấp 3A được thành lập khoảng 4 năm nay. Hiện có 10 thành viên, mỗi lần “xuất trận” đều có từ 5-7 người, có khi góp mặt đủ cả nhóm. Trong ảnh, ông Bùi Văn Tám cùng các thành viên của nhóm đang chuẩn bị chĩa, một trong những dụng cụ quan trọng trước khi đi bắt chuột.
Các thành viên trong nhóm tìm nơi chuột trú ẩn dọc theo các bờ mẫu.
Ông Bùi Văn Biến, trưởng nhóm cho biết bắt chuột đồng mùa nước nổi ngoài tạo thú vui trong lúc nhàn rỗi, thì đây còn là việc làm nhằm bảo vệ mùa màng sau này.
Do chuột thường nằm sâu bên trong nên việc đào hang gặp không ít khó khăn.
Nhiều lúc phải dùng đến máy phát cỏ có gắn đầu bơm để bơm nước từ ruộng vào trong các hang nhằm đuổi chuột chạy ra ngoài.
Thông thường, sau một chuyến đi, cả nhóm bắt được từ 30-40 con chuột, có khi gần 60 con. Trong ảnh, một thành viên khoe thành quả của nhóm sau hơn 2 giờ đi “săn”.
HỮU PHƯỚC

Hà Nội: Thanh tra xây dựng ở đâu?

Hà Nội: Thanh tra xây dựng ở đâu?

(Copy từ http://www.tienphong.vn/xa-hoi/ha-noi-thanh-tra-xay-dung-o-dau-1065852.tpo) 
TP - Hà Nội hiện có khoảng 1.600 Thanh tra xây dựng (TTXD) được rải từ cấp thành phố đến phường, xã, thế nhưng tình trạng vi phạm trật tự xây dựng diễn ra rất phổ biến. Câu hỏi được đặt ra, vai trò của 1.600 TTXD ở đâu, cũng như ai sẽ quản lý lực lượng này có hiệu quả.
Bài 1: “Bật đèn xanh” cho sai phạm
“Năm trật tự - văn minh đô thị” thứ ba liên tiếp được Hà Nội quyết liệt tổ chức thực hiện, nhưng tình trạng vi phạm trật tự xây dựng vẫn diễn ra khắp nơi. Nhiều ý kiến cho rằng, lực lượng TTXD của Hà Nội rất đông nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Thậm chí, có hiện trượng né tránh trách nhiệm, bảo kê và “bật đèn xanh” gây khó cho việc xử lý các sai phạm.
Không làm tròn trách nhiệm
Trong số 29 quận, huyện của Thủ đô Hà Nội hiện nay, Hoàn Kiếm là nơi có lực lượng TTXD cấp quận đông đảo với 78 cán bộ, phụ trách 18 phường địa bàn. So với các quận, huyện như Hà Đông, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Nam Từ Liêm…, đang có quá trình đô thị hoá mạnh thì Hoàn Kiếm mỗi năm chỉ có khoảng trên 100 công trình xây mới. Đây là quận trung tâm, nơi được hạn chế cho xây dựng nhà cao tầng để bảo toàn quy hoạch - kiến trúc phố cổ. Hà Nội đã ban hành các quy định chặt chẽ đối với việc cấp giấy phép xây dựng cho các công trình nằm ở khu vực phố cổ - phố cũ. Trong đó, có cả sự tham gia và thẩm định của nhiều cơ quan chức năng chuyên môn.

Hà Nội: Thanh tra xây dựng ở đâu? ảnh 1
Công trình “khủng” của gia đình nguyên Phó Giám đốc Sở GTVT Hà Nội xây vượt nhiều tầng so giấy phép.
Tuy nhiên, đến khâu quan trọng nhất là giám sát chủ đầu tư thực hiện giấy phép xây dựng thì nhiều UBND phường nằm ở vũng lõi phố cổ - phố cũ lại giám sát kiểu “thả nổi”, nên mới dẫn đến tình trạng hàng loạt công trình xây vượt 1 đến 2 tầng, thậm chí có công trình xây vượt nhiều tầng so giấy phép được cấp. “Hoàn Kiếm có 78 cán bộ TTXD, rất hùng hậu nếu so với một số quận, huyện TTXD chỉ có 13 người. Nhưng nếu như lực lượng TTXD quận làm hết trách nhiệm, đề xuất xử lý dứt điểm vi phạm của công trình ngay từ đầu thì không có chuyện cơ quan chức năng giờ đây phải mệt mỏi chạy theo xử lý các công trình vi phạm như ở ngõ 8 Lý Nam Đế của gia đình nguyên Phó Giám đốc Sở GTVT Nguyễn Hoàng Linh mà dư luận nêu vừa qua ”, một vị cán bộ TTXD Sở Xây dựng nói.
Phân tích về trách nhiệm của TTXD trong trường hợp vi phạm ở công trình ngõ 8 Lý Nam Đế (quận Hoàn Kiếm), vị cán bộ này cho hay, theo quy chế phối hợp, TTXD có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện và lập hồ sơ vi phạm hành chính về trật tự xây dựng, chuyển đến chủ tịch UBND quận, phường ra quyết định xử lý. Nhưng ở đây TTXD đã không làm tròn trách nhiệm của mình. “Ở công trình này TTXD quận chỉ lập biên bản vi phạm ở mỗi tầng rồi chuyển cho phường, trong khi nếu trường hợp phường không thực hiện thì họ phải báo cáo với quận, với thành phố để ngăn chặn và xử lý kịp thời. Chính vì TTXD không làm hết trách nhiệm nên dẫn đến việc công trình được cấp phép xây 7 tầng nhưng chủ đầu tư đã xây lên 10 tầng”, vị này nói.
Lãnh đạo phường cũng phải chịu trách nhiệm
Phó Chủ tịch UBND quận Hoàn Kiếm Phạm Tuấn Long nhận định, có việc UBND các phường và lực lượng TTXD địa bàn buông lỏng nhiệm vụ giám sát, quản lý, thậm chí bao che cho chủ đầu tư nên dẫn đến việc không phát hiện và xử lý kịp thời. “Lực lượng TTXD là người có chuyên môn, có lực lượng đông nhất, hiểu biết về địa bàn nhất nên không có lý do gì để biện minh cho việc không phát hiện kịp thời các công trình vi phạm. Là cơ quan được giao nhiệm vụ giám sát và quản lý, lãnh đạo UBND các phường cũng sẽ phải chịu trách nhiệm về việc đã để xảy ra vi phạm”, ông Long nói.
Ông Nguyễn Nguyên Quân, Trưởng Ban Đô thị (HĐND thành phố Hà Nội) cho hay, qua kết quả giám sát vừa qua cho thấy, hầu hết các công trình vi phạm trật tự xây dựng đều chưa được xử lý triệt để do nhiều yếu tố. Theo ông Quân, nếu chính quyền địa phương không đôn đốc, giám sát chặt chẽ, buông lỏng quản lý là tái diễn vi phạm ngay. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa lực lượng TTXD với chính quyền cơ sở nhiều nơi chưa tốt, thiếu quyết liệt; công an phường không thực hiện quy định cấm công nhân, xe chuyển vật liệu vào công trình theo đề nghị của chính quyền nên việc xử lý công trình vi phạm khó khăn và kéo dài.
Nhiều ý kiến cho rằng, dù lực lượng TTXD rất đông nhưng thời gian qua chưa làm tốt nhiệm vụ được giao. Thậm chí, có hiện tượng né tránh trách nhiệm, bảo kê và “bật đèn xanh” gây khó cho việc xử lý các sai phạm. Tại hội nghị giao ban về “Năm  trật tự - văn minh đô thị 2016” mới đây, Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải cho rằng, vi phạm trật tự xây dựng ở Hà Nội rất gay vì không ngày nào, không nơi nào không có vấn đề. Việc tăng cường quản lý đô thị có liên quan đến TTXD. Đáng lưu ý, theo ông Hải, hiện tượng TTXD cố tình “bật đèn xanh” cho xây dựng sai là có. Sở Xây dựng phải chịu trách nhiệm chỉ đạo về chuyên môn và xử lý thật nghiêm những trường hợp TTXD cố tình “bật đèn xanh” cho các chủ đầu tư làm sai rồi sau đó lập biên bản.
Thanh tra Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, chỉ trong 6 tháng đầu năm lực lượng TTXD đã kiểm tra hơn 10.000 công trình, phát hiện và lập hồ sơ vi phạm trật tự xây dựng đối với 1.592 trường hợp. Trong đó có 559 công trình không phép; 348 công trình sai phép, sai thiết kế, quy hoạch...
Hải Đăng - Hà Thành

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Thêm một nghi án oan lạ kỳ ở Bình Chánh?


