Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2010

Cầu Khe Dầu ở Quãng Bình ... lộ cốt tre

Cầu Khe Dầu ở Quãng Bình ... lộ cốt tre
Copy từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/369149/cau-khe-dau-o-quang-binh-lo--cot-tre.html#ad-image-0 , đăng ngày 19/03/10, mục Chính trị - Xã hội.
TO - Cầu Khe Dầu được xây dựng với số tiền 1,45 tỉ đồng từ nguồn vốn ADB của Dự án giảm nghèo khu vực Miền Trung tỉnh Quảng Bình. Dù mới đưa vào sử dụng từ tháng 8-2008 nhưng hiện nay cầu này đã bị hư hỏng nặng nề.
Cầu Khe Dầu ở xã Xuân Hóa, Minh Hóa.
Cầu Khe Dầu dài 43,2m, rộng 5m bắc qua suối Khe Dầu ở km 0+44,53 thuộc tuyến đường liên huyện qua xã Xuân Hóa, huyện miền núi rẻo cao Minh Hóa (tỉnh Quảng Bình), do Công ty TNHH xây dựng tổng hợp số 7 ở huyện Quảng Trạch thi công.
Tre và cót ép trong khối bê tông dưới gầm cầu.
Một chỗ bong tróc dưới gầm cầu Khe Dầu
Cầu Khe Dầu dài 43,2m, rộng 5m bắc qua suối Khe Dầu ở km 0+44,53 thuộc tuyến đường liên huyện qua xã Xuân Hóa, huyện miền núi rẻo cao Minh Hóa (tỉnh Quảng Bình), do Công ty TNHH xây dựng tổng hợp số 7 ở huyện Quảng Trạch thi công.
Theo người dân địa phương cho biết ngay từ thời gian đầu mới đưa vảo sử dụng mố cầu phía Đông đã bị sạt lở, cản trở sự đi lại của người dân trong vùng, đồng thời tuyến đường dây điện 0,4kv cạnh càu cũng bị ảnh hưởng vì sạt lở này.
Từ đầu tháng 3-2010, người dân địa phương lại cho biết ở phía dưới gầm cầu, đặc biệt là dầm cầu có nhiều chỗ bê tông bị bong tróc, nứt ra làm lộ cả cốt thép. Nhiều chỗ bê tông không có độ kết dính cao nên chỉ cần dùng tay bẻ vào là bê tông đã rã ra khỏi khối. Nhiều chỗ mặt bê tông bị nứt tạo ra khoảng rỗng với độ sâu 30-40cm.
Tại một vài chỗ rỗng như vậy, chúng tôi đã quan sát và thấy phía bên trong khối bê tông có những thanh tre và cót ép. Tại các điểm bê tông bị bong tróc, cốt thép lòi ra và đã han gỉ. Cứ sau mỗi trận mưa là nước từ mặt cầu lại thấm xuống gầm cầu. Ở nhiều điểm bê tông nứt gãy và bong tróc, nhà thầu thi công đã “xử lý” bằng kỹ thuật... trét lại xi măng.
Tuổi Trẻ Online đã tìm hiểu về sự hư hỏng khá nhanh chóng của cây cầu và được ông Đinh Văn Cơ, phó bí thư Đảng ủy, giám sát cộng đồng xã Xuân Hóa cho biết: “Trong thời gian thi công cầu, chúng tôi là người giám sát, nhưng vì công việc quá bận nên thời gian giám sát không được liên tục. Ngày thì đi, ngày phải làm việc chuyên môn cho nên quá trình giám sát không được chắc chắn. Ngày nào chúng tôi giám sát thì chất lượng làm tốt, còn những ngày chúng tôi không tham gia giám sát thì việc này chúng tôi không thể đánh giá được”.
Được biết trong nhiều năm qua khi chưa có cầu Khe Dầu, tại đoạn suối này về mùa mưa lũ, nước xiết đã lấy đi sinh mạng của nhiều người dân, khi họ phải bơi vượt suối để làm mùa.

