Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2017

Nhìn lại Tự Lực Văn Đoàn

Nhìn lại Tự Lực Văn Đoàn
Copy từ https://tuoitre.vn/nhin-lai-tu-luc-van-doan-516585.htm , tác giả: L.Đ., đã đăng ngày 19/10/2012 06:20.
TT - Hội thảo khoa học Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự Lực Văn Đoàn - 80 năm nhìn lại do Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM, khoa văn học và ngôn ngữ Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, tạp chí Thế Giới Mới đồng tổ chức sẽ diễn ra vào sáng 20-10-12 tại ĐH Sư phạm TP.HCM.
Thủ bút của Vũ Đình Liên chép bài Ông đồ sáng tác năm 1936 và ba bài tiếp theo, hình thành “Bản hợp xướng Ông đồ”. Bản thủ bút sẽ được trưng bày cùng các sách quý hiếm bên lề hội thảo - Ảnh: V.H.T.
Đây là hội thảo quy mô, tập hợp tham luận của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ, cán bộ giảng dạy trong cả nước để làm rõ và chia sẻ cũng như khẳng định những đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn ở hai mảng lớn: văn xuôi và phong trào Thơ mới.
Bên lề hội thảo, cùng ngày tại Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, các nhà sưu tập sách quý hiếm tại TP.HCM cùng tổ chức một triển lãm với hơn 100 đầu sách đoạt giải Tự Lực Văn Đoàn và của nhóm tác giả Tự Lực Văn Đoàn được in lần đầu (trước năm 1945), nhiều quyển trong số đó đã trở nên quý hiếm như: Bùn lầy nước đọng (Hoàng Đạo, 1938), Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam, 1943), Giai phẩm Đời Nay (1943), Vàng và máu (Thế Lữ, 1934), Thi nhân Việt Nam in lần đầu 1942, Thơ thơ (Xuân Diệu, 1938), Lửa thiêng (Huy Cận, 1940), Mây (Vũ Hoàng Chương, 1943), Huế đẹp và thơ (Nam Trân, 1939), Đời mưa gió (Nhất Linh và Khái Hưng, 1935), Đầy vơi (Tchya, 1943)...
L.Đ.
Awakening
Các tác giả Tự Lực Văn Đoàn đã giúp tôi và vài bạn đồng trang lứa biết thế nào là thiên nhiên tươi đẹp. Ảnh minh họa: Awakening của tác giả Karsten Gleselmann trên flickr.
Des couleurs qui nous chantent au coeur

Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2016

Sự thật về mối tình Hàn Mạc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc và bài thơ "Ở đây thôn Vỹ Dạ"

Sự thật về mối tình Hàn Mạc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc và bài thơ "Ở đây thôn Vỹ Dạ"
(Copy từ http://tiasang.com.vn/-van-hoa/su-that-ve-moi-tinh-han-mac-tu-hoang-thi-kim-cuc-va-bai-tho-o-day-thon-vy-da-3584 ; đã đăng ngày 22/10/2010  lúc 09:23.)
Lâu nay, khá đông người cho rằng thi sĩ Hàn Mạc Tử và nhà giáo kiêm cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc từng có một tình yêu đôi lứa. Lắm sách báo ghi nhận như vậy. Ngay cả lối sống khá đặc biệt của Kim Cúc - suốt đời độc thân, làm thơ tặng Hàn, chẳng chuyện trò điều này với người trong nhà... - càng khiến dư luận nghĩ vậy. Với Kim Cúc, Hàn từng gửi thư và hai áng thơ mà thiên hạ lưu truyền với nhan đề Đây thôn Vỹ Dạ và Đừng cho lòng bay xa. Nhưng bằng hệ thống tư liệu phong phú và xác thực, tác giả Phanxipăng chứng minh rằng Hàn yêu đơn phương Kim Cúc, đồng thời khẳng định nhan đề chính xác hai áng thơ kia là  "Ở đây thôn Vỹ Dạ" và  "Sao, vàng sao".
Giai đoạn 1928-1930, Nguyễn Trọng Trí - sau trở thành nhà thơ Hàn Mạc Tử(1) - về Huế nội trú tại trường Pellerin(2) để dùi mài đèn sách hai niên khóa cuối bậc tiểu học (3). Sau khi đỗ kỳ thi tiểu học yếu lược vào tháng 6/1930, Nguyễn Trọng Trí được cấp bằng Certificat d’études primaires franco-idigènes/Pháp Việt sơ học văn bằng ngày 26/12/1930. Kế đó, Nguyễn Trọng Trí vào phố biển Quy Nhơn, sống cùng gia đình. Năm 1932, chàng xin làm tập sự tại Phòng Địa chính Quy Nhơn trực thuộc Sở Địa chính tỉnh Bình Định - cơ quan được dân gian thuở bấy giờ quen gọi là Sở Đạc điền. Nguyễn Trọng Trí được phân công làm thư ký công nhật ở bộ phận bảo tồn điền trạch. 

Soạn Đôi nét về Hàn Mạc Tử(4), Quách Tấn ghi nhận: “Khi Tử làm Sở Đạc điền Quy Nhơn, Tử có yêu một thiếu nữ ở cùng một con đường - đường Khải Định(5) - biệt hiệu là Hoàng Cúc.Hàn Mạc Tử - Hoàng Hoa: tình đơn phương
Nàng mang họ tên đầy đủ là Hoàng Thị Kim Cúc, ái nữ của Tham tá Hoàng Phùng - thuở nọ đảm trách chức vụ Giám đốc Sở Đạc điền Quy Nhơn. Với nguồn tư liệu hiện thời, tôi chưa hề thấy Hoàng Thị Kim Cúc mang biệt hiệu Hoàng Cúc bao giờ cả. Biệt hiệu của nàng là Hoàng Hoa. Có lẽ bắt nguồn từ những câu thơ Hàn viết thuở tương tư nàng. Như bài tứ tuyệt Hoa cúc:
Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa,
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha.
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc,
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.
Hoặc rõ rệt hơn là trong bài Sao, vàng sao - bấy nay lưu hành dưới nhan đề không đúng bản gốc là Đừng cho lòng bay xa - mà Hàn từng gởi “tiểu thư khuê các”:
Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía,
Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây,
Hương ân tình cho kết lại thành dây,
Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu
Sinh thời, Hoàng Thị Kim Cúc thỉnh thoảng cũng sáng tác thơ và ký bút danh Hoàng Hoa, hoặc Hoàng Hoa thôn nữ, hoặc H.H.
Hoàng Thị Kim Cúc chào đời ngày 5/12/1913 nhằm mùng 8/11 năm Quý Sửu. Hàn Mạc Tử chào đời ngày 22/9/1912 nhằm ngày 12/8 năm Nhâm Tý 1912. Khoảng cách tuổi tác như thế, theo quan niệm dân gian quả rất xứng đôi vừa lứa: “Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một”. Lứa thì vừa đấy, song chàng với nàng chẳng hề “đôi lứa xứng đôi” - dẫu chỉ xứng đôi trên tình trường như nhiều người bấy lâu ngộ nhận. Sự nhầm tưởng kia, trớ trêu thay, lại xuất phát từ những hồi ký do thân bằng quyến thuộc của Hàn viết và công bố sau khi Hàn mất!
Để bạn đọc tiện khám phá sự thật vấn đề, tôi xin sao lục mấy lá thư của chính người trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc.
Thư đề ngày 13/3/1971 gởi Quách Tấn: “Hồi đó Tử thường đến chơi với Hoàng Tùng Ngâm là em chú bác với tôi. Bạn Ngâm đông lắm. Trong gia đình tôi, không ai để ý đến bạn của Ngâm. Câu chuyện tâm tình của Tử, trừ Ngâm ra, cũng không ai biết. Tôi được biết trước khi thầy tôi sắp về hưu, do một người bạn khác nói lại, chứ không phải Ngâm.”
Thư đề ngày 15/4/1971 gởi Quách Tấn: “Hồi ấy tuy nhà Tử ở gần tôi, song Tử và tôi cách xa nhau như hai ngọn núi, Tử thì kín đáo và bẽn lẽn như con gái, còn tôi thì bí mật và xa lạ như cung trăng! Tuy thế Tử cũng đã tìm cách để gặp, nhưng rồi vẫn cũng chưa toại nguyện (…). Năm 1936, khi Tử ở Sài Gòn về Quy Nhơn, tôi vẫn còn ở Quy Nhơn đến mấy tháng sau mới về Huế.”
Thư đề ngày 15/10/1971 gởi Quách Tấn: “Về tuồng cải lương(6) thì tôi được biết do đoàn Dạ Lý Hương đóng vào đầu năm 1970 (hồi đó tôi vào Sài Gòn được nghe nhiều người kể lại, trong đó có bác sĩ Lê Khắc Quyến kể nữa) và lần lượt đã trình diễn trên tivi khoảng mấy tháng sau tại các tỉnh miền Trung. Họ đã diễn tả đúng đoạn văn của ông trong tập Văn số 73 trang 93. Nghĩa là họ diễn đoạn Tử nhờ người đến cầu hôn bị ông bà thân nhà gái từ chối, hất hủi, vì lẽ Tử không xứng mặt đồng sàng! Cô Cúc không có trong vở tuồng, không xuất hiện trên sân khấu, chỉ có ông bà thân của cô và Tử thôi. Ông bà đã lột hết tài nghệ phơi bày rõ rệt tâm địa của con người chỉ biết tiền, ham danh vọng, khinh miệt người, hống hách… Như vậy, ông đã thấy rõ, vì động chạm sai lạc đến thầy mẹ tôi và Tử nên tôi mới lên tiếng, chứ không phải vì tôi!”