Thêm một nghi án oan lạ kỳ ở Bình Chánh?


( Copy từ http://plo.vn/phap-luat/them-mot-nghi-an-oan-la-ky-o-binh-chanh-660368.html ; đã đăng ngày 24-10-16.)
 (PL)- Một người cụt hai chân bị buộc tội chống thi hành công vụ. có khả năng cơ quan tố tụng huyện Bình Chánh, TP.HCM sẽ xem xét đình chỉ vụ án này.
Thêm một nghi án oan lạ kỳ ở Bình Chánh?
Người “chống người thi hành công vụ” Văn Công Bình. Ảnh: PHƯƠNG LOAN
Chuyện ở quán nhậu và hậu quả pháp lý
Hồ sơ vụ án thể hiện đêm 24-1-2014, ông Nguyễn Nhật Bình, cảnh sát khu vực ấp 1 (Công an xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh) và ông Trần Duy Nam (dân quân xã) tuần tra trên địa bàn. Khoảng 23 giờ, khi đi trên đường Láng Le Bàu Cò, thấy quán ăn Tuấn Hưng của anh Đỗ Văn Tuấn vẫn còn hoạt động nên ông Nhật Bình đứng trước cổng gọi chủ quán ra nhắc nhở không được buôn bán quá giờ quy định.
Lúc này, bị cáo Công Bình và ông Lê Văn Thanh đang ngồi uống rượu trong quán, thấy ông Nhật Bình liền nói với ra mời rượu. Ông Nhật Bình từ chối và cùng chủ quán nói chuyện ở ngoài.
Ông Công Bình nhờ ông Thanh bế ra ngoài đi vệ sinh. Được đặt gần ông Nhật Bình, ông Công Bình đưa tay ra định đánh nhưng ông Nhật Bình né được. Ông Nhật Bình nhắc nhở ông Công Bình, rồi tiếp tục nói chuyện với chủ quán.
Khi đã được bạn bế đặt lên thành cống gần đó để đi vệ sinh, ông Công Bình vẫn lớn tiếng. Lúc này, ông Nhật Bình quay lại nói chuyện. Bất ngờ ông Công Bình dùng tay và lao người đến phía mặt ông Nhật Bình nhưng ông Nhật Bình đỡ được và lùi về phía sau thì trượt xuống mé sông. Ông Thanh bế ông Công Bình xuống đất thì ông Công Bình ôm cổ ông Nhật Bình khiến cả hai té xuống sông.
Ông Nhật Bình bị gãy nứt xương mũi nhưng đã từ chối giám định và không yêu cầu xử lý ông Công Bình về hành vi cố ý gây thương tích. Quá trình điều tra, ông Công Bình không thừa nhận hành vi nói trên. Dù vậy, cơ quan tố tụng huyện Bình Chánh vẫn khởi tố, truy tố và kết án ông chống người thi hành công vụ. Sau đó thì án bị hủy như đã nêu.
Thi hành công vụ với ai?
Ngày 26-5, VKSND huyện Bình Chánh ban hành cáo trạng lần hai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Cáo trạng này cho rằng dù hai nhân chứng đã đi khỏi nơi cư trú, dân quân Trần Duy Nam đã đi nghĩa vụ quân sự nhưng do ông Công Bình thay đổi lời khai, thừa nhận toàn bộ hành vi nên đủ căn cứ truy tố.
Đặc biệt, cáo trạng nêu ngày xảy ra vụ án là ngày 24-1-2014 nhưng Công an huyện Bình Chánh lại khởi tố vụ án từ ngày 2-1-2014, tức trước khi xảy ra vụ việc đến 22 ngày. Cả cáo trạng lần hai và bản án sơ thẩm đều không thể hiện nguyên nhân gây ra thương tích cho ông Nhật Bình.
Theo nhiều chuyên gia, chưa đủ căn cứ truy cứu tội chống người thi hành công vụ đối với ông Công Bình. Bởi lẽ hành vi đánh công an của ông Công Bình chưa được làm rõ nguyên nhân, động cơ có phải để chống người thi hành công vụ hay không. Và vì ông Nhật Bình không đang thi hành công vụ đối với ông Công Bình nên hành vi của ông Công Bình không có dấu hiệu của tội chống người thi hành công vụ.
Thương tích của ông Nhật Bình cũng chưa rõ là do ông Công Bình gây ra, hay do bị té xuống sông, hay do sự tác động nào khác.
Chúng tôi sẽ theo dõi và thông tin đến bạn đọc diễn biến vụ chống người thi hành công vụ lạ lùng này.
“Tôi chống được ai mà bị tội!”
Lúc nhờ bạn bế đi vệ sinh, ngang qua anh Nhật Bình tôi có hỏi: “Sao mời mà từ chối?”. Tôi “xả” xong thì anh Nhật Bình vẫn ở đó. Bạn tôi bế tôi lại gần anh Nhật Bình, tôi hỏi tiếp. Rồi hai bên có lời qua tiếng lại, giằng co, níu kéo... Giữa khuya lại không đèn, tối thui. Anh Nhật Bình té xuống ao, được chủ quán kéo lên. Còn tôi được bạn đưa đi uống cà phê.
Tôi không té xuống ao như cáo trạng nêu.
Hành vi của tôi có nhiêu đó. Thân thể tôi như vầy, chống được ai?!
Rồi bên công an, VKS, tòa án đến nhà tôi đưa cho mấy tờ giấy biểu ký. Ai muốn tôi đi thì đến nhà tôi chở tôi chớ tự tôi đâu đi được. Rồi con tôi vô mạng mới biết tôi bị phạt tù sáu tháng treo. Sao mà dễ bị tội vậy!?
Ông VĂN CÔNG BÌNH
Người liên quan, nhân chứng nói gì?
Đã lâu rồi tôi không còn nhớ gì. Chị cứ liên hệ Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh, TP.HCM. Theo chị thì gần ba năm rồi, vết thương trên mũi tôi còn không?
Ông NGUYỄN NHẬT BÌNHngười liên quan
Ông Công Bình bị cụt cả hai chân vầy thì chống gì mà chống! Chuyện bé tí xíu mà cũng thành vụ án hình sự!
Ông ĐỖ VĂN TUẤN, chủ quán nhậu Tuấn Hưng, ấp 1, xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, TP.HCM
PHƯƠNG LOAN

Cuộc sống, tài sản 'bông Lan' của bầu Kiên giờ ra sao?

Cuộc sống, tài sản 'bông Lan' của bầu Kiên giờ ra sao?