Cầu Khe Dầu ở Quãng Bình ... lộ cốt tre

Cầu Khe Dầu ở Quãng Bình ... lộ cốt tre
Copy từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/369149/cau-khe-dau-o-quang-binh-lo--cot-tre.html#ad-image-0 , đăng ngày 19/03/10, mục Chính trị - Xã hội.
TO - Cầu Khe Dầu được xây dựng với số tiền 1,45 tỉ đồng từ nguồn vốn ADB của Dự án giảm nghèo khu vực Miền Trung tỉnh Quảng Bình. Dù mới đưa vào sử dụng từ tháng 8-2008 nhưng hiện nay cầu này đã bị hư hỏng nặng nề.
Cầu Khe Dầu ở xã Xuân Hóa, Minh Hóa.
Cầu Khe Dầu dài 43,2m, rộng 5m bắc qua suối Khe Dầu ở km 0+44,53 thuộc tuyến đường liên huyện qua xã Xuân Hóa, huyện miền núi rẻo cao Minh Hóa (tỉnh Quảng Bình), do Công ty TNHH xây dựng tổng hợp số 7 ở huyện Quảng Trạch thi công.
Tre và cót ép trong khối bê tông dưới gầm cầu.
Một chỗ bong tróc dưới gầm cầu Khe Dầu

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2010

Hiệu trưởng Sầm ... ...

Danh sách khách mua dâm của Thúy:

1. Ông Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách Tỉnh – ĐT: 0913271307

2. Ông Tô – Chủ tịch UBND Tỉnh – ĐT: 0913271133

3. Ông Tấn – Công an Tỉnh (em của 1 Giám đốc CA Tỉnh) – ĐT: 0912061622

4. Ông Định – Phó Chủ tịch Huyện Vị Xuyên

5. Ông Thành – Giám đốc Doanh nghiệp – ĐT: 0912144888

6. Ông Dũng – Lái xe Bưu điện Tỉnh

Danh sách khách mua dâm của Hằng:

1. Ông Sầm Đức Xương – Hiệu trưởng trường Việt Lâm.

2. Ông Nguyễn Trường Tô – Chủ tịch Tỉnh Hà Giang

3. Ông Đinh Xuân Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách Tỉnh Hà Giang

4. Ông Bích – Trưởng Ban tổ chức Công an Tỉnh

5. Ông Tiến – Công an Tỉnh Hà Giang

6. Ông Hướng – Cán bộ Hải quan của khẩu Thanh Thủy

7. Ông Minh – Cán bộ Công an Tỉnh Hà Giang

Đây có thể là lý do khiến nhiều diễn đàn điện tử và blog đồng loạt công bố bản chụp "Đơn kêu cứu" của nữ sinh Nguyễn Thị Thanh Thúy, một trong hai bị cáo được xem là nạn nhân. Qua bản chụp tờ đơn này, người ta có thể thấy tên, chức vụ, số điện thoại của những người mà cô Thúy tố cáo đã "mua dâm trẻ vị thành niên".

Chúng tôi đã dựa theo tài liệu vừa đề cập để thực hiện cuộc phỏng vấn đầu tiên với ông Đinh Xuân Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hà Giang:

Tôi hết sức ngỡ ngàng.Ðây là vụ việc nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tôi nên mong các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc làm rõ đúng sai

Phát biểu của Ô. Đinh Xuân Hùng đăng trên tờ Pháp Luật TPHCM ngày 29/01/2010.

Trân Văn: Thưa anh chúng tôi được biết là ở phiên xử hai nữ sinh của trường Việt Lâm, Vị Xuyên, Hà Giang, các cô có khai là có ăn nằm với một số cán bộ và viên chức trong tỉnh, anh có biết gì về chuyện này không ạ?

Ô. Đinh Xuân Hùng: ...À không ạ!

Trân Văn: Chúng tôi thấy tờ tự khai được đưa lên Internet và thấy có cả tên, cả số điện thoại của anh...

Ô. Đinh Xuân Hùng: ...Xin lỗi anh em đang bận một tí, đang có khách, đang...