Thủ bút Hoàng Thị Kim Cúc trong thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín.
Thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín - em ruột Hàn: “Vào đầu năm 1936, sau khi ông trợ Cát là cậu tôi ghé nhà chơi, lúc ra về bỏ quên thư của Tử gởi cho cậu tôi mà nội dung chỉ nói về chuyện tâm tình của Tử. Tử có tới gặp tôi 2 lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai, Tử mạnh dạn trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ Bâng khuâng với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận thư (…). Gần cuối năm 1936, khi Tử về dự hội chợ Huế, mang theo một xấp Gái quê vừa in xong, có gặp tôi cùng đi với anh em tôi trong hội chợ. Tử đưa tặng anh em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi mà chỉ yên lặng nhìn! Mấy hôm sau, Ngâm cho biết: Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn vô, rồi từ đó chúng tôi không gặp nhau, lại không thư từ, thăm viếng, hứa hẹn, mỗi người một ngả, cách xa nhau như hai ngọn núi (…). Nếu không có bức thư ông trợ Cát để quên ở nhà tôi thì có lẽ tôi vẫn dửng dưng vô sự. Và Ngâm cũng không nói gì với tôi về mối tình của Tử. Ngâm thấy không thể giấu được nên mới kể đại khái rằng: ‘Trí nó cảm chị lâu rồi, từ hôm chị bán gian hàng ở hội chợ của Tòa sứ Quy Nhơn tổ chức (…). Trí đã nhờ Ngâm đưa thư cho chị, Ngâm không đưa. Trí nhờ nói với chị về nỗi lòng, Ngâm từ chối. Trí làm thơ tặng chị đăng trong báo Phụ nữ tân văn, Ngâm cắt mấy bài thơ rồi mới đưa báo cho chị (…). Thật tội cho thằng Trí! Nó kể cho em nghe nhiều nhiều, mà Ngâm đâu có nói gì với chị, vì Ngâm không muốn làm bận rộn tâm trí chị, khi thấy chị chưa nghĩ gì về chuyện yêu đương!’. Thật thế, lúc đó tôi đã 21 tuổi rồi(7) mà sao còn quá ngơ ngác!”
Thư đề ngày 11/5/1988 gởi Hoàng Toại - anh cả của Hoàng Thị Kim Cúc: “Lâu nay em chưa có dịp kể cho anh nghe và em cũng không kể cho ai hết, tuy thế đã có nhiều người biết chuyện, biết qua sách báo sai lạc, biết qua sự phỏng đoán và tưởng tượng của họ. Câu chuyện xảy ra trên nửa thế kỷ rồi anh nợ, em cũng im lặng cho nó đi qua, vì câu chuyện thuộc về dĩ vãng. Không ngờ mấy năm sau đây mấy nhà viết sách tìm tòi moi móc, moi những chuyện không đúng sự thật như bài báo của Kiêm Đạt ở bên đó(8) mà anh đã cắt gởi về cho em coi chẳng hạn (…). Hồi em ở Quy Nhơn với ba, Hàn Mạc Tử có để ý đến em, nhờ Ngâm hỏi ý kiến em, Ngâm không hỏi. Anh ấy kiếm cách gặp em kể lể nỗi niềm, em thấy trước là câu chuyện không đi đến đâu nên từ chối. Câu chuyện chỉ có chừng nấy, em yên trí là không liên quan gì với nhau nữa, không dè thi sĩ cứ thầm yêu trộm nhớ, làm thơ rồi nhờ bạn bè tặng sách báo cho em, em vẫn cứ im lặng, không trả lời trả vốn (…). Sau khi Hàn Mạc Tử qua đời, Ngâm mới kể rành mạch nỗi lòng của Hàn Mạc Tử đối với em. Em hết sức cảm kích và vô cùng ngậm ngùi. Anh có nhớ hồi anh làm ở văn phòng nào đó, ông Trần Tái Phùng cũng làm một chỗ với anh, một hôm anh đi làm về, đưa cho em một tờ giấy nhỏ có ghi hai câu thơ của Hàn Mạc Tử do ông Trần Tái Phùng đưa cho anh đem về hỏi em. Hai câu thơ đó là:
Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
Muốn ôm hồn Cúc ở trong sương.
Em xem xong chỉ cười mà không trả lời (…). Hôm nay em mới kể câu chuyện tâm tình đó với anh, kể ra cũng quá chậm, song chắc anh cũng hiểu tâm trạng em mà hoan hỷ cho em (…). Kha Anh, Kha Em hay Em Nhỏ thì có biết chuyện, song cũng biết lơ mơ vì em không nói chi hết; mấy em ở trong nhà cũng chỉ biết qua sách báo (…). Trong gia đình, anh là người đầu tiên mà em kể chuyện tâm tình của em”.
Qua trích đoạn năm lá thư của người trong cuộc, ắt bạn đọc đủ cơ sở để kết luận, mối tình đầu Hàn Mạc Tử dành cho Hoàng Hoa chỉ là tình đơn phương. Trao đổi với tôi về chuyện này, một bạn thân của Hàn Mạc Tử là nhà văn Trần Thanh Địch(9) thuở sinh tiền nhận định:
- Năm 1941, ngay sau khi Hàn qua đời, anh Trần Thanh Mại soạn sách Hàn Mạc Tử(10) đã có đoạn kết tiên đoán rất đúng: “Tôi vẫn biết trước, trong một ngày không lâu, người ta sẽ dành nhau cái vinh dự xây dựng cho thi sĩ Hàn Mạc Tử những chiếc thánh giá vĩ đại, đến cả những lăng tẩm nguy nga nữa”. Tham dự một số buổi lễ kỷ niệm Hàn Mạc Tử được tổ chức đó đây trong thời gian qua, chắc anh Phanxipăng đã chứng kiến cảnh mấy phụ nữ tranh nhau tự nhận là “nàng thơ”, là “tình nhân” của thi sĩ quá cố. Thói đời mà! Thế nhưng, chị Cúc thì khác. Chị không nhận những gì mình không có. Tôi cho đó là đức tính trung thực đáng quý. Và nhiệm vụ của các cây bút ngày nay là hãy cố gắng đem “cái gì của César trả lại cho César.”
Thiết tưởng cần soi sáng thêm đôi điểm về nhân thân Hoàng Thị Kim Cúc cùng một vài nhân vật liên quan từng được đề cập trong năm bức thư trên. Biết đâu đôi điểm này lại có khả năng là một trong những “chìa khóa” giúp chúng ta “giải mã” phần nào hành trạng và tác phẩm của Hàn thi sĩ.
Nhiều người dân Huế hiện tại vẫn còn nhớ Hoàng Thị Kim Cúc ít nhất ở hai cương vị, nhà giáo và nữ cư sĩ.(11) Lật lại các tuyển tập Đồng Khánh mái trường xưa do Ban Liên lạc cựu học sinh Đồng Khánh, Huế, nay là Trường Trung học Phổ thông Hai Bà Trưng, thực hiện từ năm 1992 trở đi, chúng ta bắt gặp những dòng hồi ức của bao thế hệ học trò về “hình ảnh dịu dàng, vóc dáng nhỏ nhắn, vui vẻ ân cần nhưng cũng rất nghiêm khắc của cô Hoàng Thị Kim Cúc, cô giáo đầu đàn của bộ môn nữ công gia chánh thời ấy”(12). Hoàng Thị Kim Cúc cũng là tác giả bộ sách Món ăn nấu lối Huế(13) được nhiều người đọc và áp dụng.
Thời ấy, nếu Hoàng Thị Kim Cúc đến Trường Đồng Khánh được các nữ sinh kính cẩn thưa “cô”, thì lúc ra đường, Hoàng Thị Kim Cúc thường được nhiều thanh thiếu niên gọi thân tình bằng “chị”. Đó là cách xưng hô phổ biến của mọi đoàn sinh đối với các nữ huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam(14). Chị Cúc là huynh trưởng với chức vụ Phó ban Hướng dẫn Trung ương Gia đình Phật tử Việt Nam, phụ trách ngành nữ từ năm 1947. Như vậy, cư sĩ không chỉ tu tại gia mà còn tích cực hoạt động xã hội.
Tôi gặp chị Cúc lần đầu tại đồi thông chùa Từ Hiếu (Huế) trong hội trại mang tên Hoài Nhân do Gia đình Phật tử Việt Nam tổ chức năm 1974. Sau đó, chúng tôi đôi lần ghé thăm chị ở nhà riêng tại Vỹ Dạ, mà lần cuối cùng là lúc chị nằm thoi thóp trên giường bệnh sau vụ tai nạn giao thông xảy ra tại TP Hồ Chí Minh ngày 11/8/1988 rồi được chuyển về Huế ngày 23/9/1988. Ngày 3/2/1989, tức 27 tháng Chạp năm Mậu Thìn, Hoàng Thị Kim Cúc - pháp danh Tâm Chánh - lìa trần, hưởng thọ 76 tuổi. Lễ di quan diễn ra ngày 15/2/1989, nhằm ngày mùng 10 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ. Lúc ấy, tôi ở xa Huế nên không dự được. Vậy xin dẫn đoạn tường thuật đám tang Hoàng Thị Kim Cúc do Mai Văn Hoan viết: “Có lẽ đó là một trong những đám tang lớn nhất ở Huế gần đây mà tôi được biết. Đoàn xe tang nối dài từ Đập Đá đến Trường Quốc Học. Quanh xe tang đính nhiều câu đối ca ngợi phẩm hạnh của bà. Tôi còn phát hiện có những bài thơ của các nhà sư họa lại bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ”(15).
Ngoài ông anh cả là Hoàng Toại định cư ở nước ngoài, Hoàng Thị Kim Cúc còn có mấy người anh ruột tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève 1954: Hoàng Xuân Tùy (nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục), Hoàng Hoan Nghinh (nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Philippines). Người em ruột Hoàng Tế Ngộ ở lại Huế, trước khi quy tiên từng là “thủ từ” trong ngôi nhà mà chị Cúc từng sinh sống.
