Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ Đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ Đường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

Tìm hiểu bài tho Phong Kiều Dạ Bạc

PHONG KIỀU DẠ BẠC
Bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế như sau:
 楓橋夜泊 Phong Kiều Dạ Bạc
 月落烏啼霜滿天, Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
江楓漁火對愁眠。 Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
姑蘇城外寒山寺, Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
夜半鐘聲到客船。 Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
 Dịch nghĩa:
 Đêm ghé thuyền bên chiếc Cầu Phong
 Trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời,
 Trên sông [ghé thuyền] ở bến Cầu Phong, thao thức bên ngọn đèn của người dân chài
 (một loại đèn bão tránh gió).
 Từ ngôi chùa Hàn San nơi ngoại thành Cô Tô,
 Lúc nửa đêm vọng lại với người khách trên thuyền những tiếng chuông ngân.
 Sau đây cũng xin mạn phép nêu lên dưới đây hai bài dịch của hai cụ Tàn Đà và Trần Trọng Kim, là hai trong số các bài dịch xưa nhất:
 Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều 
 Trăng tà tiếng quạ kêu sương,
 Lửa chài, cây bãi, sầu vương giấc hồ.
 Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
 Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
 Tản Đà dịch (khoảng năm 1937 hay 1938)
 Đêm khuya thuyền đậu ở bến Phong Kiều
 Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,
 Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co.
 Con thuyền đậu bến Cô Tô,
 Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
 Trần Trọng Kim dịch (1944)
Hai bài dịch trên đây của cụ Tản Đà và cụ Kim cũng như các bài dịch khác mới hơn sau này, kể cả các bài dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh đã được tham khảo, dường như chỉ nhắm vào mục đích "tả cảnh", không thấy nhấn mạnh đến nỗi niềm ray rứt của người thi nhân, cũng không giải thích gì về sự mâu thuẫn giữa câu 1 (trời đã sáng) và câu 4 (tiếng chuông chùa nửa đêm). Đấy là chưa nói đến nhiều chữ không sát nghĩa hoặc vụng về, chẳng hạn như trong hai bài dịch của cụ Tản Đà và cụ Kim thì tựa cho biết là bến Phong Kiểu (bến sông cạnh chiếc Cầu Phong), thế nhưng trong câu thơ dịch thì lại gọi là cây bãi (hàng cây trên bãi sông?). Trong bản dịch của cụ Tản Đà, hai chữ sầu miên (giấc ngủ buồn nói lên sự trằn trọc và đau buồn của người thi nhân) thì lại dịch là giấc hồ, tức là giấc mơ của Trang Tử thấy mình hóa bướm, khi thức giấc thì tự hỏi không biết mình hóa ra bướm hay bướm hóa ra mình, một cách vắn tắt thì đây là câu chuyện nêu lên một khái niệm "triết học", không liên hệ gì đến tâm trạng của người thi nhân trong khoang thuyền. Trong bản dịch của cụ Kim thì hai chữ sầu miên lại trở thành nằm coquả thật hai chữ này không phù hợp tí nào với nội dung của bài thơ.
 Tựa của bài thơ là Phong Kiều Dạ Bạc, phong (érable / maple) là một loại cây có lá đỏ rực vào mùa thu (lá trên quốc kỳ của Gia Nã Đại), kiều là chiếc cầu, dạ bạc là đêm ghé bến. Tựa của bài thơ cũng đã tạo ra cả một bối cảnh không gian và thời gian phù hợp với nội dung của toàn bài thơ. Hơn nữa trong tiếng Hán chữ bạc cũng mang nhiều nghĩa khác nhau: ghé bếncập bếntrôi nổitrôi dạt nơi đất khách quê ngườikhinh bạcđạm bạckhông màng công danh lợi lộc. Do đó chữ dạ bạc có nghĩa là đỗ thuyền trong đêm và cũng có nghĩa là một đêm khinh bạc, gợi lên một cách kín đáo tâm trạng của người thi nhân. Do đó cũng có thể hiểu tựa của bài thơ là "Sự khinh bạc lợi danh trong một đêm ghé vào bến Phong Kiều".
 Tóm lạiđại ý của bài thơ là trời đã sáng, trăng đã lặn, quạ đã kêu, thế nhưng sương vẫn bao phủ đầy trời, tưởng chừng như vẫn còn trong đêm tối. Trên con thuyền neo cạnh chiếc cầu Phong, người thi nhân mang nặng một mối sầu trong lòng và thao thức bên ngọn đèn leo lét. Trong khi đó ở ngôi chùa Hàn San nơi ngoại thành Cô Tô, các nhà sư đã thức giấc và gióng chuông trong thời kinh buổi sáng. Tiếng chuông vọng đến bờ sông khiến người lữ khách "bàng hoàng" và tự hỏi "tại sao chùa lại gióng chuông vào nửa đêm như thế này?" Sương mù dầy đặc bao phủ cảnh vật hay là sự u uẩn trong lòng đã khiến người lữ khách đánh mất cả ý niệm của thời gian?
Xin tạm dịch bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc như sau:
 Đêm ghé bến Phong Kiều
 Tiếng quạ, trăng tà, sương phủ kín,
 Bên đèn thao thức một niềm đau.
 Cô Tô, vọng lại Hàn San tự,
 Nửa đêm thuyền vẳng tiếng chuông ngân.
 Hoang Phong dịch (Tô Châu, 05.09.01)
 Trương Kế (730?-780?) sinh sau Vương Duy khoảng 30 năm, và ông đã sáng tác bài thơ này vào năm 750 với tâm trạng của một "thư sinh" trong lứa tuổi hai mươi khi mới thi trượt. Dù là mang cùng "một ý" hay "mượn ý" của bài thơ Điều Minh Giản của Vương Duy đi nữa, thế nhưng bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế rõ ràng là phong phú và nhiều màu sắc hơn. Câu 1 cho thấy trời đã sáng, trăng đã lặn, quạ đã kêu, thế nhưng sương còn dầy đặc tương tự như trời vẫn còn trong đêm. Câu 2 nói lên niềm đau của một thư sinh thi trượt. Câu 3 gợi lên một khung cảnh thật buồn: tiếng chuông chùa xa xa từ chùa Hàn San vọng lại bến sông khiến người thư sinh càng thêm chua xót. Câu 4 nói lên sự cảm nhận sai lầm của người thư sinh ngỡ rằng chùa gióng chuông trong đêm. Trương Kế đã mượn sự cảm nhận sai lầm ấy để nói lên sự hoang mang và đau buồn trong lòng mình.
 Bối cảnh trong bài Điểu Minh Giản của Vương Duy là một vùng rừng núi trong một đêm thanh vắng, người thi sĩ yên lặng ngắm nhìn những cánh hoa quế héo tàn, đắm mình vào những kỷ niệm xa xưa, và không còn ý thức được là trời đã sáng, chim đã thức và hót vang trong khe suối ngày xuân. Bối cảnh trong bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế trái lại đã nêu lên những hình ảnh thật mạnh: sương mù dầy đặc trên bến sông, tiếng quạ kêu, tiếng chuông chùa văng vẳng vọng lại từ xa..., và nhất là đã nêu lên các địa danh thật chính xác mang tính cách hoài cổ, gợi lên những sự tích xa xưa: thành Cô Tô với nàng Tây Thi, chùa Hàn San với hai anh em kết nghĩa là Hàn San và Thập Đắc. Chuyện kể rằng Hàn San được cha mẹ đi hỏi vợ cho mình, thế nhưng sau đó đã khám phá ra rằng cô dâu lại là người yêu của em mình là Thập Đắc. Hàn San không muốn làm buồn lòng em nên bỏ ra đi biệt tích. Thập Đắc hay tin cũng ra đi tìm anh và đã gặp được anh tá túc trong một ngôi chùa nhỏ. Hai anh em gặp nhau, mừng mừng tủi tủi và cùng xin xuất gia trong ngôi chùa này. Người đời sau gọi ngôi chùa ấy là Hàn San tự.
 Tóm lại là hai bài thơ Điểu Minh Giản của Vương Duy và Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, dưới một góc nhìn nào đó mang nhiều nét khá tương tự nhau. Vì thế chúng ta cũng có thể nêu lên một thắc mắc là có một sự liên hệ nào giữa hai bài thơ này hay không? Như đã được đề cập trên đây, Trương Kế trước tác bài Phong Kiều Dạ Bạc vào năm 20 tuổi sau khi thi trượt, và ba năm sau đó tức là vào kỳ thi năm 753 thì ông đỗ tiến sĩ và được bổ làm quan, thế nhưng cũng chỉ là một chức quan nhỏ. Trong lúc đó thì Vương Duy đã 52 tuổi, là một thi nhân nổi tiếng và là một vị quan lớn trong triều. Sự chênh lệch về tuổi tác và tước vị đó có thể khiến nghĩ rằng giữa hai người không có một sự liên hệ mật thiết nào. Tuy nhiên cũng có thể là hai người đã từng gặp nhau dưới trướng của Hoàng đế Đường Huyền Tông, và biết đâu đã từng cùng bàn bạc với nhau về thi phú? Hoặc cũng có thể trước đó Trương Kế với tư cách là một thư sinh trẻ mến mộ Vương Duy và đã từng được nghe Vương Duy giải thích về ý nghĩa bí ẩn của bài thơ Điểu Minh Giảng? Hoặc ngược lại thì biết đâu bài Điểu Minh Giản đã được trước tác sau bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế? Trường hợp này khó xảy ra hơn, bởi vì Vương Duy là một nhà thơ lớn từng sáng tác thật nhiều, trong khi đó Trương Kế chỉ là bậc đàn em không ai biết đến, kể cả về sau này người ta cũng không biết đích xác năm sinh và năm mất của ông, và cũng chỉ biết đến ông qua bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc được trước tác trong những lúc đau buồn cực độ khi ông thi trượt. Sau đó khi ra làm quan, công danh thỏa nguyện, thì Trương Kế không còn làm được một bài thơ nào xuất sắc nữa. Do đó thật hết sức khó để nghĩ rằng Vương Duy mượn ý của Trương Kế.
 Sau hết, nếu nhìn lại các bài thơ tiếng Nôm trong văn học Việt Nam, thì bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, tuy không thuộc cùng một thể loại với hai bài thơ trên đây, thế nhưng cũng đã gợi lên một nỗi niềm u uẩn và thật kín đáo nào đó:

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2017

Bài thơ Sơn cư thu minh của Vương Duy

Bài thơ Sơn cư thu minh, của Vương Duy, đời Đường.
Không sơn tân vũ hậu,
Thiên khí vãn lai thu.
Minh nguyệt tùng gian chiếu,
Thanh tuyền thạch thương lưu.
Trúc huyền qui cán nữ,
Liễu động hạ ngư châu.
Tùy ý xuân phương yết,
Vương tôn tự khả lưu.
Dịch nghĩa:
Sau cơn mưa, cảnh núi vô cùng trống vắng,
Trời thu, hoàng hôn thời tiết mát dịu.
Trăng sáng soi rọi giữa rừng thông.
Nước suối trong xanh chảy trên khe đá.
Huyên náo trong rừng trúc, tiếng các cô giặt giũ ra về.
Mặc cho hoa cỏ thơm ngát mùa xuân không còn nữa,
Sắc thu cảnh núi mãi giữ được lòng ta.
Mỗi câu thơ đều có thể vẽ thành một bức họa, rừng thông xanh trăng sáng, trúc biếc sen xanh, lại có một đoàn người lao động lương thiện, họ đang đánh cá, giặt giũ trong một bức tranh sơn thủy tuyệt mỹ. Bài thơ được sáng tác như một khúc nhạc diễm tình tuyệt vời, lại như một bức tranh phong cảnh xinh đẹp sâu lắng, đó chính là nét nghệ thuật đặc sắc, độc đáo trong thi ca tả cảnh của Vương Duy.
dvnien sưu tầm