Đến đây thì ông Hùng không trả lời nữa. Có lẽ cũng cần nhắc lại là hồi cuối tháng 1, khi tòa án tỉnh Hà Giang đang xử phúc thẩm, chưa tuyên hủy án sơ thẩm, trả lời tờ Pháp Luật TP.HCM, ông Hùng đã có những tuyên bố khác với nội dung mà quý vị vừa nghe. Trên số ra ngày 29 tháng 1, tờ Pháp Luật TP.HCM từng dẫn nguyên văn phát biểu của ông Hùng về vụ án:

"Tôi hết sức ngỡ ngàng. Ðây là vụ việc nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tôi nên mong các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc làm rõ đúng sai".


Những cán bộ và doanh nhân nào ở Hà Giang đã tham gia "mua dâm người chưa thành niên"? Báo chí Việt Nam chỉ nói xa, nói gần về điều này, còn giới hữu trách chưa hề lên tiếng xác nhận về sự có mặt của "danh sách" đáng chú ý đó.

Danh sách khách mua dâm của Thúy:

1. Ông Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách Tỉnh – ĐT: 0913271307

2. Ông Tô – Chủ tịch UBND Tỉnh – ĐT: 0913271133

3. Ông Tấn – Công an Tỉnh (em của 1 Giám đốc CA Tỉnh) – ĐT: 0912061622

4. Ông Định – Phó Chủ tịch Huyện Vị Xuyên

5. Ông Thành – Giám đốc Doanh nghiệp – ĐT: 0912144888

6. Ông Dũng – Lái xe Bưu điện Tỉnh

Danh sách khách mua dâm của Hằng:

1. Ông Sầm Đức Xương – Hiệu trưởng trường Việt Lâm.

2. Ông Nguyễn Trường Tô – Chủ tịch Tỉnh Hà Giang

3. Ông Đinh Xuân Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách Tỉnh Hà Giang

4. Ông Bích – Trưởng Ban tổ chức Công an Tỉnh

5. Ông Tiến – Công an Tỉnh Hà Giang

6. Ông Hướng – Cán bộ Hải quan của khẩu Thanh Thủy

7. Ông Minh – Cán bộ Công an Tỉnh Hà Giang

Đây có thể là lý do khiến nhiều diễn đàn điện tử và blog đồng loạt công bố bản chụp "Đơn kêu cứu" của nữ sinh Nguyễn Thị Thanh Thúy, một trong hai bị cáo được xem là nạn nhân. Qua bản chụp tờ đơn này, người ta có thể thấy tên, chức vụ, số điện thoại của những người mà cô Thúy tố cáo đã "mua dâm trẻ vị thành niên".

Chúng tôi đã dựa theo tài liệu vừa đề cập để thực hiện cuộc phỏng vấn đầu tiên với ông Đinh Xuân Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hà Giang:

Tôi hết sức ngỡ ngàng.Ðây là vụ việc nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tôi nên mong các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc làm rõ đúng sai

Phát biểu của Ô. Đinh Xuân Hùng đăng trên tờ Pháp Luật TPHCM ngày 29/01/2010.

Trân Văn: Thưa anh chúng tôi được biết là ở phiên xử hai nữ sinh của trường Việt Lâm, Vị Xuyên, Hà Giang, các cô có khai là có ăn nằm với một số cán bộ và viên chức trong tỉnh, anh có biết gì về chuyện này không ạ?

Ô. Đinh Xuân Hùng: ...À không ạ!

Trân Văn: Chúng tôi thấy tờ tự khai được đưa lên Internet và thấy có cả tên, cả số điện thoại của anh...

Ô. Đinh Xuân Hùng: ...Xin lỗi anh em đang bận một tí, đang có khách, đang...

Đến đây thì ông Hùng không trả lời nữa. Có lẽ cũng cần nhắc lại là hồi cuối tháng 1, khi tòa án tỉnh Hà Giang đang xử phúc thẩm, chưa tuyên hủy án sơ thẩm, trả lời tờ Pháp Luật TP.HCM, ông Hùng đã có những tuyên bố khác với nội dung mà quý vị vừa nghe. Trên số ra ngày 29 tháng 1, tờ Pháp Luật TP.HCM từng dẫn nguyên văn phát biểu của ông Hùng về vụ án:

"Tôi hết sức ngỡ ngàng. Ðây là vụ việc nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tôi nên mong các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc làm rõ đúng sai".