Anh em chú bác của Hoàng Thị Kim Cúc có Hoàng Tùng Ngâm vốn là bạn thân cùng nguyên quán Thừa Thiên, cùng tuổi Nhâm Tý (1912) và cùng làm chung Sở Đạc điền Quy Nhơn với Hàn. Năm 1954, Hoàng Tùng Ngâm tập kết ra Bắc, đổi tên là Hoàng Thanh Trai và từng làm đại sứ nước ta tại Ai Cập rồi tại Sri Lanka. Tết Bính Thìn (1976) thì mất ở Hà Nội.(9) Năm 1939, chính nhờ “xúc tác” của Hoàng Tùng Ngâm, Hàn đã hứng khởi sáng tạo một số áng thơ tặng Hoàng Thị Kim Cúc - trong đó có Ở đây thôn Vỹ Dạ, một tác phẩm gây nhiều tranh luận lâu nay.
Áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ - nhan đề nguyên tác cùng một số lời bình
Năm 1992, ba cuộc hội thảo lớn được tổ chức ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nhằm nhìn lại và đánh giá 60 năm phong trào Thơ mới. Ban tổ chức đã đề nghị các nhà thơ, nhà nghiên cứu - lý luận - phê bình bỏ phiếu chọn những bài Thơ mới hay nhất. Kết quả cuối cùng, Ở đây thôn Vỹ Dạ của Hàn lọt vào “top 18”.
Quanh áng thơ nổi tiếng này, lâu nay rộ lên nhiều cuộc tranh luận sôi nổi - nhất là từ khi tác phẩm được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đưa vào giảng dạy chính thức trong chương trình lớp 11 bậc trung học phổ thông. Theo dõi các cuộc tranh luận đó, tôi nhận thấy một số chi tiết bị nhầm lẫn rất đáng buồn. Tại sao? Có nhiều lý do. Hai trong những lý do quan trọng là thiếu thực tế và thiếu tư liệu tham khảo cần thiết.
Điều nhầm lẫn phổ biến đầu tiên nằm ở… nhan đề bài thơ! Nguyên tác, Hàn viết Ở đây thôn Vỹ Giạ chứ không phải Đây thôn Vỹ Dạ như sách báo - kể cả giáo khoa và giáo trình - vẫn in. Địa danh có thể chỉnh sửa cho thống nhất chính tả: Vỹ Dạ hoặc Vĩ Dạ thay vì Vỹ Giạ(16). Còn chữ Ở hà cớ gì bị lược bỏ? Nếu muốn gọn hóa tối đa, Ở đây thôn Vỹ Dạ rất dễ biến thành Thôn Vỹ chăng?
Nhà văn Trần Thanh Địch nhận xét:
- Chữ Ở được Hàn dùng có chủ đích. Đọc kỹ bài thơ mới thấy chữ đó nhấn mạnh đến thôn Vỹ: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh. Tùy tiện “biên tập” cả “titre” mà không được tác giả ưng thuận là tối kỵ. Chuyện như vậy xảy ra không ít đối với tác phẩm của Hàn! Như bài Sao, vàng sao - một bài thơ khác mà Hàn gởi tặng chị Cúc - lâu nay cứ bị “chụp” cái tên Đừng cho lòng bay xa.
Cả hai áng thơ vừa nhắc đều được Hàn Mạc Tử đưa vào tập Thượng thanh khí, chứ chẳng phải tập Thơ điên (tức Đau thương). Đây là một nhầm lẫn khác mà đa số tuyển thơ cùng nhiều bài viết vẫn mắc phải.
Trong cuốn Thơ Hàn Mạc Tử và những lời bình(17), Mã Giang Lân lại cho rằng "Ở đây thôn Vỹ Dạ" vốn in lần đầu trên giai phẩm Nắng Xuân năm 1937. Hỡi ôi! Bài thơ được hoàn tất năm 1939, liệu có thể công bố trước hai năm chăng?
Thậm chí có người, như Vũ Quần Phương qua lời tựa tập Hàn Mặc Tử - thơ với tuổi thơ(18), nghĩ rằng áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ mang vẻ đẹp “trong trẻo” và thể hiện bằng giọng điệu “bình tĩnh” nên tin chắc đây là một sáng tác thuộc giai đoạn đầu của Hàn, giai đoạn thân chưa phát bệnh và thơ chưa phát “điên”. Thật ra, Hàn lúc này đang đau khổ lánh mình với nguồn thơ úa mãi hai hàng lệ(19) rồi lâm chung sau đấy đúng một năm tròn!
Hiểu rõ xuất xứ cùng hoàn cảnh sáng tạo tác phẩm, ắt sẽ góp phần giúp bạn đọc tiếp nhận bài thơ theo cách đúng đắn hơn, chuẩn xác hơn. Do đó, tôi sao lục thêm ba đoạn thư liên quan do chính người trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc giãi bày.
Thư đề ngày 15/4/1971 gởi Quách Tấn: “Về cô gái trong câu Lá trúc che ngang mặt chữ điền mà ông hỏi có phải là tôi đó không. Thưa ông, bức ảnh đó chỉ là bức ảnh phong cảnh, không có cô gái nào khác ngoài cô gái chèo đò. Cô gái mà ông hỏi đó là do sức tưởng tượng của thi nhân mà hiện ra thôi. Số là mùa hè năm 1939, Ngâm viết thư về Huế cho biết Tử bị mắc bệnh nan y. Ngâm khuyên tôi nên viết thư thăm Tử, hãy an ủi một tâm hồn đau khổ. Thay vì viết thư thăm, tôi gởi một bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte-visite(20). Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử, mà không ký tên, rồi gởi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ và một bài thơ khác nữa(21) cũng do Ngâm gởi về (bài này các sách báo đều đăng cả rồi). Không ngờ sức tưởng tượng của thi nhân quá khác thường đến biến bức ảnh phong cảnh đó thành bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông hay một đêm trăng, trong đó có cô gái Lá trúc che ngang mặt chữ điền nữa! Khiến có người đã nghĩ rằng cô gái đó mặc áo trắng dài tha thướt vì câu Áo em trắng quá nhìn không ra…”.
Thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín: “Năm 1938, Ngâm cho biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh nan y. (…) Xiết bao ngậm ngùi thương cảm. Thương cho người tài hoa lâm đại nạn! Cảm tấm lòng yêu thương thắm thiết chân thành của Tử đã dành riêng cho tôi! Một thời gian sau, Ngâm đề nghị: lúc này, chị nên an ủi Trí. (…) Xa xôi quá, không biết làm gì khác hơn là viết mấy hàng chữ hỏi thăm sức khỏe Tử, viết mà không chữ ký, không đề ngày, sau tấm ảnh phong cảnh Huế, gởi nhờ Ngâm trao lại. Rồi mấy tháng sau, Ngâm gởi về cho tôi bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ với mấy hàng chữ sau lưng bài thơ vào tháng 8/1939. Giữa Hàn Mặc Tử và tôi chỉ có chừng nấy.”
Thư đề ngày 11/5/1988 gởi anh cả Hoàng Toại: “Đến khi nghe anh ta(22) mắc bệnh nan y, em rất xót thương cho người tài hoa bạc phận và để an ủi một tâm hồn tha thiết yêu thương đang vô cùng đau khổ, em gởi cho anh ta hai dòng chữ hỏi thăm sức khỏe viết trên một tấm cát 6x9(23) phong cảnh thành phố Huế, ảnh mua ở nhà chụp bóng Tăng Vinh. Sau khi nhận được bức phong cảnh đó thì anh ta gởi bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ tặng em. Thư đi thư về đều qua tay Ngâm chuyển, chứ em không trực tiếp gởi. Và sau mấy hàng chữ thăm sức khỏe và sau khi nhận được bài thơ Hàn Mạc Tử tặng, em cũng nín luôn, không thư từ gì cho thi sĩ nữa, qua năm sau (1940) thì được tin Hàn Mạc Tử mất tại Quy Hòa”.
Áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ cùng bức thư của Hàn đã được Hoàng Thị Kim Cúc trân trọng giữ gìn tại nhà riêng. Đó là tờ giấy pelure mỏng, một mặt chép bài thơ, mặt kia ghi mấy dòng thư. Rất may mắn được chị Cúc lúc sinh tiền cho xem tận mắt, tôi chú ý mấy điểm: bài thơ gồm 3 khổ thì khổ cuối trong thủ bản nằm cách biệt với hai khổ đầu, cuối bài thơ, tác giả ký Hàn Mạc Tử rồi đề 11-1939 (chứ không phải 8-1939).
Còn bức thư thì nguyên văn như sau:
Túc hạ,
Có nhận được bức ảnh bến Vỹ Giạ lúc hừng đông (hay là một đêm trăng?) với mấy hàng chữ túc hạ gởi thăm. Muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ đến người năm xưa, thế là phúc hậu lắm rồi. Mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy. Và mong rằng một mùa xuân nào đây sẽ gặp lại túc hạ phỉ dạ. Thăm túc hạ bình an vui vẻ.
Hàn Mạc Tử 
Hoàng Thị Kim Cúc với bút danh Hoàng Hoa đã âm thầm sáng tác một số bài thơ, trong đó có những bài “đề tặng hương hồn anh HMT” như bài dưới đây viết vào đầu xuân Tân Tỵ 1941 - nghĩa là sau khi Hàn mất chưa đầy năm.
Bao năm hoa sống nơi thôn Vỹ
Thầm giữ trong lòng một ý thơ
Cũng biết cách xa ngoài vạn dặm
Tình anh lưu luyến cảnh quê mơ
Một mình một cõi với trời mây
Với cả đau thương với hận này
Anh khéo lột hết tài nghệ sĩ
Tiếng vang muôn thuở vẫn còn đây
Hồn anh lẩn khuất ở đâu xa
Hoa biết cùng ai thổ lộ ra
Tuy sống giữa cảnh đời náo nhiệt
Tình ai ai vẫn cứ đậm đà!