(Copy từ http://laodong.com.vn/kinh-te/cuoc-song-tai-san-bong-lan-cua-bau-kien-gio-ra-sao-603947.bld; đã đăng ngày 24-10-16.)
Bà Đặng Ngọc Lan được nhắc đến nhiều với tư cách người đàn bà quyền lực luôn đứng sau ông Nguyễn Đức Kiên. Trải qua nhiều biến cố, "bông Lan" duy nhất của cuộc đời bầu Kiên vẫn đẹp đằm thắm và rất giỏi kinh doanh, lãnh đạo.
    Bà Đặng Ngọc Lan và ông Nguyễn Đức Kiên từng là một cặp đại gia nổi danh trên thương trường trước khi ông Kiên lâm vào vòng lao lý.
    Được biết đến là một trong những đồng cổ đông sở hữu cổ phiếu tại Ngân hàng ACB với chồng, là Tổng Giám đốc Công ty B&B, bà Lan không chỉ là “cánh tay phải” đắc lực hỗ trợ bầu Kiên trong kinh doanh mà còn là một “bóng hồng” trong trái tim ông bầu “khủng” này.
    ảnh 1
     Ngoài cuộc sống kinh doanh, vợ chồng bầu Kiên rất tình cảm, luôn tay trong tay mỗi khi có nhau, dạo phố, đi du lịch, đi nghe nhạc, hay ngồi cùng hàng ghế khán đài xem bóng đá
    Khi bầu Kiên còn đương chức, những người quen biết còn thường xuyên bắt gặp cặp vợ chồng tình tứ đi xem hòa nhạc ở Nhà hát lớn, hay bầu Kiên đèo vợ dạo phố bằng xe máy, dù nhà không hiếm những chiếc ô tô đắt tiền.
    Bà Lan lọt vào tầm ngắm của truyền thông không chỉ vì là vợ của bầu Kiên mà còn là một người đàn bà rất giỏi kinh doanh, lãnh đạo.
    Ngay từ thuở sơ khai của thị trường chứng khoán Việt Nam, bà Lan đã được giới đầu tư chú ý tới. Bà sở hữu khối tài sản khổng lồ. Bà từng giữ vị trí thứ 4 trong top 10 người phụ nữ giàu nhất thị trường chứng khoán Việt Nam.
    Năm 2007 với tổng giá trị tài sản là 677,7 tỷ đồng, bà đứng vị trí thứ 4 trong top 10 người phụ nữ giàu nhất thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Vị trí này được giữ vững thêm một năm nữa dẫu con số thống kê kia đã giảm xuống chỉ còn 615,658 tỷ.
    Cứ thế, dù có lúc nắm giữ đến cả nghìn tỷ (1.045,433 tỷ đồng- năm 2009) hay dao dộng quanh mức hơn 800 tỷ thì người phụ nữ ấy vẫn luôn có mặt ở top 6 người phụ nữ giàu nhất TTCK Việt Nam.
    Chỉ đến năm 2012, có lẽ sẽ là lần đầu tiên, bà bị văng ra khỏi top 10 khi mà một số liệu thống kê cách đây đúng 1 tuần cho biết, nhà bầu Kiên mất hơn 300 tỷ chỉ sau 2 ngày ông bầu tóc bạc này bị bắt.
    Tới năm 2013, vị trí của bà Lan được cải thiện đôi chút khi bà “leo” thêm 3 bậc và đứng ở vị trí thứ 6 trong danh sách những phụ nữ giàu nhất và lọt vào Top 30 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam.
    Đến bây giờ, "bông Lan" của Bầu Kiên vẫn tỏa sáng ở top đầu những phụ nữ có tài sản ngàn tỷ. Vào ngày 20/10, báo chí đã đưa tin bà lọt top "những bóng hồng quyền lực trên sàn chứng khoán Việt Nam" khi sở hữu 38,5 triệu cổ phiếu ACB của Ngân hàng TMCP Á Châu trị giá 755 tỷ đồng.

    ảnh 2
     Giây phút vợ chồng bầu Kiên hội ngộ tại tòa
    Bà Lan từng có hơn 17 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, đã tham gia vào nhiều dự án phát triển và đầu tư quan trọng tại Ngân hàng Á Châu. Từ những kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình công tác, bà Lan đã góp phần cùng HĐQT trong việc xây dựng chiến lược phát triển của VietBank.
    Sau khi bầu Kiên bị bắt, bà Lan vẫn giữ được vị trí chủ chốt tại các ngân hàng mà gia đình này nắm giữ lượng cổ phiếu lớn. Hiện nay, bà Lan là Phó ban Kiểm toán nội bộ, Ngân hàng Á Châu, thành viên HĐQT VietBank.
    Nhìn người đàn bà xinh đẹp và quyến rũ này, không ai nghĩ bà đã 40 tuổi và là người mẹ của 3 con. Bà vẫn rất đẹp, thậm chí còn trẻ và đẹp hơn rất nhiều so với cái thời ông Kiên chưa bị bắt. Trước đây, bà Lan từng là Hoa khôi, người mẫu ảnh những năm 90.
    Hiện bà đang sống tại khu biệt thự sang trọng ở Hồ Tây.
    Theo Vietnamnet

    lola-20

    Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2016

    Sự thật về mối tình Hàn Mạc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc và bài thơ "Ở đây thôn Vỹ Dạ"

    Sự thật về mối tình Hàn Mạc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc và bài thơ "Ở đây thôn Vỹ Dạ"
    (Copy từ http://tiasang.com.vn/-van-hoa/su-that-ve-moi-tinh-han-mac-tu-hoang-thi-kim-cuc-va-bai-tho-o-day-thon-vy-da-3584 ; đã đăng ngày 22/10/2010  lúc 09:23.)
    Lâu nay, khá đông người cho rằng thi sĩ Hàn Mạc Tử và nhà giáo kiêm cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc từng có một tình yêu đôi lứa. Lắm sách báo ghi nhận như vậy. Ngay cả lối sống khá đặc biệt của Kim Cúc - suốt đời độc thân, làm thơ tặng Hàn, chẳng chuyện trò điều này với người trong nhà... - càng khiến dư luận nghĩ vậy. Với Kim Cúc, Hàn từng gửi thư và hai áng thơ mà thiên hạ lưu truyền với nhan đề Đây thôn Vỹ Dạ và Đừng cho lòng bay xa. Nhưng bằng hệ thống tư liệu phong phú và xác thực, tác giả Phanxipăng chứng minh rằng Hàn yêu đơn phương Kim Cúc, đồng thời khẳng định nhan đề chính xác hai áng thơ kia là  "Ở đây thôn Vỹ Dạ" và  "Sao, vàng sao".
    Giai đoạn 1928-1930, Nguyễn Trọng Trí - sau trở thành nhà thơ Hàn Mạc Tử(1) - về Huế nội trú tại trường Pellerin(2) để dùi mài đèn sách hai niên khóa cuối bậc tiểu học (3). Sau khi đỗ kỳ thi tiểu học yếu lược vào tháng 6/1930, Nguyễn Trọng Trí được cấp bằng Certificat d’études primaires franco-idigènes/Pháp Việt sơ học văn bằng ngày 26/12/1930. Kế đó, Nguyễn Trọng Trí vào phố biển Quy Nhơn, sống cùng gia đình. Năm 1932, chàng xin làm tập sự tại Phòng Địa chính Quy Nhơn trực thuộc Sở Địa chính tỉnh Bình Định - cơ quan được dân gian thuở bấy giờ quen gọi là Sở Đạc điền. Nguyễn Trọng Trí được phân công làm thư ký công nhật ở bộ phận bảo tồn điền trạch. 

    Soạn Đôi nét về Hàn Mạc Tử(4), Quách Tấn ghi nhận: “Khi Tử làm Sở Đạc điền Quy Nhơn, Tử có yêu một thiếu nữ ở cùng một con đường - đường Khải Định(5) - biệt hiệu là Hoàng Cúc.Hàn Mạc Tử - Hoàng Hoa: tình đơn phương
    Nàng mang họ tên đầy đủ là Hoàng Thị Kim Cúc, ái nữ của Tham tá Hoàng Phùng - thuở nọ đảm trách chức vụ Giám đốc Sở Đạc điền Quy Nhơn. Với nguồn tư liệu hiện thời, tôi chưa hề thấy Hoàng Thị Kim Cúc mang biệt hiệu Hoàng Cúc bao giờ cả. Biệt hiệu của nàng là Hoàng Hoa. Có lẽ bắt nguồn từ những câu thơ Hàn viết thuở tương tư nàng. Như bài tứ tuyệt Hoa cúc:
    Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa,
    Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha.
    Vẻ mặt khác chi người quốc sắc,
    Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.
    Hoặc rõ rệt hơn là trong bài Sao, vàng sao - bấy nay lưu hành dưới nhan đề không đúng bản gốc là Đừng cho lòng bay xa - mà Hàn từng gởi “tiểu thư khuê các”:
    Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía,
    Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây,
    Hương ân tình cho kết lại thành dây,
    Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu
    Sinh thời, Hoàng Thị Kim Cúc thỉnh thoảng cũng sáng tác thơ và ký bút danh Hoàng Hoa, hoặc Hoàng Hoa thôn nữ, hoặc H.H.
    Hoàng Thị Kim Cúc chào đời ngày 5/12/1913 nhằm mùng 8/11 năm Quý Sửu. Hàn Mạc Tử chào đời ngày 22/9/1912 nhằm ngày 12/8 năm Nhâm Tý 1912. Khoảng cách tuổi tác như thế, theo quan niệm dân gian quả rất xứng đôi vừa lứa: “Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một”. Lứa thì vừa đấy, song chàng với nàng chẳng hề “đôi lứa xứng đôi” - dẫu chỉ xứng đôi trên tình trường như nhiều người bấy lâu ngộ nhận. Sự nhầm tưởng kia, trớ trêu thay, lại xuất phát từ những hồi ký do thân bằng quyến thuộc của Hàn viết và công bố sau khi Hàn mất!
    Để bạn đọc tiện khám phá sự thật vấn đề, tôi xin sao lục mấy lá thư của chính người trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc.
    Thư đề ngày 13/3/1971 gởi Quách Tấn: “Hồi đó Tử thường đến chơi với Hoàng Tùng Ngâm là em chú bác với tôi. Bạn Ngâm đông lắm. Trong gia đình tôi, không ai để ý đến bạn của Ngâm. Câu chuyện tâm tình của Tử, trừ Ngâm ra, cũng không ai biết. Tôi được biết trước khi thầy tôi sắp về hưu, do một người bạn khác nói lại, chứ không phải Ngâm.”
    Thư đề ngày 15/4/1971 gởi Quách Tấn: “Hồi ấy tuy nhà Tử ở gần tôi, song Tử và tôi cách xa nhau như hai ngọn núi, Tử thì kín đáo và bẽn lẽn như con gái, còn tôi thì bí mật và xa lạ như cung trăng! Tuy thế Tử cũng đã tìm cách để gặp, nhưng rồi vẫn cũng chưa toại nguyện (…). Năm 1936, khi Tử ở Sài Gòn về Quy Nhơn, tôi vẫn còn ở Quy Nhơn đến mấy tháng sau mới về Huế.”
    Thư đề ngày 15/10/1971 gởi Quách Tấn: “Về tuồng cải lương(6) thì tôi được biết do đoàn Dạ Lý Hương đóng vào đầu năm 1970 (hồi đó tôi vào Sài Gòn được nghe nhiều người kể lại, trong đó có bác sĩ Lê Khắc Quyến kể nữa) và lần lượt đã trình diễn trên tivi khoảng mấy tháng sau tại các tỉnh miền Trung. Họ đã diễn tả đúng đoạn văn của ông trong tập Văn số 73 trang 93. Nghĩa là họ diễn đoạn Tử nhờ người đến cầu hôn bị ông bà thân nhà gái từ chối, hất hủi, vì lẽ Tử không xứng mặt đồng sàng! Cô Cúc không có trong vở tuồng, không xuất hiện trên sân khấu, chỉ có ông bà thân của cô và Tử thôi. Ông bà đã lột hết tài nghệ phơi bày rõ rệt tâm địa của con người chỉ biết tiền, ham danh vọng, khinh miệt người, hống hách… Như vậy, ông đã thấy rõ, vì động chạm sai lạc đến thầy mẹ tôi và Tử nên tôi mới lên tiếng, chứ không phải vì tôi!”