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010

Rắc rối việc signin.

Từ cả tháng trước Tết Canh Dần: máy ở nhà không vào
Google được, trong khi máy ở trường thì được. Vào
trang của nhạc sĩ Tuấn Khanh thây có giới thiệu freegate.
Tải về xài: giản dị, hiệu quả. Vào trang BBC thấy thích
hình "Xanh mướt miền Tây", muốn chia sẻ qua tài
khoản ở google: lại không vào được.Nó báo trang mình
tìm là "invalid". Vào bằng google in English: lại được.
Kỳ thật.

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2010

Phật sống Lưu Công Danh (5)


Chương 9

TẬP KẾT VÀ 20 NĂM TRÊN ĐẤT BẮC

Trong những ngày nhân dân cả nước nô nức mừng chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ (20.7.1954), đơn vị kinh tế của tôi được lệnh của Bộ tư lệnh giải thể, tập trung học tập các Nghị quyết của Đảng về tình hình và nhiệm vụ mới.

Xin ý kiến cấp trên, tôi họp tất cả anh em lại. Trước hết, đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gởi cho đồng bào cả nuớc, trong đó có đoạn biểu dương đồng bào Nam bộ "đi trước về sau" để tạo niềm tin, phấn khởi trong anh em. Sau đó, lập danh sách số anh em đã có gia đình tại địa phương đơn vị đóng, tổng kiểm kê tài sản của đơn vị. Số nào nộp về cho quân khu như ruộng vườn, đất đai thì nộp, số còn lại như hoa màu đang thu hoạch, nhà cửa, xuồng ghe, dụng cụ lao động… chia hết cho anh em có gia đình. Anh em nào muốn về quê, cần phương tiện ghe xuồng, cứ lấy dùng. Số anh được phân công đi tập kết hay được phân công ở lại miền Nam, đều cần một ít tiền chi tiêu, nên tất cả được chia đều ra, anh em vui vẻ cả, vì đó là công sức lao động của chính họ. Lúc đó, đơn vị nào cũng giải quyết như vậy.

Lúc ấy, sôi nổi và thời sự nhất vẫn là chuyện "đi cũng vinh quang, ở lại cũng vinh quang". Người đi tập kết có trách nhiệm xây dựng lực lượng, học tập để phục vụ cho miền Nam sau này. Người ở lại có trách nhiệm đấu tranh với kẻ thù, bảo vệ Hiệp định Giơ-ne-vơ giữ vững hòa bình, thực hiện tổng tuyển cử, xây dựng cơ sở, để sau hai năm người đi và người ở sẽ sum họp, cùng nhau xây dựng đất nước. Người ra đi thì náo nức được học tập, được gặp Bác Hồ, được thưa với Bác chuyện chiến đấu ở miền Nam. Người ở lại, luôn dặn với lòng luôn kiên cường đấu tranh, thủy chung, son sắt với người ra đi. Chuyện cứ râm ran tưởng chừng như không dứt ra được. Nhiều câu chuyện thật xúc động: Mẹ chuẩn bị tiễn con đi, vợ chuẩn bị tiễn chồng, cha chuẩn bị tiễn con… Tôi còn nhớ, một anh đi tập kết cùng chuyến, quê ở Bến Tre, kể lại câu chuyện người vợ tiễn chồng đi tập kết gói theo nắm đất. Sau này câu chuyện cảm động ấy được đưa vào thơ ca, như chuyện bà má Năm Căn, mũi Cà Mau gởi ra Hà Nội cây vú sữa tặng Bác Hồ. Bài thơ "Gói đất miền Nam" bầu bạn với tôi suốt những năm sống trên miền Bắc yêu thương:


Đưa anh tập kết lên đường

Gói theo nắm đất tình thương gởi cùng

Đất này lấy ở bờ sông

Nơi em chiến đấu gài chông giữ làng

Đất này là đất vinh quang

Đánh lui tám trận Tây càn bủa vây

Bạn bè ngã xuống nằm đây

Hy sinh. Vĩnh biệt. Đất này phủ lên

Làng ta như đất vững bền

Anh đi ruộng lúa bờ kênh nhắn lời

Dù cho núi đổi sông dời

Đất này là đất của người Việt Nam

Trao anh nắm đất anh cầm

Bữa nay, mười bốn mai rằm, đã xa

Em thề với đất làng ta

Anh đi em quyết ở nhà đấu tranh.