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Không Lộ thiền sư

Không Lộ thiền sư (? - 1119)
Copy từ http://www.luongsonbac.com/thidan/index.php?do=noidung&bid=10427, mục Cổ thi Việt Nam.
Thiền sư Dương Không Lộ, người làng Hải Thanh, huyện Giao Thuỷ (nay tỉnh Nam Định), gia đình làm nghề chài lưới, chỉ riêng ông đi tu. Sau khi học đạo Phật, ông về tu ở chùa Keo (tỉnh Thái Bình) và đi truyền đạo ở nhiều nơi trong nước. Truyền rằng thời ấy có thái tử bên Trung Quốc bị bệnh nặng, không ai chữa khỏi, phải cho mời ông. Chữa khỏi bệnh cho Thái tử, ông chỉ nhận đồng đem về nước, đúc hàng loạt chuông lớn, ban cho các nhà chùa. Do đó, nhiều làng có nghề đúc đồng đều thờ ông làm tổ sư nghề.
Thơ văn để lại chỉ còn hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán mà "Ngư nhàn" là tiêu biểu.
Ngư nhàn
Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước, vô nhân hoán
Quá ngọ tinh lai, tuyết mãn thuyền.
Dịch thơ: Cảnh nhàn của ông chài
Sông trong trời biếc muôn trùng
Một thôn dâu lúa, một vùng khói mây
Ông chài ngủ, chẳng ai lay
Quá trưa tỉnh giấc, tuyết bay đầy thuyền.
Bản dịch của Nguyên Nguyên

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Hoàng Hạc Lâu, bài thơ cuốn hút nhiều nhà thơ danh tiếng