    Thủ bút Hoàng Thị Kim Cúc trong thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín.
    Thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín - em ruột Hàn: “Vào đầu năm 1936, sau khi ông trợ Cát là cậu tôi ghé nhà chơi, lúc ra về bỏ quên thư của Tử gởi cho cậu tôi mà nội dung chỉ nói về chuyện tâm tình của Tử. Tử có tới gặp tôi 2 lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai, Tử mạnh dạn trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ Bâng khuâng với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận thư (…). Gần cuối năm 1936, khi Tử về dự hội chợ Huế, mang theo một xấp Gái quê vừa in xong, có gặp tôi cùng đi với anh em tôi trong hội chợ. Tử đưa tặng anh em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi mà chỉ yên lặng nhìn! Mấy hôm sau, Ngâm cho biết: Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn vô, rồi từ đó chúng tôi không gặp nhau, lại không thư từ, thăm viếng, hứa hẹn, mỗi người một ngả, cách xa nhau như hai ngọn núi (…). Nếu không có bức thư ông trợ Cát để quên ở nhà tôi thì có lẽ tôi vẫn dửng dưng vô sự. Và Ngâm cũng không nói gì với tôi về mối tình của Tử. Ngâm thấy không thể giấu được nên mới kể đại khái rằng: ‘Trí nó cảm chị lâu rồi, từ hôm chị bán gian hàng ở hội chợ của Tòa sứ Quy Nhơn tổ chức (…). Trí đã nhờ Ngâm đưa thư cho chị, Ngâm không đưa. Trí nhờ nói với chị về nỗi lòng, Ngâm từ chối. Trí làm thơ tặng chị đăng trong báo Phụ nữ tân văn, Ngâm cắt mấy bài thơ rồi mới đưa báo cho chị (…). Thật tội cho thằng Trí! Nó kể cho em nghe nhiều nhiều, mà Ngâm đâu có nói gì với chị, vì Ngâm không muốn làm bận rộn tâm trí chị, khi thấy chị chưa nghĩ gì về chuyện yêu đương!’. Thật thế, lúc đó tôi đã 21 tuổi rồi(7) mà sao còn quá ngơ ngác!”
    Thư đề ngày 11/5/1988 gởi Hoàng Toại - anh cả của Hoàng Thị Kim Cúc: “Lâu nay em chưa có dịp kể cho anh nghe và em cũng không kể cho ai hết, tuy thế đã có nhiều người biết chuyện, biết qua sách báo sai lạc, biết qua sự phỏng đoán và tưởng tượng của họ. Câu chuyện xảy ra trên nửa thế kỷ rồi anh nợ, em cũng im lặng cho nó đi qua, vì câu chuyện thuộc về dĩ vãng. Không ngờ mấy năm sau đây mấy nhà viết sách tìm tòi moi móc, moi những chuyện không đúng sự thật như bài báo của Kiêm Đạt ở bên đó(8) mà anh đã cắt gởi về cho em coi chẳng hạn (…). Hồi em ở Quy Nhơn với ba, Hàn Mạc Tử có để ý đến em, nhờ Ngâm hỏi ý kiến em, Ngâm không hỏi. Anh ấy kiếm cách gặp em kể lể nỗi niềm, em thấy trước là câu chuyện không đi đến đâu nên từ chối. Câu chuyện chỉ có chừng nấy, em yên trí là không liên quan gì với nhau nữa, không dè thi sĩ cứ thầm yêu trộm nhớ, làm thơ rồi nhờ bạn bè tặng sách báo cho em, em vẫn cứ im lặng, không trả lời trả vốn (…). Sau khi Hàn Mạc Tử qua đời, Ngâm mới kể rành mạch nỗi lòng của Hàn Mạc Tử đối với em. Em hết sức cảm kích và vô cùng ngậm ngùi. Anh có nhớ hồi anh làm ở văn phòng nào đó, ông Trần Tái Phùng cũng làm một chỗ với anh, một hôm anh đi làm về, đưa cho em một tờ giấy nhỏ có ghi hai câu thơ của Hàn Mạc Tử do ông Trần Tái Phùng đưa cho anh đem về hỏi em. Hai câu thơ đó là:
    Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
    Muốn ôm hồn Cúc ở trong sương.
    Em xem xong chỉ cười mà không trả lời (…). Hôm nay em mới kể câu chuyện tâm tình đó với anh, kể ra cũng quá chậm, song chắc anh cũng hiểu tâm trạng em mà hoan hỷ cho em (…). Kha Anh, Kha Em hay Em Nhỏ thì có biết chuyện, song cũng biết lơ mơ vì em không nói chi hết; mấy em ở trong nhà cũng chỉ biết qua sách báo (…). Trong gia đình, anh là người đầu tiên mà em kể chuyện tâm tình của em”.
    Qua trích đoạn năm lá thư của người trong cuộc, ắt bạn đọc đủ cơ sở để kết luận, mối tình đầu Hàn Mạc Tử dành cho Hoàng Hoa chỉ là tình đơn phương. Trao đổi với tôi về chuyện này, một bạn thân của Hàn Mạc Tử là nhà văn Trần Thanh Địch(9) thuở sinh tiền nhận định:
    - Năm 1941, ngay sau khi Hàn qua đời, anh Trần Thanh Mại soạn sách Hàn Mạc Tử(10) đã có đoạn kết tiên đoán rất đúng: “Tôi vẫn biết trước, trong một ngày không lâu, người ta sẽ dành nhau cái vinh dự xây dựng cho thi sĩ Hàn Mạc Tử những chiếc thánh giá vĩ đại, đến cả những lăng tẩm nguy nga nữa”. Tham dự một số buổi lễ kỷ niệm Hàn Mạc Tử được tổ chức đó đây trong thời gian qua, chắc anh Phanxipăng đã chứng kiến cảnh mấy phụ nữ tranh nhau tự nhận là “nàng thơ”, là “tình nhân” của thi sĩ quá cố. Thói đời mà! Thế nhưng, chị Cúc thì khác. Chị không nhận những gì mình không có. Tôi cho đó là đức tính trung thực đáng quý. Và nhiệm vụ của các cây bút ngày nay là hãy cố gắng đem “cái gì của César trả lại cho César.”
    Thiết tưởng cần soi sáng thêm đôi điểm về nhân thân Hoàng Thị Kim Cúc cùng một vài nhân vật liên quan từng được đề cập trong năm bức thư trên. Biết đâu đôi điểm này lại có khả năng là một trong những “chìa khóa” giúp chúng ta “giải mã” phần nào hành trạng và tác phẩm của Hàn thi sĩ.
    Nhiều người dân Huế hiện tại vẫn còn nhớ Hoàng Thị Kim Cúc ít nhất ở hai cương vị, nhà giáo và nữ cư sĩ.(11) Lật lại các tuyển tập Đồng Khánh mái trường xưa do Ban Liên lạc cựu học sinh Đồng Khánh, Huế, nay là Trường Trung học Phổ thông Hai Bà Trưng, thực hiện từ năm 1992 trở đi, chúng ta bắt gặp những dòng hồi ức của bao thế hệ học trò về “hình ảnh dịu dàng, vóc dáng nhỏ nhắn, vui vẻ ân cần nhưng cũng rất nghiêm khắc của cô Hoàng Thị Kim Cúc, cô giáo đầu đàn của bộ môn nữ công gia chánh thời ấy”(12). Hoàng Thị Kim Cúc cũng là tác giả bộ sách Món ăn nấu lối Huế(13) được nhiều người đọc và áp dụng.
    Thời ấy, nếu Hoàng Thị Kim Cúc đến Trường Đồng Khánh được các nữ sinh kính cẩn thưa “cô”, thì lúc ra đường, Hoàng Thị Kim Cúc thường được nhiều thanh thiếu niên gọi thân tình bằng “chị”. Đó là cách xưng hô phổ biến của mọi đoàn sinh đối với các nữ huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam(14). Chị Cúc là huynh trưởng với chức vụ Phó ban Hướng dẫn Trung ương Gia đình Phật tử Việt Nam, phụ trách ngành nữ từ năm 1947. Như vậy, cư sĩ không chỉ tu tại gia mà còn tích cực hoạt động xã hội.
    Tôi gặp chị Cúc lần đầu tại đồi thông chùa Từ Hiếu (Huế) trong hội trại mang tên Hoài Nhân do Gia đình Phật tử Việt Nam tổ chức năm 1974. Sau đó, chúng tôi đôi lần ghé thăm chị ở nhà riêng tại Vỹ Dạ, mà lần cuối cùng là lúc chị nằm thoi thóp trên giường bệnh sau vụ tai nạn giao thông xảy ra tại TP Hồ Chí Minh ngày 11/8/1988 rồi được chuyển về Huế ngày 23/9/1988. Ngày 3/2/1989, tức 27 tháng Chạp năm Mậu Thìn, Hoàng Thị Kim Cúc - pháp danh Tâm Chánh - lìa trần, hưởng thọ 76 tuổi. Lễ di quan diễn ra ngày 15/2/1989, nhằm ngày mùng 10 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ. Lúc ấy, tôi ở xa Huế nên không dự được. Vậy xin dẫn đoạn tường thuật đám tang Hoàng Thị Kim Cúc do Mai Văn Hoan viết: “Có lẽ đó là một trong những đám tang lớn nhất ở Huế gần đây mà tôi được biết. Đoàn xe tang nối dài từ Đập Đá đến Trường Quốc Học. Quanh xe tang đính nhiều câu đối ca ngợi phẩm hạnh của bà. Tôi còn phát hiện có những bài thơ của các nhà sư họa lại bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ”(15).
    Ngoài ông anh cả là Hoàng Toại định cư ở nước ngoài, Hoàng Thị Kim Cúc còn có mấy người anh ruột tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève 1954: Hoàng Xuân Tùy (nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục), Hoàng Hoan Nghinh (nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Philippines). Người em ruột Hoàng Tế Ngộ ở lại Huế, trước khi quy tiên từng là “thủ từ” trong ngôi nhà mà chị Cúc từng sinh sống.