Nếu chỉ đọc qua bài thơ của Hoàng Hoa thôn nữ, lại thấy nàng suốt đời độc thân và bảo lưu kỹ lưỡng thủ bút Hàn thi sĩ, mà chưa đọc thư từ Hoàng Hoa viết hoặc chưa nghe Hoàng Hoa bộc bạch niềm riêng, hẳn không ít người sẽ dễ tin chuyện tình Hàn Mạc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc từng diễn ra “ly kỳ mùi mẫn” y như sách báo và tuồng tích đã dày công… thêu dệt. Mức độ ngộ nhận càng tăng vì ngay cả người nhà cũng chẳng thấy Hoàng Thị Kim Cúc phản ứng gì trước bao đồn thổi, thị phi.
Chính xác, như chúng ta đã biết, Hoàng Thị Kim Cúc có phản ứng chừng mực, đúng người, đúng lúc, song chẳng đạt kết quả như nguyện. Trong một bài viết đăng trên tuần báo Văn nghệ số ra ngày 14/10/1995, Võ Đình Cường lý giải kỹ càng: “Những người có liên hệ mật thiết với Hàn Mạc Tử mà chị(24) đã cho biết sự thật, và yêu cầu họ đính chính, thì họ đã không làm, hay làm ngược lại, gây thêm hỏa mù trong bối cảnh đã có nhiều  sương khói làm mờ nhân ảnh.
Chẳng hạn như ông Nguyễn Bá Tín, tác giả cuốn hồi ký Hàn Mạc Tử anh tôi(25) xuất bản vào tháng 2/1991, sau bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc gởi cho ông vào tháng 10/1987, nghĩa là sau gần 4 năm, nói rõ về tấm ảnh gởi Hàn Mạc Tử, là một tấm ảnh phong cảnh, thế mà ông Nguyễn Bá Tín lại viết: ‘Cho tới khi anh(22) đau nặng rồi (1939), chị Cúc còn cho anh một phiến ảnh cỡ 6x9(23): chị Cúc mặc áo dài lụa trắng như những cô gái Huế thời bấy giờ đứng trong vòm cây xanh mát. Anh làm ngay bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ.
Quan trọng hơn nữa, cái đoạn chị Kim Cúc kể chuyện chị đã không nhận thư và sách của Hàn Mạc Tử đem tặng, tác giả Hàn Mạc Tử anh tôi đã bỏ qua, không nhắc đến. Nhưng tác giả lại viết: ‘Nếu anh(22) biết chị(24) đã quy y, dành riêng một căn phòng ngày đêm hương hỏa tụng niệm, tưởng nhớ mối tình bất diệt của anh mà cũng là mối tình đầu của chị, đang quyện theo trầm hương dâng lên anh nơi miền cực lạc. Nơi đây không còn ngăn cách giáo lương, không còn tham sân si trần tục. Ôi! Tình Hoàng Hoa đậm đà biết chừng nào!’ (…) Chị Kim Cúc có buồn không, khi bị người ta vô tình hay cố ý lái cái mục đích cao quý trong sự tu hành của chị về phía tôn thờ một người khác tôn giáo mà chị chỉ có thể có cảm tình, chứ không yêu?”.
Phân tích nội dung và nghệ thuật áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ, đã thấy xuất hiện khối trường hợp “bàn rồi tính” nối tiếp “bình rồi… tán” đến mức ì xèo! Ngang qua nhà Hoàng Thị Kim Cúc ở Vỹ Dạ, thấy hàng cau trồng nép bờ rào, có người chắc mẩm dòng Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên phải “mọc” từ đây! Hồi trước, vào vườn nhà chị Cúc, chúng tôi chưa thấy cây cau nào. Ông Nguyễn Bá Tín cũng ghi trong Hàn Mạc Tử trong riêng tư(26) rằng: “Năm 1985, tôi về Huế ghé thăm chị Cúc (…), chị Cúc chợt hỏi: Cậu có tìm được một cây cau nào trong vườn tôi không? Sao anh Trí lại nói đến hàng cau?”.
Công bố bài Một cách hiểu khác về “ mặt chữ điền”(27), Thang Ngọc Pho lại tự bộc lộ chưa một lần về thôn Vỹ hoặc ghé Vỹ thôn nhưng thiếu quan sát đủ đầy mà vẫn bạo dạn khẳng quyết: “Mặt trước phía trên cổng nhà ở của quý tộc phong kiến ở đây(28) thường trang trí chữ điền đắp nổi. Điền, chữ Hán, có nghĩa là ruộng. Đó là biểu tượng của các gia đình quý tộc phong kiến, được nhà vua phong cấp ruộng đất theo cấp bậc và công trạng. Từ "mặt" trong câu thơ là "mặt chữ " chứ không phải là mặt người. Tác giả sử dụng phép ẩn dụ với nghĩa phái sinh như mặt bàn, mặt nước, mặt đường… Vậy câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ điền được hiểu là những chữ điền trên cổng các nhà quý tộc thấp thoáng dưới lá trúc. Cách hiểu này làm tăng giá trị của bài thơ.”
Thú thật, bản thân tôi từng sống ở Vỹ Dạ suốt thời gian dài mà không thấy cổng nhà quý tộc nào đắp nổi chữ 田 điền. Thêm một thực tế nữa cần nêu, Hoàng Thị Kim Cúc là phụ nữ có khuôn mặt chữ điền.
Quá quắt hơn là trường hợp suy diễn chủ quan cực kỳ kệch cỡm: cô gái thôn Vỹ trở thành… kỹ nữ, khách đường xa biến ra khách làng chơi, thuyền ai đậu bến sông trăng trở nên buồng chứa nổi. Bằng lối gán ghép thô vụng như thế, Lê Đình Mai đã “phán” xanh rờn trong bài Đây thôn Vỹ Dạ - một tiếng thở dài đáng quý(29): “Ở chốn dâm ô này, những gì đẹp đẽ nhất, cao quý nhất của con người đều bị sương khói truy hoan lu mờ hết, hoen ố hết.” Nhiều tác giả đã lên tiếng phản bác cách lập luận khiên cưỡng đó. Chẳng ai phủ nhận trên dòng sông Hương xưa nay xuất hiện những điểm kinh doanh trò “ngủ đò tục”, quá khứ có lúc gần như công khai(30), song đoạn sông qua khu vực thôn Vỹ thì hoàn toàn khác.
Trên tập san Văn hóa và đời sống(31), đề cập đến sự hạn chế trong một số bài viết về áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ xuất hiện bấy lâu nay, Văn Tâm sơ bộ chỉ ra bốn nguyên nhân: thứ nhất là thói quen xã hội học dung tục; thứ hai là người nghiên cứu không am tường phong cách nghệ thuật của đối tượng mà mình tìm hiểu; thứ ba là mỹ cảm kém nhạy bén; thứ tư là thái độ tùy tiện, thiếu nghiêm túc trong khâu xác định và khảo chứng tư liệu.