Theo qui định chung lúc bấy giờ, cán bộ cấp đại đội đi tập kết được mang theo vợ con. Nhưng lúc ấy vợ tôi mới sinh con chưa tròn một tuổi, hai đứa lớn, một sáu tuổi, một bốn tuổi, nên tôi bàn để vợ tôi ở lại, tôi động viên bà ấy chỉ hai năm xa cách, rồi nước nhà thống nhất, gia đình sum họp. Vợ tôi an tâm ở lại. Tôi về quê Mỹ Lâm viếng mộ ông bà, cha mẹ tôi. Thăm mẹ con Lê Thị Ngân. Rất mừng là ba đứa con vợ trước tôi đã khôn lớn. Vẫn đức tính đảm đang, dịu dàng, chịu đựng hy sinh, vợ tôi đã nuôi dạy các con tôi ý thức sống cần cù, lao động tốt. Phần đất cha tôi khai phá, nay vợ và các con tôi canh tác mỗi năm đều rất trúng. Do đó, đời sống của vợ và các con tôi khá ổn định. Tôi an tâm ra đi, càng thấy thương và khâm phục người phụ nữ tôi luôn nặng nợ ân tình.

Trở về khu tập kết ở Chắc Băng, một điều bất ngờ và thật cảm động đến với tôi. Đó là người vợ Ấn Độ, An-na Ma-ri từ Campuchia đến thăm tôi. Bà ấy cho biết nhờ quân tình nguyện Việt Nam, Chính phủ kháng chiến Campuchia mà bà được qua vùng giải phóng Long Xuyên, Châu Đốc để xuống Chắc Băng thăm tôi. Lúc đó, mẹ con Huỳnh Thị Tổng cũng đang có mặt để chờ tiễn tôi đi. Hai người phụ nữ một là nông dân chân quê của Việt Nam, một là nhà quí tộc Ấn Độ đều gắn bó với cuộc đời tôi, cùng có mặt trong những ngày lịch sử này, đã không làm tôi khó xử, vì cách cư xử của họ rất đẹp. An-na Ma-ri không thể ở lại đây lâu với tôi, nên tôi và bà ấy đã sống một đêm nghĩa tình. Tôi đã giải thích cho Ma-ri hiểu vì sao tôi bỏ cuộc sống tu Phật để đi theo kháng chiến. Ma-ri không hề trách tôi vì đã bỏ mẹ con bà gần mười năm trời, mà trái lại, người phụ nữ có học thức này còn khuyến khích tinh thần yêu nước của tôi. Giải thích vì sao bà không trách tôi đã ra đi không một lời từ biệt, Ana Mari nói đi theo Phật, pháp tăng là hướng tới chân tâm, thánh thiện của con người, giác ngộ đi theo cách mạng cũng hướng tới những điều ấy, mà còn có ý thức lớn hơn là giải phóng đất nước và dân tộc. Ma-ri đã chịu ảnh hưởng gia đình của nhà chính khách Nê-ru (dượng rể của vợ tôi). Ông cũng đã lãnh đạo nhân dân Ấn Độ giành độc lập cho Ấn Độ. Những ý nghĩ tiến bộ và lời nói của An-na Ma-ri làm tôi thấy bà gần gũi hơnkhông chỉ là tình vợ chồng, mà còn có cả tình đồng chí trong sự đồng cảm và sẻ chia sâu sắc.

Trong bữa cơm chia tay "đại gia đình" (tôi và hai bà vợ) tôi làm phiên dịch tiếng Việt và tiếng Ấn Độ cho hai người nói chuyện với nhau. Thỉnh thoảng có những tiếng cười rất vui. Hôm sau, Ma-ri trở ra Rạch Giá, xe hơi của người nhà đón tại Tân Hiệp, để trở lại Phnôm-Pênh. Tôi nhờ Ma-ri chuyển lời hỏi thăm sức khỏe, xin lỗi và cảm ơn của tôi đến cha mẹ vợ ở Phnôm-Pênh.