    Anh em chú bác của Hoàng Thị Kim Cúc có Hoàng Tùng Ngâm vốn là bạn thân cùng nguyên quán Thừa Thiên, cùng tuổi Nhâm Tý (1912) và cùng làm chung Sở Đạc điền Quy Nhơn với Hàn. Năm 1954, Hoàng Tùng Ngâm tập kết ra Bắc, đổi tên là Hoàng Thanh Trai và từng làm đại sứ nước ta tại Ai Cập rồi tại Sri Lanka. Tết Bính Thìn (1976) thì mất ở Hà Nội.(9) Năm 1939, chính nhờ “xúc tác” của Hoàng Tùng Ngâm, Hàn đã hứng khởi sáng tạo một số áng thơ tặng Hoàng Thị Kim Cúc - trong đó có Ở đây thôn Vỹ Dạ, một tác phẩm gây nhiều tranh luận lâu nay.
    Áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ - nhan đề nguyên tác cùng một số lời bình
    Năm 1992, ba cuộc hội thảo lớn được tổ chức ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nhằm nhìn lại và đánh giá 60 năm phong trào Thơ mới. Ban tổ chức đã đề nghị các nhà thơ, nhà nghiên cứu - lý luận - phê bình bỏ phiếu chọn những bài Thơ mới hay nhất. Kết quả cuối cùng, Ở đây thôn Vỹ Dạ của Hàn lọt vào “top 18”.
    Quanh áng thơ nổi tiếng này, lâu nay rộ lên nhiều cuộc tranh luận sôi nổi - nhất là từ khi tác phẩm được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đưa vào giảng dạy chính thức trong chương trình lớp 11 bậc trung học phổ thông. Theo dõi các cuộc tranh luận đó, tôi nhận thấy một số chi tiết bị nhầm lẫn rất đáng buồn. Tại sao? Có nhiều lý do. Hai trong những lý do quan trọng là thiếu thực tế và thiếu tư liệu tham khảo cần thiết.
    Điều nhầm lẫn phổ biến đầu tiên nằm ở… nhan đề bài thơ! Nguyên tác, Hàn viết Ở đây thôn Vỹ Giạ chứ không phải Đây thôn Vỹ Dạ như sách báo - kể cả giáo khoa và giáo trình - vẫn in. Địa danh có thể chỉnh sửa cho thống nhất chính tả: Vỹ Dạ hoặc Vĩ Dạ thay vì Vỹ Giạ(16). Còn chữ Ở hà cớ gì bị lược bỏ? Nếu muốn gọn hóa tối đa, Ở đây thôn Vỹ Dạ rất dễ biến thành Thôn Vỹ chăng?
    Nhà văn Trần Thanh Địch nhận xét:
    - Chữ Ở được Hàn dùng có chủ đích. Đọc kỹ bài thơ mới thấy chữ đó nhấn mạnh đến thôn Vỹ: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh. Tùy tiện “biên tập” cả “titre” mà không được tác giả ưng thuận là tối kỵ. Chuyện như vậy xảy ra không ít đối với tác phẩm của Hàn! Như bài Sao, vàng sao - một bài thơ khác mà Hàn gởi tặng chị Cúc - lâu nay cứ bị “chụp” cái tên Đừng cho lòng bay xa.
    Cả hai áng thơ vừa nhắc đều được Hàn Mạc Tử đưa vào tập Thượng thanh khí, chứ chẳng phải tập Thơ điên (tức Đau thương). Đây là một nhầm lẫn khác mà đa số tuyển thơ cùng nhiều bài viết vẫn mắc phải.
    Trong cuốn Thơ Hàn Mạc Tử và những lời bình(17), Mã Giang Lân lại cho rằng "Ở đây thôn Vỹ Dạ" vốn in lần đầu trên giai phẩm Nắng Xuân năm 1937. Hỡi ôi! Bài thơ được hoàn tất năm 1939, liệu có thể công bố trước hai năm chăng?
    Thậm chí có người, như Vũ Quần Phương qua lời tựa tập Hàn Mặc Tử - thơ với tuổi thơ(18), nghĩ rằng áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ mang vẻ đẹp “trong trẻo” và thể hiện bằng giọng điệu “bình tĩnh” nên tin chắc đây là một sáng tác thuộc giai đoạn đầu của Hàn, giai đoạn thân chưa phát bệnh và thơ chưa phát “điên”. Thật ra, Hàn lúc này đang đau khổ lánh mình với nguồn thơ úa mãi hai hàng lệ(19) rồi lâm chung sau đấy đúng một năm tròn!
    Hiểu rõ xuất xứ cùng hoàn cảnh sáng tạo tác phẩm, ắt sẽ góp phần giúp bạn đọc tiếp nhận bài thơ theo cách đúng đắn hơn, chuẩn xác hơn. Do đó, tôi sao lục thêm ba đoạn thư liên quan do chính người trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc giãi bày.
    Thư đề ngày 15/4/1971 gởi Quách Tấn: “Về cô gái trong câu Lá trúc che ngang mặt chữ điền mà ông hỏi có phải là tôi đó không. Thưa ông, bức ảnh đó chỉ là bức ảnh phong cảnh, không có cô gái nào khác ngoài cô gái chèo đò. Cô gái mà ông hỏi đó là do sức tưởng tượng của thi nhân mà hiện ra thôi. Số là mùa hè năm 1939, Ngâm viết thư về Huế cho biết Tử bị mắc bệnh nan y. Ngâm khuyên tôi nên viết thư thăm Tử, hãy an ủi một tâm hồn đau khổ. Thay vì viết thư thăm, tôi gởi một bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte-visite(20). Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử, mà không ký tên, rồi gởi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ và một bài thơ khác nữa(21) cũng do Ngâm gởi về (bài này các sách báo đều đăng cả rồi). Không ngờ sức tưởng tượng của thi nhân quá khác thường đến biến bức ảnh phong cảnh đó thành bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông hay một đêm trăng, trong đó có cô gái Lá trúc che ngang mặt chữ điền nữa! Khiến có người đã nghĩ rằng cô gái đó mặc áo trắng dài tha thướt vì câu Áo em trắng quá nhìn không ra…”.
    Thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín: “Năm 1938, Ngâm cho biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh nan y. (…) Xiết bao ngậm ngùi thương cảm. Thương cho người tài hoa lâm đại nạn! Cảm tấm lòng yêu thương thắm thiết chân thành của Tử đã dành riêng cho tôi! Một thời gian sau, Ngâm đề nghị: lúc này, chị nên an ủi Trí. (…) Xa xôi quá, không biết làm gì khác hơn là viết mấy hàng chữ hỏi thăm sức khỏe Tử, viết mà không chữ ký, không đề ngày, sau tấm ảnh phong cảnh Huế, gởi nhờ Ngâm trao lại. Rồi mấy tháng sau, Ngâm gởi về cho tôi bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ với mấy hàng chữ sau lưng bài thơ vào tháng 8/1939. Giữa Hàn Mặc Tử và tôi chỉ có chừng nấy.”
    Thư đề ngày 11/5/1988 gởi anh cả Hoàng Toại: “Đến khi nghe anh ta(22) mắc bệnh nan y, em rất xót thương cho người tài hoa bạc phận và để an ủi một tâm hồn tha thiết yêu thương đang vô cùng đau khổ, em gởi cho anh ta hai dòng chữ hỏi thăm sức khỏe viết trên một tấm cát 6x9(23) phong cảnh thành phố Huế, ảnh mua ở nhà chụp bóng Tăng Vinh. Sau khi nhận được bức phong cảnh đó thì anh ta gởi bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ tặng em. Thư đi thư về đều qua tay Ngâm chuyển, chứ em không trực tiếp gởi. Và sau mấy hàng chữ thăm sức khỏe và sau khi nhận được bài thơ Hàn Mạc Tử tặng, em cũng nín luôn, không thư từ gì cho thi sĩ nữa, qua năm sau (1940) thì được tin Hàn Mạc Tử mất tại Quy Hòa”.
    Áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ cùng bức thư của Hàn đã được Hoàng Thị Kim Cúc trân trọng giữ gìn tại nhà riêng. Đó là tờ giấy pelure mỏng, một mặt chép bài thơ, mặt kia ghi mấy dòng thư. Rất may mắn được chị Cúc lúc sinh tiền cho xem tận mắt, tôi chú ý mấy điểm: bài thơ gồm 3 khổ thì khổ cuối trong thủ bản nằm cách biệt với hai khổ đầu, cuối bài thơ, tác giả ký Hàn Mạc Tử rồi đề 11-1939 (chứ không phải 8-1939).
    Còn bức thư thì nguyên văn như sau:
    Túc hạ,
    Có nhận được bức ảnh bến Vỹ Giạ lúc hừng đông (hay là một đêm trăng?) với mấy hàng chữ túc hạ gởi thăm. Muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ đến người năm xưa, thế là phúc hậu lắm rồi. Mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy. Và mong rằng một mùa xuân nào đây sẽ gặp lại túc hạ phỉ dạ. Thăm túc hạ bình an vui vẻ.
    Hàn Mạc Tử 
    Hoàng Thị Kim Cúc với bút danh Hoàng Hoa đã âm thầm sáng tác một số bài thơ, trong đó có những bài “đề tặng hương hồn anh HMT” như bài dưới đây viết vào đầu xuân Tân Tỵ 1941 - nghĩa là sau khi Hàn mất chưa đầy năm.
    Bao năm hoa sống nơi thôn Vỹ
    Thầm giữ trong lòng một ý thơ
    Cũng biết cách xa ngoài vạn dặm
    Tình anh lưu luyến cảnh quê mơ
    Một mình một cõi với trời mây
    Với cả đau thương với hận này
    Anh khéo lột hết tài nghệ sĩ
    Tiếng vang muôn thuở vẫn còn đây
    Hồn anh lẩn khuất ở đâu xa
    Hoa biết cùng ai thổ lộ ra
    Tuy sống giữa cảnh đời náo nhiệt
    Tình ai ai vẫn cứ đậm đà!