CHÚ THÍCH
* Nhà báo, Tuần san Thế giới mới

(1)    Nguyễn Trọng Trí (1912-1940) ký nhiều bút danh, trong đó có Hàn Mạc Tử và Hàn Mặc Tử. Khảo sát kỹ lưỡng, nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy bút danh chính thức của Nguyễn Trọng Trí những năm cuối đời là Hàn Mạc Tử. Điều ấy đã được Phanxipăng trình bày rõ qua bài “Chính danh định luận: Mạc hay Mặc?” đăng trên tạp chí Thế giới mới số 416 (11/12/2000).

(2)    Pellerin hay còn gọi là Trường Bình Linh, thuộc dòng La San, được sáng lập tại Huế năm 1904, giảng dạy từ bậc tiểu học đến trung học (tương đương lớp 1 đến lớp 12 hiện nay). Từ năm 2008, đó là Học viện Âm nhạc Huế, địa chỉ số 1 Lê Lợi, thành phố Huế.

(3)    Hai niên khóa 1928-1929 và 1929-1930, tại Trường Pellerin ở Huế, Nguyễn Trọng Trí học lớp nhì năm thứ 2 / cour moyen 2è année (tương đương lớp 4 hiện nay) và lớp nhất / cour supérieur (tương đương lớp 5 hiện nay) là hai lớp thuộc bậc tiểu học - theo sự phân cấp giáo dục trên toàn quốc từ năm 1906 đến năm 1945 - chứ hoàn toàn không phải “có hai năm học trung học tại trường Pe-lơ-ranh (Pellerin) ở Huế? như sách giáo khoa hiện hành Ngữ văn 11 (Tập hai - Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, 2008 và 2009 - Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010) đã in đi in lại.

(4)    Bài Đôi nét về Hàn Mạc Tử được Quách Tấn (1910-1992) viết tại Nha Trang năm 1959, đăng tạp chí Lành mạnh số 38 (Huế, 1/11/1959), rồi lần lượt đăng lại trên tập san Văn và bán nguyệt san Phổ thông, đoạn in vào một số sách như Thơ Hàn Mạc Tử (Sở Văn hóa-Thông tin Nghĩa Bình, 1987), Hàn Mạc Tử thơ và đời (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995), Hàn Mạc Tử hôm qua và hôm nay (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995), v.v... Lưu ý rằng nội dung văn bản Đôi nét về Hàn Mạc Tử có những thay đổi qua thời gian công bố.

(5)    Hiện nay là đường Lê Lợi, thành phố Quy Nhơn.

(6)    Vở tuồng cải lương Hàn Mạc Tử do Viễn Châu và Thể Hà Vân hợp soạn năm 1957.

(7)    21 tuổi ta, 20 tuổi tây, tức là vào năm 1933.

(8)    Bên đó: Hoa Kỳ.

(9)    Tham khảo thêm bài “Bạn thân đồng tuế đồng hương của Hàn Mạc Tử" do Phanxipăng viết đăng tạp chí Thế giới mới số 891 (5/7/2010).

(10)    Sách Hàn Mạc Tử của Trần Thanh Mại, in lần đầu năm 1942, sau được tái bản nhiều lần.

(11)    Cư sĩ: người tu trì tại gia.

(12)    Trích bài viết “Nhớ cô Hoàng Kim Cúc” của Võ Thị Tiểu Kiều in trong tuyển tập Đồng Khánh mái trường xưa năm 1992.

(13)    Do nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn ấn hành lần đầu năm 1970, sau được nhiều nhà xuất bản tái bản.

(14)    Gia đnh Phật tử có tiền thân là Đoàn Thanh niên Đức dục và Gia đnh Phật hóa phổ được thành lập tại Huế vào thập niên 1930.

(15)    Trích bài “Tiếng thở dài - chia sẻ với Hàn Mạc Tử” đăng tạp chí Sông Hương số 2 năm 1990, sau in vào sách Cảm nhận thơ Hàn Mạc Tử (Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999).

(16)    Địa danh Vỹ Dạ do biến âm từ gốc Vĩ (Vi) Dã 葦野°. Vĩ (Vi) 葦: cây lau. Dã 野°: cánh đồng.

(17)    Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000, trang 283.

(18)    Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2000, trang 5.

(19)    Trích một dòng từ bài thơ “Buồn ở đây” trong tập Thượng thanh khí của Hàn Mạc Tử.

(20)    Carte-visite: carte de visite: danh thiếp.

(21)    Bài thơ Sao, vàng sao.

(22)    Tức Hàn Mạc Tử.

(23)    6x9cm.

(24)    Chỉ Hoàng Thị Kim Cúc.

(25)    Nxb Tin, Paris, 1990 - Nxb TP HCM, 1991.

(26)    Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1994, trang 118.

(27)    Tạp chí Tài hoa trẻ, số 69 ra ngày 25/2/1999.

(28)    Vỹ Dạ.

(29)    Báo Giáo viên nhân dân, số đặc biệt tháng 1/1990.

(30)    Có thể đọc phần Những con đò đưa khách trong bài “Sinh hoạt những vạn đò trên sông Hương trước 1975” của Phan Hoàng Quý đăng trên Nghiên cứu Huế, tập 1,1999 và phóng sự “Ngủ đò sông Hương” in trong sách Huế chừ của Phanxipăng (Nxb Thanh niên, 2000).

(31)    Nxb TP HCM, 1990.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Những ngày kỷ niệm văn học tháng 6