Hoàng Hạc Lâu, bài thơ cuốn hút nhiều nhà thơ danh tiếng
Copy từ http://www.luongsonbac.com/thidan/index.php?do=noidung&bid=8104 , mục Tham khảo >> Thơ Đường.
Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, là một trong những bài thơ hay trong hàng trăm vạn bài thơ Đường .
Hoàng Hạc lâu, hay đến nỗi tài thơ như Lý Bạch, đến Hoàng Hạc lâu, thấy thơ của Thôi Hiệu đề trên vách, liền vứt bút, không dám đề thơ nữa . Giai thoại là thế, Lý Bạch là thi tiên của đời Đường, là người uống một đấu rượu làm một nghìn bài thơ (Lý Bạch, đấu tửu thi bách thiên) vậy mà phải vứt bút .
Bài thơ Hoàng Hạc Lâu có ma lực, và cái hồn của nó hay đến nhường nào vậy ? Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu nguyên văn như sau:
Hoàng Hạc Lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Dịch Nghĩa:
Lầu Hoàng Hạc
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi mất rồi
Lầu hạc vàng còn trơ lại đây
Hạc vàng một khi đã bay đi, không trở lại nữa
Mây trắng nghìn thu lởn vởn hoài ...
Mặt sông, lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi
Trời tối rồi đâu là quê hương mình
Trên sóng khói tỏa, sóng gợn, khiến người sinh buồn.
Lầu Hoàng Hạc ở góc tây nam thành Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc là một nơi sông núi kỳ vĩ, vời vợi, thời Thôi Hiệu làm thơ cũng là một nơi gần với cõi tiên hơn là cõi trần . Truyền thuyết cho rằng Phí Văn Vi tu luyện thành tiên, thường cưỡi hạc về nghỉ ở lầu Hoàng Hạc .Đó là nơi người trần thế đến bỗng thấy chênh vênh giữa cõi tiên và cõi tục . Bài thơ Thôi Hiệu ghi được nỗi cảm hoài của một kẻ lãng du, lãng tử, phiêu diêu giang hồ xa quê hương, muốn tìm đến một nơi cách biệt với cõi đời, nhưng cõi tiên nào thấy . Tiên chỉ còn lại trong truyền thuyết, trong nỗi khát khao . Trời đất tự nhiên đẹp đến mênh mang, hồn hậu ... Lúc đó chính là lúc lòng nhớ quê bổng trở nên da diết nhất, và một nỗi buồn trẩm lặng thăm thẳng cứ ngày một đậm đà thêm ...
Bài thơ còn hay về sự hồn hậu tự nhiên của tình cảm, từ dáng lầu không, mây trắng phủ lòa xoà, từ con sông tạnh phía xa xa, bãi cỏ thơm xanh rởn phía trước . Và âm nhạc, điệp từ trong bài thơ tạo ra một nỗi buồn sâu lắng, không sao dứt nổi . 
Tranh Hạc
Tản Đà đã dịch và bài dịch cho đến nay vẫn được coi là hay nhất :
Lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
Đã có rất nhiều bản dịch thơ bài này, xin giới thiệu 2 bản dịch chọn lọc sau đây:
Bản dịch của Trần Trọng San
Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy ;
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.
Bản dịch của Nguyễn Khuê
Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu,
Còn đấy Hoàng Hạc chỉ trơ lầu.
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy,
Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.
Sông tạnh Hán Dương cây lắng bóng,
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tươi màu.
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ,
Khói sóng trên sông giục khách sầu.
Cảm nghĩ của Nguyễn Du
Khi đi sứ nhà Thanh, Nguyễn Du cũng qua lầu Hoàng Hạc . Hẳn là ông có biết giai thoại Lý Bạch từng vứt bút không làm thơ ở đây . Nhưng Nguyễn Du, trước lầu Hoàng Hạc, lại có cảm nghĩ khác . Ông viết :
Hoàng Hạc Lâu
Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì
Do lưu tiên tích thử giang mi
Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng,
Hạc khứ, lâu không Thôi Hiệu thi
Hạm ngoại yên ba không diểu diểu
Nhỡn trung thảo thụ thượng y y
Trụng tình vô hạn bằng thùy tố
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri ...
(Bắc Hành Thi Tập -Bài 64)
Dịch Thơ: Lầu Hoàng Hạc
Đâu chốn thần tiên trải mấy thì ?
Dấu tiên, bờ bến dấu còn ghi
Xưa qua, nay lại Lư sinh mộng,
Hạc cũ, lầu không Thôi Hiệu thi
Khói sóng ngoài hiên còn ngát ngút
Cỏ cây trước mắt vẫn nguyên y
Lấy ai bầy tỏ tình chan chứa
Gió mát trăng trong có biết gì!
Bản dịch của Ngô Văn Phú
Bài thơ của Nguyễn Du tỉnh hơn, nhưng đã bổ sung cùng Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu , một nỗi buồn khác . Một nỗi buồn không da diết bằng, tỉnh táo hơn, lạnh lùng hơn, nhưng sự chán nản với cuộc đời xem ra lại đậm đặc hơn :
Xưa qua, nay lại Lư sinh mộng,
Hạc cũ, lầu không Thôi Hiệu thi.
Cảnh lầu Hoàng Hạc vẫn cứ mênh mang, vẫn cứ đẹp như thời Thôi Hiệu, mà nỗi cô đơn của Nguyễn Du, xem ra cũng đã tận cùng đỗi :
Lấy ai bầy tỏ tình chan chứa
Gió mát trăng trong có biết gì!
Buồn đến nỗi sông tạnh, cỏ thơm, trăng trong, gió mát cũng không hay biết nữa ...
Ngô Văn Phú