Tôi đi tập kết chuyến cuối năm 1954 trên chiếc tàu Ki-lin-xki của Ba Lan. Đầu năm 1955 tôi ra đến Sầm Sơn. Anh em miền Nam tập kết ra Bắc được tập trung học tập tình hình, nhiệm vụ mới. Học xong, các đơn vị miền Tây được lệnh giải thể. Các anh em miền Nam gom lại lập những xí nghiệp thủ công nghiệp và về khu 4 thành lập các nông trường.


Tôi về nông trường cà phê ở Thanh Hóa. Vì có kinh nghiệm làm kinh tế lúc ở miền Tây và lúc quản lý anh em trại Đề lao binh làm lao động, tôi thấy mình có thể làm được công việc ở nông trường cà phê.

Đất nước mới thoát khỏi chiến tranh, mọi thứ đều khó khăn thiếu thốn. Tôi nói với anh em: trước hết phải lo xây dựng nông trường bộ để có chỗ ăn, ở, làm việc lâu dài, chuyện gánh đất, xây lò gạch là công việc nặng nhọc, tôi đảm nhận. Địa bàn Thanh Hóa thuộc quyền quản lý của Sư đoàn 330 của miền Đông Nam bộ, do anh Đồng Văn Cống làm Tư lệnh. Tôi từng nghe tên anh Đồng Văn Cống mà chưa có dịp tiếp xúc. Nghe nói anh trưởng thành từ một du kích xã, nên anh có vốn thực tiễn thật phong phú và sống rất bình dân, gần gũi với mọi người, luôn quan tâm đến thuộc cấp.


Khi anh đến nông trường bộ, tôi không biết, nên đã đi gánh đất. Anh tiếp xúc với anh em nông trường, nghe anh em kể tôi từng đi tu đắc đạo ở Ấn Độ, trở về nước tham gia kháng chiến, anh Đồng Văn Cống muốn gặp cho biết tôi là người như thế nào. Thấy tôi gánh đất, mặt mũi nhem nhuốc, mồ hôi nhễ nhại, anh rất cảm động và dành cho tôi một tình cảm đặc biệt, mà lúc đó tôi chưa biết. Anh chỉ thăm, rồi đi. Sau đó, tôi được mời về văn phòng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 330. Anh em nhìn tôi bằng cái nhìn trìu mến. Lúc đó, tôi mới biết anh Đồng Văn Cống đã hiểu tôi qua anh em nông trường và đã báo cáo tình hình của tôi về Tổng cục Chính trị. Tôi trở thành một "người khách đặc biệt" tại văn phòng Bộ Tư lệnh, ăn cơm và uống rượu với Tư lệnh Sư đoàn.

Sau đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cho người về nông trường cà-phê tại Thanh Hóa đón tôi ra Hà Nội. Mọi sự diễn biến khá nhanh và hơi đột ngột với tôi. Tôi cứ nghĩ khi đơn vị giải thể, chuyển anh em đi làm kinh tế, đi lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là hợp lý. Nhưng tại sao tôi lại được gọi về Hà Nội đột ngột, hay là khi Ma-ri về Phnôm-Pênh nói với cha vợ tôi, tôi đi tập kết, cha vợ tôi lại nhờ sứ quán Ấn Độ can thiệp để được gặp tôi, như ông từng làm trước đó, lúc tôi ở Anh quốc?

Tôi đang suy nghĩ mông lung, thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh hỏi tôi về nguồn gốc gia nhập quân đội. Vị tướng trẻ tuổi và tài năng này có giọng nói trầm ấm và có cái nhìn cương nghị nhưng trìu mến, đã tạo cho tôi cảm giác đầy tin cậy khi trò chuyện. Tôi đã kể lại tường tận việc đi tu phật của tôi trên đất nước Ấn Độ và chuyện riêng tư của tôi. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh hỏi tôi:


- Anh có muốn trở lại Ấn Độ không? Ấn Độ ngày nay đã giành được độc lập, không còn dưới thời nô lệ như xưa nữa.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng cho tôi biết về tình cảm của Bác Hồ chúng ta và thủ tướng Ấn Độ Nê-ru, tình đoàn kết giữa nhân dân hai đất nước.