Những ngày kỷ niệm văn học Việt Nam tháng 6
Copy từ Sách lịch Văn hóa Đông Tây 2010, trang 119.
Hoàng Minh Châu (06-06-1930; 80 năm sinh)
Nhà thơ, nhà văn, quê Hưng Nguyên, Nghệ An. Tác phẩm chính: Biến đổi, Mở đường; Hoa mười giờ; Mai này năm ấy; Xôn xao; Thơ và em; văn: Biệt danh Q.C; Bài học tình yêu; Cô, cháu cùng nghe; Trung Hoa du ký; tiểu luận: Bàn về thơ; Nghĩ về nghề, ghi về bạn ...
Phan Văn Trị (1830 - 22-06-1910: 180 năm sinh, 100 năm mất)
Nhà thơ, chí sĩ, quê huyện Bảo An, tỉnh Gia Định, nay nthuoocj huyrnj Giồng Trôm,tỉnh Bến Tre. Đậu Cử nhân nhưng không chịu ra làm quan, mà mở trường dạy học. Tác phẩm: thơ tự thuật (Nôm(, và còn gần 100 bài thơ khác như Con mèo; Cái cối xay; Hột lúa ; Con rận, nổi tiếng với chùm họa lại 10 bài thơ của Tôn Thọ Tường.
Lê Bầu (23-06-1930 - 07-02-2009 :80 năm sinh)
Tên thật là Lê Văn Bầu, nhà văn, dịch giả, quê Khoái Châu, Hưng Yên. 2 giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Các tác phẩm: truyện ngắn: Dòng sữa trắng; Hai người buồng bên kia; Hoàng hậu vàng anh; tiểu thuyết: Ngã ba cô đơn; Độc hành; dịch: Thị trấn Phù Dung ; Quý thành; Trở về; Nỗi hoài hương dằng dặc; Truyện Mạc Ngôn v.v...
Những ngày kỷ niệm văn học nước ngoài tháng 6
David Sauilovitr Samolov/ Kayfman (01/06/1920 - 23/02/1990: 90 năm sinh)
Nhà thơ, dịch giả Nga. Giải thưởng Nhà nước Liên Xô. các tạp thơ: Những đất nước gần gũi; Vượt đèo thứ hai; Những ngày ; Sóng và đá; Tin tức; Vịnh; Giọng nói sau đồi. Ông còn dịch từ tiếng Hungari, tiếng Litva, tiếng Ba Lan, tiếng Czech và từ ngôn ngữ các dân tộc Liên Xô sang tiếng Nga.
Donatien Alphonse Francois de Sade (02/06/1740 - 02/12/1814: 270 năm sinh)
Nhà văn Pháp, hầu tước. Hơn 27 năm sống trong nhà tù. Các tác phẩm: Đối thoại giữa linh mục và kẻ hấp hối; 120 ngày của Sodom; Bất hạnh của nhà hảo tâm. Cuốn Eugene de Franval - một trong những kiệt tác của thể loại truyện ngắn Pháp.
Thomas Hardy (02/06/1840 - 11/01/1928: 170 năm sinh)
Nhà thơ, nhà văn Anh. Tác phẩm: truyện ký: Về việc áp dụng gạch màu và đất nung trong kiến trúc hiện đại; truyện ngắn: Làm thế nào tôi xây cho mình một ngôi nhà; tiểu thuyết: Các phương cách tuyệt vọng; Dưới cây xanh hay Đội đồng ca Mellstok. Nổi tiếng nhất là tiểu thuyết Xa đám đông điên loạn.
Stephen Crane (01/11/1871 - 05/06/1900: 110 năm mất)
Nhà văn,nhà báo Mỹ, người theo chủ nghĩa hòa bình. Tác phẩm: tiểu thuyết Maggie,cô gái ăn sương; Dấu hiệu đỏ của lòng dũng cảm; tập truyện ngắn Con tàu không mui; Tên quái ác. Ông còn là một phóng viên chiến trường với những phóng sự xuất sắc.
O.Henry (11/09/1862 - 05/06/1910: 100 năm mất)
Tên thật William Sydney Porter, nhà văn Mỹ, tác giả của những truyện ngắn nổi tiếng có tính hài hước tinh tế và sự kết thúc bất ngờ. Ông viết tất cả 273 truyện ngắn, Toàn tập tác phẩm của O.Henry gồm 18 tập. Một số tập truyện chính: Bắp cải và vua chúa; Bốn triệu; Tiếng nói của thành phố; Những sự lựa chọn; Những con đường của số phận; Hỗn loạn Quà tặng của các nhà hiền triết...Một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của O.Henry là Chiếc lá cuối cùng.
Henry Valeninne Miller (26/12/1891 -07/06/1980: 30 năm mất)
Một trong những nhà văn Mỹ lớn nhất của thế kỷ 20. Tác phẩm: Bút ký đi đường; Bác vĩ nhân Maroussi; tiểu thuyêt: Bắc Chí tuyến; Nam Chí tuyến; Sự hành hình trấn định tâm (bộ ba gồm các tiểu thuyết Sexus, Plexus và Nexus).
John W.Campbell (08/06/1910 - 11/07/1971: 100 năm sinh)
Nhà văn với vinh quang tạo nên thế kỷ vàng. của văn chương khoa học giả tưởng Mỹ. Tiểu thuyết "Ai đi đấy?" của ông là một trong những tác phẩm khoa học giả tưởng- kinh dị hay nhất. Tên John Campbell đước đặt cho hai giải thưởng: tiểu thuyết khoa học giả tưởng hay nhất và cho nhà văn giả tưởng mới xuất sắc nhất.
Charles Dickens (07/02/1812 - 09/06/1870; 140 năm mất)
Nhà văn lớn của Anh, cây bút hiện thực xuất sắc miêu tả tài tình xã hội Anh nửa đầu thế kỷ 19. Các tác phẩm chính: Truyện phiêu lưu của Pickwick; Oliver Twist; Bút ký về nước Mỹ; Martin Chuzzlewit; David Copperfield; Ngôi nhà lạnh lẽo; Thời buổi khó khăn; Cô bé Dorrit...
Luiz De Kamoens (~1524/25 -10/06/1580: 430 năm mất)
Nhà thơ, đại diện lớn nhất của thời Phục hưng Bồ Đào Nha. Tác phẩm chính: kịch Filodemo; Hoàng đế Seleucus; trường ca sử thi: Luziady. Luziady là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của chủ nghĩa nhân đạo thời kỳ Phục hưng, có một vai trò đáng kể trong sự hình thành xu hướng hiện thực trong thơ ca.
Elsa Triolet (24/09/1896 -16/06/1970: 40 năm mất)
Tên thật là Ella Yurievitr Kagan, nhà văn và dịch giả Pháp gốc Nga, giải Goncourt văn học. Lúc đầu viết bằng tiếng Nga: Tahiti; Dâu tây; viết bằng tiếng Pháp: Têrêzơ, xin chào ; Ngàn điều hối tiếc; Con ngựa trắng; Những quyển vở chôn dưới gốc anh đào; Chỗ toạc rách đầu tiên tốn 200 frăng; Sáu người bọn họ; Con ngựa hung; Hò hẹn của những người khách lạ; Thời đại ni lông; Không khi nào; Họa mi ngừng hót lúc rạng đông v.v. Bà còn viết kịch bản phim, dịch các tác phẩm văn học Nga sang tiếng Pháp.
Lev Abramovitr Kassil (10/07/1905 -21/06/1970: 40 năm mất)
Nhà văn Nga. Ông viết nhiều tác phẩm xuất sắc dành cho lứa tuổi thiếu niên. Tác phẩm: truyện ký: Đài thiên văn; Thuyền tự hành; các truyện vừa: Sổ theo dõi; Shvambrania; tiểu thuyết cho trẻ em và thanh thiếu niên: Thủ môn của nước Cộng hòa; Nước đi của Hậu trắng; Rạng đông sớm; Đường phố người con trai út...
Leonid Nikolaevitr Martưnov 22/05/1905 - 21/06/1980: 30 năm mất)
Nhà thơ, dịch giả Nga.Giải thưởng Nhà nước Nga, Giải thưởng Nhà nước Liên Xô. Tác phẩm: tập thơ: Lukomorie; Họ mạc; Ngoa dụ; Nguồn vàng dự trữ; hồi ký: Những chiến hạm hàng không; dịch các tác phẩm từ tiếng Latvia,Ba Lan,Hungari và các ngôn ngữ khác sang tiếng Nga.
Jean Anouilh (23/06/1910 - 03/10/1987: 100 năm sinh)
Nhà soạn kịch Pháp, thuộc loại tác gia kịch truyền thống nhưng có nhiều tìm tòi đổi mới về nghệ thuật kịch. Tác phẩm chính: Khách đi đường không hành trang;Vũ hội của bọn trộm cắp; Roméo và Jeannette; Bồ câu; Kẻ khờ khạo; Sơn ca...
Leon Kruczkowski (28/06/1900 -01/08/1962: 110 năm sinh)
Nhà văn, nhà soạn kịch Ba Lan. Ông là người cách tân trong sáng tác tiểu thuyết, mở ra con đường đi lên chủ nghĩa hiện thực trong văn học Ba Lan. Tác phẩm chính: tiểu thuyết: Kordian và người dân quê; Lông công; kịch: Những người Đức; Juliux và Eten; Những ngày tự do đầu tiên...
Antoine de Saint-Exupéry (29/06/1900 - 31/07/1944: 110 năm sinh)
Nhà văn, phi công Pháp với tác phẩm Hoàng tử bé chinh phục triệu triệu con tim. Sự nghiệp văn chương của nhà văn gắn liền với cuộc đời hoạt động trên bầu trời của ông. Tác phẩm chính: Chuyến thư miền Nam; Bay đêm; Quê xứ con người; Phi công thời chiến...
Sách lịch Văn hóa Đông Tây 2010

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Những ngày kỷ niệm Văn học tháng 5