    Nếu chỉ đọc qua bài thơ của Hoàng Hoa thôn nữ, lại thấy nàng suốt đời độc thân và bảo lưu kỹ lưỡng thủ bút Hàn thi sĩ, mà chưa đọc thư từ Hoàng Hoa viết hoặc chưa nghe Hoàng Hoa bộc bạch niềm riêng, hẳn không ít người sẽ dễ tin chuyện tình Hàn Mạc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc từng diễn ra “ly kỳ mùi mẫn” y như sách báo và tuồng tích đã dày công… thêu dệt. Mức độ ngộ nhận càng tăng vì ngay cả người nhà cũng chẳng thấy Hoàng Thị Kim Cúc phản ứng gì trước bao đồn thổi, thị phi.
    Chính xác, như chúng ta đã biết, Hoàng Thị Kim Cúc có phản ứng chừng mực, đúng người, đúng lúc, song chẳng đạt kết quả như nguyện. Trong một bài viết đăng trên tuần báo Văn nghệ số ra ngày 14/10/1995, Võ Đình Cường lý giải kỹ càng: “Những người có liên hệ mật thiết với Hàn Mạc Tử mà chị(24) đã cho biết sự thật, và yêu cầu họ đính chính, thì họ đã không làm, hay làm ngược lại, gây thêm hỏa mù trong bối cảnh đã có nhiều  sương khói làm mờ nhân ảnh.
    Chẳng hạn như ông Nguyễn Bá Tín, tác giả cuốn hồi ký Hàn Mạc Tử anh tôi(25) xuất bản vào tháng 2/1991, sau bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc gởi cho ông vào tháng 10/1987, nghĩa là sau gần 4 năm, nói rõ về tấm ảnh gởi Hàn Mạc Tử, là một tấm ảnh phong cảnh, thế mà ông Nguyễn Bá Tín lại viết: ‘Cho tới khi anh(22) đau nặng rồi (1939), chị Cúc còn cho anh một phiến ảnh cỡ 6x9(23): chị Cúc mặc áo dài lụa trắng như những cô gái Huế thời bấy giờ đứng trong vòm cây xanh mát. Anh làm ngay bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ.
    Quan trọng hơn nữa, cái đoạn chị Kim Cúc kể chuyện chị đã không nhận thư và sách của Hàn Mạc Tử đem tặng, tác giả Hàn Mạc Tử anh tôi đã bỏ qua, không nhắc đến. Nhưng tác giả lại viết: ‘Nếu anh(22) biết chị(24) đã quy y, dành riêng một căn phòng ngày đêm hương hỏa tụng niệm, tưởng nhớ mối tình bất diệt của anh mà cũng là mối tình đầu của chị, đang quyện theo trầm hương dâng lên anh nơi miền cực lạc. Nơi đây không còn ngăn cách giáo lương, không còn tham sân si trần tục. Ôi! Tình Hoàng Hoa đậm đà biết chừng nào!’ (…) Chị Kim Cúc có buồn không, khi bị người ta vô tình hay cố ý lái cái mục đích cao quý trong sự tu hành của chị về phía tôn thờ một người khác tôn giáo mà chị chỉ có thể có cảm tình, chứ không yêu?”.
    Phân tích nội dung và nghệ thuật áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ, đã thấy xuất hiện khối trường hợp “bàn rồi tính” nối tiếp “bình rồi… tán” đến mức ì xèo! Ngang qua nhà Hoàng Thị Kim Cúc ở Vỹ Dạ, thấy hàng cau trồng nép bờ rào, có người chắc mẩm dòng Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên phải “mọc” từ đây! Hồi trước, vào vườn nhà chị Cúc, chúng tôi chưa thấy cây cau nào. Ông Nguyễn Bá Tín cũng ghi trong Hàn Mạc Tử trong riêng tư(26) rằng: “Năm 1985, tôi về Huế ghé thăm chị Cúc (…), chị Cúc chợt hỏi: Cậu có tìm được một cây cau nào trong vườn tôi không? Sao anh Trí lại nói đến hàng cau?”.
    Công bố bài Một cách hiểu khác về “ mặt chữ điền”(27), Thang Ngọc Pho lại tự bộc lộ chưa một lần về thôn Vỹ hoặc ghé Vỹ thôn nhưng thiếu quan sát đủ đầy mà vẫn bạo dạn khẳng quyết: “Mặt trước phía trên cổng nhà ở của quý tộc phong kiến ở đây(28) thường trang trí chữ điền đắp nổi. Điền, chữ Hán, có nghĩa là ruộng. Đó là biểu tượng của các gia đình quý tộc phong kiến, được nhà vua phong cấp ruộng đất theo cấp bậc và công trạng. Từ "mặt" trong câu thơ là "mặt chữ " chứ không phải là mặt người. Tác giả sử dụng phép ẩn dụ với nghĩa phái sinh như mặt bàn, mặt nước, mặt đường… Vậy câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ điền được hiểu là những chữ điền trên cổng các nhà quý tộc thấp thoáng dưới lá trúc. Cách hiểu này làm tăng giá trị của bài thơ.”
    Thú thật, bản thân tôi từng sống ở Vỹ Dạ suốt thời gian dài mà không thấy cổng nhà quý tộc nào đắp nổi chữ 田 điền. Thêm một thực tế nữa cần nêu, Hoàng Thị Kim Cúc là phụ nữ có khuôn mặt chữ điền.
    Quá quắt hơn là trường hợp suy diễn chủ quan cực kỳ kệch cỡm: cô gái thôn Vỹ trở thành… kỹ nữ, khách đường xa biến ra khách làng chơi, thuyền ai đậu bến sông trăng trở nên buồng chứa nổi. Bằng lối gán ghép thô vụng như thế, Lê Đình Mai đã “phán” xanh rờn trong bài Đây thôn Vỹ Dạ - một tiếng thở dài đáng quý(29): “Ở chốn dâm ô này, những gì đẹp đẽ nhất, cao quý nhất của con người đều bị sương khói truy hoan lu mờ hết, hoen ố hết.” Nhiều tác giả đã lên tiếng phản bác cách lập luận khiên cưỡng đó. Chẳng ai phủ nhận trên dòng sông Hương xưa nay xuất hiện những điểm kinh doanh trò “ngủ đò tục”, quá khứ có lúc gần như công khai(30), song đoạn sông qua khu vực thôn Vỹ thì hoàn toàn khác.
    Trên tập san Văn hóa và đời sống(31), đề cập đến sự hạn chế trong một số bài viết về áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ xuất hiện bấy lâu nay, Văn Tâm sơ bộ chỉ ra bốn nguyên nhân: thứ nhất là thói quen xã hội học dung tục; thứ hai là người nghiên cứu không am tường phong cách nghệ thuật của đối tượng mà mình tìm hiểu; thứ ba là mỹ cảm kém nhạy bén; thứ tư là thái độ tùy tiện, thiếu nghiêm túc trong khâu xác định và khảo chứng tư liệu.