Tôi trả lời:

- Tôi vì hoàn cảnh mà phải xa đất nước, rồi đi tu Phật cũng do bế tắc về phương hướng cuộc đời mà đi. Tôi là người Việt Nam. Giờ đây tôi đang ở đất nước mình, tôi muốn được làm việc gì cho ích nước lợi dân. Điều này trong kinh Phật cũng có dạy. Tôi cởi áo cà sa để khoác áo kháng chiến. Tôi đã thề dưới cờ Đảng một lòng tận trung với nước, với lý tưởng Đảng. Tôi trở về Ấn Độ để làm gì?

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhìn tôi trìu mến, niềm xúc động ánh lên trong tia nhìn ấy. Suy nghĩ một lát, đại tướng hỏi tôi:

- Anh có muốn đi học không?


Tôi mừng quá. Tất nhiên là tôi muốn và rất muốn nữa là đằng khác. Tôi trả lời ngay là muốn. Tôi chưa từng được học qua một trường lớp đàng hoàng. Từ nhỏ sống lênh đênh trên sông nước, học lóm bạn bè, học thực tế từ công việc là nhiều, đi tu phật thì học kinh kệ. Tôi tự biết mình trình độ còn thấp kém. Muốn phục vụ tốt cho cách mạng, cho đất nước, phải học tập.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nghe vậy rất vui. Theo cách Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nghĩ thì cấp bậc đại úy như tôi lúc đó, trong quân đội đang còn hiếm. Cấp này phải bố trí chức vụ lãnh đạo Trung đoàn, ít nhất cũng là Tiểu đoàn trưởng.

Thỏa thuận việc đi học trước tiên như thế. Chẳng bao lâu, tôi được cấp hộ chiếu để đi tu nghiệp ở Liên-Xô, tại Học viện quân sự và chính trị của quân đội Xô-viết. Được đi học tập trên đất nước của cách mạng Tháng Mười vĩ đại và đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa, là niềm khát khao và vinh dự lớn đối với tôi. Tôi đã có may mắn này, thì phải ra sức học tập để phục vụ tốt hơn cho đất nước.


Nhưng việc học tập của tôi không suôn sẻ. Gần một năm trời ở Học viện hầu như tôi không tiếp thu được những bài học liên quan đến lý luận, khoa học quân sự, cái cơ bản để người lính chiến đấu thắng lợi ở chiến trường.

Đại sứ quán ta ở Liên-xô được nhà trường thông báo tình hình học tập của tôi. Lúc ấy đại sứ tại Liên-xô là anh Nguyễn Văn Kỉnh. Anh tìm hiểu việc học của tôi rồi hết sức động viên tôi. Lúc ấy, chiến dịch "Tố cộng" và "Diệt cộng" của Mỹ-Diệm, máy chém được lê đi khắp miền Nam. Các anh băn khoăn không biết có phải vì nghe tin đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ở miền Nam đang bị giặc đàn áp khốc liệt và đang quật khởi vùng lên, tôi có thể vì thế mà nóng lòng, không an tâm học tập. Anh Nguyễn Văn Kỉnh động viên và giải thích: Học cũng là một nhiệm vụ, học để sau này về chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lời anh nói thấm vào gan ruột tôi. Nhưng thêm một học kỳ nữa, tất cả là ba học kỳ, trong các buổi thi, tôi chưa bao giờ bắn được một viên đạn thật trúng vào mục tiêu; thi lại lần thứ hai cũng như thế. Tôi đã học thuộc và chuẩn bị trước giáo trình, nhưng cũng không trình bày được một trận đánh nào có sẵn trong giáo trình, kể cả thế trận trình bày trước sa bàn. Nghĩa là mọi thứ có liên quan đến trận mạc, đánh chác, đều trôi tuột trong đầu tôi. Tôi đã thật lòng báo cáo với lãnh đạo là: Tôi đau đớn vì ở quê nhà kẻ thù sát hại đồng chí, đồng bào ta. Tôi đã nghe vụ thảm sát chợ Được, Vĩnh Trinh, vụ đầu độc tù nhân Phú Lợi, tôi đã quyết tâm học tập, để tham gia chiến đấu, trả thù cho quê hương, đồng bào, đồng chí, chứ không phải tôi học thiếu tập trung.