Những ngày kỷ niệm Văn học tháng 5
Copy từ Những ngày kỷ niệm Văn học tháng 5 ( Sách lịch Văn hóa Đông-Tây,Canh Dần 2010, nhà XB Mỹ Thuật 2009, trang 95-98 .
Văn học Việt Nam
Trần Tự (01/05/1940 - 74 năm sinh)
Tên thật là Trần Văn Tự, nhà văn, quê Hải Phòng. Tác phẩm: tập truyện ngắn: Tôc độ (in chung), Hồn biển; tiểu thuyets: Điểm lửa; Thời gian trăn trở; Biển khơi; Giữa hai chiều gió; Mùa phượng chết; Con chiên lạc bầy; Bóng ma hạnh phúc ...
Vũ Thị Hồng (02/05/1950 - 64 năm sinh)
Nữ nhà văn quân đội, quê thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. TYacs phẩm gồm các tập truyện ngắn: Tiếng rừng; Xóm biển; Có một thời yêu; Ở ấp Thanh Mỹ ...
Lưu Trùng Dương (05/05/1930 - 84 năm sinh)
Tên thật là Lưu Quang Lũy, nhà thơ, nhà văn, quê quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Tác phẩm: Tập thơ: Tập thơ của người lính; Những người đáng yêu nhất ; Bài thơ về chim hải âu; Bài ca người Đà Nẵng; tiểu thuyết: Họ đi tìm thiên đường; Con đường sắt vô hình; truyện phim: Ba anh em khác màu da v.v...
Hoàng Văn Bổn (07/05/1930 - 84 năm sinh)
Tên thật là Hoàng Văn Bản, nhà văn, quê Vĩnh Cữu,Đồng Nai. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Ông đã viết hơn 50 đầu sách và 25 kịch bản phim, trong đó có các tiểu thuyết: Vỡ đất; Tuổi thơ ngọt ngào; Miền đất ven sông; Khắc nghiệt, Ó ma lai...
Hồ Hữu Tường (08/05/1910 - 26/06/1980: 104 năm sinh, 34 năm mất)
Nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động chính trị, quê ở quận Cái Răng,tỉnh Cần Thơ. Ông viết nhiều loại sách về chính trị, kinh tế, triết học,lịch sử: Xã hội học nhập môn; Tương lai kinh tế Việt Nam; Tương lai văn hóa Việt Nam; Lịch sử văn chương Việt Nam... tiểu thuyết: Phi Lạc sang Tàu; Phi Lạc náo Hoa Kỳ;Tiểu Phi Lạc náo Sài Gòn; Thuốc trường sanh (3 tập; bộ Hồn bướm mơ hoa (4 TẬP)...
Cẩm Biêu (15/05/1920 - 1998: 94 năm sinh)
Nhà thơ dân tộc Thái, quê Mai Sơn,Sơn La. Tác phẩm: thơ: Thơ ca Hạn Khuống; Ngọn lửa không tắt - Peo phầy mì mọt; Anhd hồng Điện Biên; Bản Mường nhớ ơn, sưu tầm: Hạn Khuống;Tục Xên Kẻ; Thơ cưới xin và lên nhà mới...
Trí Bảo Thiền Sư (? - 19/05/1190 - 824 năm mất)
Họ Nguyễn, không rõ tên, là cậu ruột danh nhân Tô Hiến Thành, người Ô Diên, đất Vĩnh Khang nay thuộc huyện Đan Phượng,Hà Nội, ông ngộ đạo, giảng kinh sách cho nhiều đệ tử. Tác phẩm còn lại; Bài kệ về tri thức; in trong tập Thiền uyển tập anh ngữ lục.
Bùi Kỷ (05/01/1888 - 19/05/1960: 54 năm mất)
Tự Ưu Thiên, hiệu TừChương, là nhà giáo, nhà báo, dịch giả, nhà nghiên cứu văn hóa có ảnh hưởng trong những năm đầu thế kỹ 20; quê ở Phủ Lý,Hà Nam. Tác phẩm: biên khảo: Quốc văn cụ thể, Hán văn trích thái diễn giảng khóa bản (soạn chung), Việt Nam văn phạm bậc trung học (soạn chung), Tiểu học Việt Nam văn phạm (soạn chung), hiệu khảo: Truyện Kiều, Trê Cóc, Trinh thử, Lục súc tranh công; Hoa điểu tranh năng... dịch thuật: Bình Ngô đại cáo, thơ Bà Huyện Thanh Quan, thơ chữ Hán Nguyễn Du, Tam Quốc Chí... sáng tác; Ưu Thiên đồ mặc, Văn chương,Thơ văn Bùi Kỹ...
Phượng Vũ (23/07/1937 -24/05/2000 :14 năm mất)
Tên thật là Nguyễn Phương Tú, nhà văn, quê huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Tác phảm: tập truyện: Núi Chàng Rễ; Người mẹ và những đứa con; Lục Trầm; tioeeur thuyết: Hoa hậu xứ Mường; Trước cửa Thiền; Năm người bạn; truyện vừa: Người anh hùng trên đồng cỏ.
Phan Huy Chú (1782 - 28/05/1840: 174 năm mất)
Nhà thơ, nhà sử học Việt Nam. Công trình nổi tiếng nhất của ông là Lịch triều hiến chương loại chí gồm 49 quyển chia làm 10 chí như Dư địa chí, Hình luật chí, Văn học chí..., có thể coi như Bộ Bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Ngoài ra, ông còn có Hoàng Việt địa dư chí và các tập thơ văn là Hoa thiều ngâm lục; Dương trình kí kiến.
Cao Xuân Huy (28/05/1900 - 22/10/1982: 114 năm sinh)
Nhà giáo, nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học,. văn hóa, văn học, quê ở Diễn Châu, Nghệ An, thuộc dòng dõi khoa bảng danh gia, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn Học Nghệ Thuật. Ông là người nghiên cứu sâu về triết học phương Đông, các lĩnh vực như: Tư tưởng và văn hóa Việt Nam cổ, trung đại; Nhận thức luận, Động và tĩnh trong Cấu trúc luận; tham gia hiệu đính bản dịch Vân đâì loại ngữ của Lê Quý Đôn, Nguồn gốc các loài của Charles Darwin, Truc lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm... Các công trình chủ yếu của ông được học trò tập hợp và công bố trong cuốn Tu tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu (1995).
Nguyễn Miên Bửu (30/05/1820 - 08/03/1854: 194 năm sinh)
Nhà thơ, con thứ 12 vua Minh Mạng, tước Tương An Quận vương. Cùng với 2 anh Miên Thẩm, Miên Trinh lập Tùng Vân thi xã. Các tác phẩm chính: Khiêm trai thi tập (14 quyển); Khiêm trai văn tập (2 quyển), ông còn viết nhiều thơ Nôm nhưng thất lạc hầu hết.
Văn học nước ngoài
John Dryden (19/08/1631 - 01/05/1700: 314 năm mất)
Nhà thơ, nhà soạn kịch, nhà phê bình Anh, người góp phần khẳng định thẩm mỹ học của chủ nghĩa cổ điển trong văn học Anh. Ngoài những vỡ kịch nổi tiếng (như Mariage A-la-Mode, All for Love (cải biên vỡ Antony và Cleopatra của Shakespeare), các bài thơ đả kích càng tôn vinh ông hơn đối với người đương thời. Công trình văn xuôi lớn nhất: Về thi ca chính kịch.
Alberto Blest-Gana (04/05/1830 - 11/11/1920: 184 năm sinh, 94 năm mất)
Nhà văn Chilê, là người đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực Mỹ Latinh, đem lại cho văn học châu lục "Tấn trò đời" Chilee mà đỉnh cao là Martin Rivax. Các tác phẩm khác: Mối tình đầu; Tuyệt vọng; Số học trong tình yêu; Lý tưởng của một thằng ngốc; Thời kỳ kháng chiến; Glêđix Phêyrphin ... Tác phẩm của ông đã dịch ra tiếng Việt.
Gustave Flaubert (12/12/1821 - 08/05/1880: 134 năm mất)
Nhà văn Pháp, người kết thúc giai đoạn cổ điển của chủ nghĩa hiện thục và mở đầu trào lưu văn học hiện thực nửa sau thế kyrXIX ở Pháp. Ông là tác giả đặc biệt chú trọng đến sự hoàn hảo về phương diện hình thức, nghệ thuật. Các tác phảm chính: Bà Bovary; Salamba; Giáo dục tình cảm; Ba truyện ...