    CHÚ THÍCH
    * Nhà báo, Tuần san Thế giới mới

    (1)    Nguyễn Trọng Trí (1912-1940) ký nhiều bút danh, trong đó có Hàn Mạc Tử và Hàn Mặc Tử. Khảo sát kỹ lưỡng, nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy bút danh chính thức của Nguyễn Trọng Trí những năm cuối đời là Hàn Mạc Tử. Điều ấy đã được Phanxipăng trình bày rõ qua bài “Chính danh định luận: Mạc hay Mặc?” đăng trên tạp chí Thế giới mới số 416 (11/12/2000).

    (2)    Pellerin hay còn gọi là Trường Bình Linh, thuộc dòng La San, được sáng lập tại Huế năm 1904, giảng dạy từ bậc tiểu học đến trung học (tương đương lớp 1 đến lớp 12 hiện nay). Từ năm 2008, đó là Học viện Âm nhạc Huế, địa chỉ số 1 Lê Lợi, thành phố Huế.

    (3)    Hai niên khóa 1928-1929 và 1929-1930, tại Trường Pellerin ở Huế, Nguyễn Trọng Trí học lớp nhì năm thứ 2 / cour moyen 2è année (tương đương lớp 4 hiện nay) và lớp nhất / cour supérieur (tương đương lớp 5 hiện nay) là hai lớp thuộc bậc tiểu học - theo sự phân cấp giáo dục trên toàn quốc từ năm 1906 đến năm 1945 - chứ hoàn toàn không phải “có hai năm học trung học tại trường Pe-lơ-ranh (Pellerin) ở Huế? như sách giáo khoa hiện hành Ngữ văn 11 (Tập hai - Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, 2008 và 2009 - Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010) đã in đi in lại.

    (4)    Bài Đôi nét về Hàn Mạc Tử được Quách Tấn (1910-1992) viết tại Nha Trang năm 1959, đăng tạp chí Lành mạnh số 38 (Huế, 1/11/1959), rồi lần lượt đăng lại trên tập san Văn và bán nguyệt san Phổ thông, đoạn in vào một số sách như Thơ Hàn Mạc Tử (Sở Văn hóa-Thông tin Nghĩa Bình, 1987), Hàn Mạc Tử thơ và đời (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995), Hàn Mạc Tử hôm qua và hôm nay (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995), v.v... Lưu ý rằng nội dung văn bản Đôi nét về Hàn Mạc Tử có những thay đổi qua thời gian công bố.

    (5)    Hiện nay là đường Lê Lợi, thành phố Quy Nhơn.

    (6)    Vở tuồng cải lương Hàn Mạc Tử do Viễn Châu và Thể Hà Vân hợp soạn năm 1957.

    (7)    21 tuổi ta, 20 tuổi tây, tức là vào năm 1933.

    (8)    Bên đó: Hoa Kỳ.

    (9)    Tham khảo thêm bài “Bạn thân đồng tuế đồng hương của Hàn Mạc Tử" do Phanxipăng viết đăng tạp chí Thế giới mới số 891 (5/7/2010).

    (10)    Sách Hàn Mạc Tử của Trần Thanh Mại, in lần đầu năm 1942, sau được tái bản nhiều lần.

    (11)    Cư sĩ: người tu trì tại gia.

    (12)    Trích bài viết “Nhớ cô Hoàng Kim Cúc” của Võ Thị Tiểu Kiều in trong tuyển tập Đồng Khánh mái trường xưa năm 1992.

    (13)    Do nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn ấn hành lần đầu năm 1970, sau được nhiều nhà xuất bản tái bản.

    (14)    Gia đnh Phật tử có tiền thân là Đoàn Thanh niên Đức dục và Gia đnh Phật hóa phổ được thành lập tại Huế vào thập niên 1930.

    (15)    Trích bài “Tiếng thở dài - chia sẻ với Hàn Mạc Tử” đăng tạp chí Sông Hương số 2 năm 1990, sau in vào sách Cảm nhận thơ Hàn Mạc Tử (Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999).

    (16)    Địa danh Vỹ Dạ do biến âm từ gốc Vĩ (Vi) Dã 葦野°. Vĩ (Vi) 葦: cây lau.  野°: cánh đồng.

    (17)    Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000, trang 283.

    (18)    Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2000, trang 5.

    (19)    Trích một dòng từ bài thơ “Buồn ở đây” trong tập Thượng thanh khí của Hàn Mạc Tử.

    (20)    Carte-visite: carte de visite: danh thiếp.

    (21)    Bài thơ Sao, vàng sao.

    (22)    Tức Hàn Mạc Tử.

    (23)    6x9cm.

    (24)    Chỉ Hoàng Thị Kim Cúc.

    (25)    Nxb Tin, Paris, 1990 - Nxb TP HCM, 1991.

    (26)    Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1994, trang 118.

    (27)    Tạp chí Tài hoa trẻ, số 69 ra ngày 25/2/1999.