James Matthew Barrie (09/05/1860 - 19/06/1937: 154 năm sinh)
Nhà soạn kịch và nhà văn Scotland. Tác phẩm đầu tay gây tiếng vang là tiểu thuyết Margaret Ogilvy. Những vỡ kịch nổi tiếng nhất: Thà chết; Đường phố thượng lưu; Điều mà phụ nữ nào cũng biết; Brutus thân mến; đặc biệt là Peter Pan ở khu vườn Kinsington; Peter và Wendy ...
William Dean Howells (01/03/1837 - 11/05/1920: 94 năm mất)
Nhà văn và nhà phê bình có công lớn trong việc xác lập chủ nghĩa hiện thực trong van học Mỹ. Tác phẩm: Bút ký du lịch; Cuộc sống Vơnizơ; tiểu thuyết: Một tình huống hiện đại; Silos Lapham Phất; Đi tìm hạnh phúc mới; Thế giới rủi may; Người khách đến từ Altruia; Xuyên qua lỗ kim; phê bình văn học: Phê bình và hư cấu.
Johannes Carsten Hauh (12/05/1790 - 11/05/1920: 224 năm sinh)
Nhà văn Đan Mạch, đại diện xuất sắc của chủ nghĩa lãng mạn. Ông viết thơ trữ tình và tiểu thuyết lịch sử. Tác phẩm chính: William Tsabern; Nhà giả kim, tiểu thuyết Waldemar Atterdag; Một gia đình Ba Lan; Kịch cổ tích: Chị em từ Kinnekyule.
Nelly Sachs (10/12/1891 - 12/05/1970: 44 năm mất)
Nhà thơ Đức gốc Do Thái, giải Nobel Văn học 1966 (cùng với nhà văn Do Thái khác là Samuel Agnon). Tác phẩm: các tập thơ: Trong ngôi nhà của tủ thần; Che mờ các ngôi sao; Không ai biết được sẽ ra sao; Trốn chạy và biến đổi, kịch: Bi kịch về những đau khổ của Israel; Những dấu hiệu trên cát...
Alphonse Daudet (13/05/1840 - 16/12/1897: 174 năm sinh)
Nhà văn Pháp, một trong những đại diện xuất sắc của khuynh hướng hiện thực trong văn học Pháp. Các tác phẩm: tiểu thuyết Đứa trẻ và Djek; Những cuộc phiêu lưu khác thường của Tartaren ở Tarascon; Tartaren ở Alps; Cảng Tarascon; Fromon trẻ và Rister già; Safo; Bất tử...
Robert TannaHill (03/06/1774 - 17/05/1810: 204 năm mất)
Nhà thơ Scotland, nhạc sĩ, dược coi là một nhà kinh điển tại quê hương ông. Các bài thơ của ông đã trở thành bài hát dân gian Celtic . Tập thơ đầu tiên xuất bản năm 1807, nhưng ba năm sau, khi nhà xuất bản từ chối in tập thơ thứ hai, ông đã đốt hầu hết các tác phẩm của mình. Ít lâu sau, thi thể ông đã được tìm thấy dưới kênh của thành phố.
Eliza Orzeszkowa (25/05/1841 - 18/05/1910: 104 năm mất)
Nữ nhà văn Ba Lan, 50 cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn của bà thể hiện sâu sắc tinh thần đấu tranh dành quyền sống, giải phóng các lớp người bị áp bức, giải phóng phụ nữ. Những tác phẩm nổi tiếng nhất: Marta; Những người trên con tàu Argo (Argonaust); Trên bờ sông Niemen...
Rasul Rza (19/05/1910 -1981: 104 năm sinh)
Tên thật là Pasul Ibragim Orly Rzaev - nhà viết kịch và dịch giả Azerbaijan,Nghệ sĩ Nhân dân. Giải thưởng Nhà nước Liên Xô,Anh hùng lao động. Tác phẩm: các tập thơ, truyện ngắn: Những anh hùng bất tử; Phẩn nộ và tình yêu...; trường ca: Lenin; kịch: Vefa; Anh em; Luật; dịch sang tiếng Azerbaijan các tác giả Eskhin, Lope de Vega; Pushkin; Lermontov...
Sumitranan Dan Pant (20/05/1900 - 29/12/1977: 114 năm sinh)
Một trong những nhà thơ xuất sắc của nền văn học hiện đại Ấn Độ. Tập thơ đầu tiên "Bản năng trẻ" mở đường cho thơ trữ tình của nền văn học Hindi hiện đại. Những tác phẩm nổi tiếng có giá trị nghệ thuật cao: Sự kết thúc một thời đại; Tiếng nói của thời đại; Cuộc sống ở nông thôn ...
Verner Von Heydenstam (06/07/1859 - 20/05/1940: 74 năm mất)
Tên thật là Carl Gustaf, nhà thơ Thụy Điển, giải Nobel văn học (1916). Tác phẩm: Cuộc hành hương và những năm lang thang; Endymion; Phục hưng; Những cuộc chiến tranh của Charles XII; Cuộc hành hương của Thánh Birgitta...
Tudor Arghezi (21/05/1880 - 14/07/1967: 134 năm sinh)
Tên thật là Ion N,Theodorescu, nhà thơ, nhà văn Rumani, Giải thưởng Nhà nước Rumani. Tác phẩm chính: Những lời cần thiết; Tượng thánh gỗ; Hoa mốc; Ngọc bội mùa xuân; Bảy bài hát với miệng ngậm; 1907; Bài ca tặng người ...
Barbara Cartland (09/07/1901 - 21/05/2000: 14 năm mất)
Nữ nhà văn Anh rất nổi tiếng với các tiểu thuyết tình cảm được ghi vào sách Kỉ lục Guiness là nhà văn Anh thành đạt nhất: viết 723 cuốn sách, bán được 1 tỉ bản. Bà viết cuốn đầu tiên "Saw dancing fig" năm 1923, cuốn cuối cùng năm 1997. Vào thời gian sung sức, mỗi năm bà viết 23 tiểu thuyết.
Vitezslav Nezval (26/05/1900 - 06/04/1958: 114 năm sinh)
Nhà thơ Czech, là nhà thơ lớn của thế kỷ XX, Nghệ sĩ Nhân dân. Nezval để lại một gia tài đồ sộ những tác phẩm văn học: thơ, kịch, kịch bản vũ balê, tiểu luận, tiểu thuyết, hồi ký và thơ dịch. Ông có nhiều tập thơ nổi tiếng: Lời từ biệt và chiếc khăn; Praha hiện lên trong mưa; Mẹ tôi,niền hy vọng; Chiếc đồng hồ cổ điển vĩ đại; Bài ca hòa bình; Hoa mưa và thành phố ...
Konstantin Vasilievitr Ivanov(27/05/1890 - 26/03/1915: 124 năm sinh)
Nhà văn, nhà dân chủ, người khởi xướng nền văn học Truvas. Ông viết thơ balat Máy nghiền; Góa phụ; truyện cổ tích bằng thơ hai con gái; bi kịch Nô lệ của quỷ; các tác phẩm thơ chính luận. Tác phẩm xuất sắc nhất: Trường ca Narspi. Ông còn dịch nhiều tác phẩm văn học Nga, các bài hát Nga sang tiếng Truvas.
John Barth (27/05/1930: 84 năm sinh)
Nhà văn, một trong những đại diện hàng đầu của thể loại "trào phúng đen" trường phái văn học hậu hiện đại. Tác phẩm: Vở Opera trôi nổi; Cuối con đường; Gã buôn thuốc mê, Chú dê Dzhayls; Điều ảo tưởng (Chimera), Chàng trai-dê Dzhayls, hay thời khóa biểu mới các giờ học được sửa lại ...
Kalman Mikszath (16/01/1847 - 28/05/1910: 104 năm mất)
Một trong những nhà văn nổi tiếng nhất Hungary thế kỹ XĨ-XX. Tác phẩm: các truyện ngắn: Anh em người Slovak; Dân Palot đôn hậu; truyện vừa: Cỏ vùng Lohin; Hai học sinh nghèo; Chiếc áo Caftan biết nói; tiểu thuyết: Chiếc ô của Thánh Peter; Phong tỏa Bestertse; Cuộc hôn nhân lạ lùng; Câu chuyện chàng Nosti và Tot Mary ...
Louise Michel (29/05/1830 - 10/01/1905: 174 năm sinh)
Nữ chiến sĩ và nhà thơ trữ tình của cách mạng Công xã Paris ,Pháp. Thơ bà viết phần lớn ở trong tù hoặc ở chốn lưu đầy nhưng thể hiện vững vàng ý chí đấu tranh vì tự do, đân chủ. Một số bài thơ tiêu biểu: Biểu tình vì hòa bình; Hoa cẩm chướng đỏ; Gửi các anh em của tôi.
dvnien sưu tầm