    (28)    Vỹ Dạ.

    (29)    Báo Giáo viên nhân dân, số đặc biệt tháng 1/1990.

    (30)    Có thể đọc phần Những con đò đưa khách trong bài “Sinh hoạt những vạn đò trên sông Hương trước 1975” của Phan Hoàng Quý đăng trên Nghiên cứu Huế, tập 1,1999 và phóng sự “Ngủ đò sông Hương” in trong sách Huế chừ của Phanxipăng (Nxb Thanh niên, 2000).

    (31)    Nxb TP HCM, 1990.

    Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2016

    Hà Nội tổng kiểm tra phương tiện giao thông hết hạn sử dụng

    Hà Nội tổng kiểm tra phương tiện giao thông hết hạn sử dụng

    (Copy từ http://www.tienphong.vn/nhip-song-thu-do/ha-noi-tong-kiem-tra-phuong-tien-giao-thong-het-han-su-dung-1064787.tpo; tác giả: Hà Thành; đăng ngày 21-10-16.)
    TPO - Ngày 19/10/16, Văn phòng UBND thành phố Hà Nội ban hành văn bản yêu cầu các Sở: GTVT, Thông tin và Truyền thông, Công an Thành phố, Ban An toàn Giao thông thành phố Hà Nội kiểm tra, xử lý phương tiện giao thông đường bộ hết niên hạn sử dụng, quá hạn kiểm định.

    Hà Nội chỉ đạo các đơn vị ra quân kiểm tra, xử lý các phương tiện giao thông đường bộ đã quá niên hạn sử dụng
    Hà Nội chỉ đạo các đơn vị ra quân kiểm tra, xử lý các phương tiện giao thông đường bộ đã quá niên hạn sử dụng
    Văn bản 9744/VP-ĐT của UBND thành phố Hà Nội nêu rõ giao Sở GTVT chủ trì, phối hợp với Ban An toàn Giao thông thành phố, Sở TT&TT, Công an Thành phố và các cơ quan liên quan nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc xử lý phương tiện giao thông đường bộ hết niên hạn sử dụng, quá hạn kiểm định trên toàn quốc.
    Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 5/10/2016, về việc xử lý phương tiện giao thông đường bộ hết niên hạn sử dụng, quá hạn kiểm định yêu cầu: UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương tổng kiểm tra, rà soát, thống kê danh sách các phương tiện hết niên hạn sử dụng, quá hạn kiểm định; có phương án cụ thể xử lý theo đúng quy định pháp luật.
    Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục, cơ chế chính sách để người dân, doanh nghiệp chủ động thông báo, giao nộp các phương tiện đã hết niên hạn sử dụng.
    Tổ chức tuần tra, kiểm soát trên các tuyến giao thông của địa phương, chú trọng khu vực ngoại thành, nông thôn; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật đối với chủ xe, lái xe điều khiển phương tiện hết niên hạn sử dụng, quá hạn kiểm định tham gia giao thông. Công khai số lượng, biển kiểm soát xe hết niên hạn sử dung, quá hạn kiểm định trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương.
    Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp tự nguyện giao nộp giấy chứng nhận đăng ký, giấy chứng nhận kiểm định, biển kiểm soát phương tiện hết niên hạn sử dụng; thực hiện kiểm định phương tiện theo đúng quy định pháp luật; chủ động, phát hiện, thông báo tới cơ quan chức năng phương tiện hết niên hạn sử dụng, quá hạn kiểm định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; khuyến cáo doanh nghiệp, người dân không mua, bán, trao đổi các phương tiện đã hết niên hạn sử dụng để tham gia giao thông.
    Gắn trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan trong việc xử lý tình trạng xe hết niên hạn sử dụng trên địa bàn; xử lý trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra tình trạng phương tiện hết niên hạn sử dụng, quá hạn kiểm định tham gia giao thông gây tai nạn.

    Thứ Năm, 20 tháng 10, 2016

    Pháp muốn đồng hành với Việt Nam hiện đại hoá vũ khí quân sự

    Pháp muốn đồng hành với Việt Nam hiện đại hoá vũ khí quân sự

    ( Copy từ http://laodong.com.vn/the-gioi/phap-muon-dong-hanh-voi-viet-nam-hien-dai-hoa-vu-khi-quan-su-603144.bld ; tác giả: Vân Anh; đăng ngày 20 th10-16.)
    Hợp tác phát triển kinh tế, chống biến đổi khí hậu, hợp tác quốc phòng và đưa nước Pháp đến gần hơn với thanh niên Việt Nam là 4 trọng tâm ưu tiên mà tân Đại sứ Pháp Bertrand Lortholary xác định trong nhiệm kỳ công tác của ông tại Việt Nam.
    Đại sứ Pháp tại Việt Nam Bertrand Lortholary.
    Tại cuộc họp báo ngày 20.10.16, Đại sứ Lortholary khẳng định, quan hệ lịch sử Việt - Pháp vừa lâu đời, vừa phát triển mạnh mẽ. "Quan hệ song phương mang tính đặc biệt, khó có mối quan hệ nào so sánh được, kể cả ở khu vực lẫn thế giới" - Đại sứ Lortholary nói.
    Để tiếp tục phát triển quan hệ đối tác chiến lược Việt - Pháp, được xác lập từ năm 2013, Pháp muốn đẩy mạnh hợp tác kinh tế với Việt Nam ngang tầm mối quan hệ tốt đẹp và có chiều sâu Việt - Pháp. Pháp có trình độ công nghệ có thể đáp ứng được nhu cầu của Việt Nam về công nghiệp hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế. Ngược lại, Pháp cũng mong muốn nhiều doanh nghiệp Việt Nam sang làm ăn tại Pháp để phát triển quan hệ đối tác hai chiều.
    Nhắc đến dự án xây dựng metro ở Hà Nội, Đại sứ Lortholary cho biết, một số gói thầu nhỏ của dự án này đã được triển khai trên công trường. Hai bên đang thương thảo và hy vọng sẽ sớm ký kết một số hợp đồng lớn như cung cấp đầu máy toa xe và hệ thống thông tin tín hiệu.
    Về chống biến đổi khí hậu, Đại sứ Lortholary nói rằng Pháp có những doanh nghiệp công nghệ hàng đầu sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam để xử lý những vấn đề biến đổi khí hậu. Trong thời gian tới, công ty giám sát chất lượng không khí của Paris là Airparif dự kiến sẽ ký hợp đồng cung cấp dịch vụ với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội để triển khai dự án giám sát không khí ở thủ đô, đồng thời khuyến nghị chính sách công để cải thiện tình hình.
    Hợp tác quốc phòng cũng là một trong 4 trọng tâm ưu tiên trong nhiệm kỳ của Đại sứ Lortholary. Ông khẳng định, Pháp mong muốn đồng hành với Quân đội nhân dân Việt Nam trong quá trình hiện đại hoá trang thiết bị, đẩy mạnh giao lưu, đào tạo quốc phòng và ủng hộ Việt Nam tham gia Lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc. Hiện hai bên đang trao đổi một số dự án hợp tác và Đại sứ Lortholary hy vọng sẽ có kết quả trong thời gian tới.
    Ngoài những lĩnh vực trên, điều mà Pháp quan tâm là muốn gần gũi hơn với thanh niên Việt Nam, mà như Đại sứ Lortholary nói là "ươm những mầm cây" để phát triển quan hệ trong tương lai. Ông ví ưu tiên này như "tên lửa nhiều tầng", hướng đến nhiều cấp, từ học sinh phổ thông đến sinh viên đại học, và gắn đào tạo với doanh nghiệp và cơ hội việc làm. Đại sứ Lortholary mong muốn học sinh, sinh viên Việt Nam chọn Pháp là điểm đến, "trước hết là sự lựa chọn của trái tim, vì Pháp là kinh đô văn hoá, ẩm thực; nhưng đồng thời cũng là sự lựa chọn của lý trí, vì Pháp có nền giáo dục đại học thực sự rất tốt".
    Đại sứ Lortholary nhận nhiệm kỳ mới ở Việt Nam chỉ vài ngày sau chuyến thăm của Tổng thống Francois Hollande. Ông bày tỏ, sự lựa chọn Việt Nam không phải là ngẫu nhiên, đồng thời tiết lộ mục tiêu của ông trong nhiệm kỳ này "vừa khiêm nhường, vừa tham vọng". Ông cho biết sẽ học tiếng Việt để hiểu thêm về đất nước và con người Việt Nam.