Cuối cùng, tôi được quyết định về nước, để chuyển hướng đào tạo khác. Mấy anh em quen thân gặp tôi băn khoăn chuyện này, sợ tôi sẽ bị kỷ luật, mất Đảng. Nhưng tổ chức đã không hành xử với tôi như vậy. Tôi luôn áy náy vì mình không hoàn thành nhiệm vụ. Tâm sự của tôi được anh em có trách nhiệm báo cáo lên cấp trên.

Vì có quá trình đi tu, nên tổ chức chuyển cho tôi hướng bổ sung cho Hội phật giáo Việt Nam. Từ Liên-Xô về nước, tôi được đưa đến tạm trú tại chùa Quán sứ - Hà Nội. Ở đây ba tháng, tôi không có ý định đi tu lần nữa, nên đã báo cáo với cấp trên. Sau đó, tôi được đưa một danh sách các cơ quan đang cần người phụ trách, để tôi lựa chọn cho thích hợp.


Tôi thấy mình luôn được sự ưu ái, nên đã quyết định chọn một nghề phù hợp với khả năng của mình và với công việc đó, tôi sẽ phục vụ được cho đất nước, góp phần nhỏ của mình cho cuộc đấu tranh thống nhất Bắc - Nam. Lúc đó, tất cả những người con miền Nam trên đất Bắc đều mang tình cảm và ước vọng như tôi. Tôi đề nghị được nhận công việc tại hợp tác xã xe ba gác vận chuyển vật liệu xây dựng tại bãi Phúc Xá. Tôi được bầu làm bí thư chi bộ và chủ nhiệm hợp tác xã. Đây là thời kỳ miền Bắc nước ta bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Thời kỳ gian khổ ban đầu như anh Tố Hữu viết:

Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá

Mỗi hòn than, mẩu sắt, cân ngô

Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ.


Cuộc sống gian khổ, khó khăn của những năm đầu miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa như thế, còn miền Nam thì rên xiết, khổ đau dưới gót giày quân bán nước và xâm lược. Hợp tác xã tôi phụ trách, có nhiều anh em quê miền Nam và miền Bắc, chúng tôi sống với nhau bằng tình ruột thịt. Sau giờ lao động, đêm về, tôi đến nhà các xã viên thăm, động viên anh em và nghe đài, đọc báo để biết tin tức miền Nam. "Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc", được đưa vào học trong nhà trường, được các cháu học sinh trường miền Nam số 12 chuyển đến cho chúng tôi đọc chung.

Năm 1964, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã lan ra miền Bắc. Thuốc trị bệnh và chữa các vết thương do bom đạn cho cán bộ, nhân dân cũng rất kham hiếm. Tôi nghĩ đến những bài thuốc Nam đã tích lũy, học được khi đi tu trong rừng Ấn Độ. Tôi bàn với anh em trong ban chủ nhiệm cáng đáng công việc giúp tôi, để tôi có thời gian đi tìm lá thuốc. Thời gian đầu, chỉ chữa trị kết quả cho mươi mười lăm người, rồi sau đó, cứ "tiếng lành đồn xa", bà con cứ đến chỗ tôi ở làm việc ở bãi Phúc Xá xếp hàng xin thuốc. Dù là chữa trị bệnh (cảm mạo, thương hàn, gãy chân, tay, đau khớp, đau gan…) bằng thuốc Nam, không mất tiền, nhưng khi bệnh nhân tới, ngoài việc cho thuốc, hướng dẫn cách trị, tôi còn chỉ cho bà con các loại cây thuốc xung quanh, dễ tìm để bà con bệnh nhân tự tìm trị, nên nhiều người rất thích. Nhiều bệnh nhân được chữa khỏi trở lại trả tiền hoặc khi nhận thuốc đã đề nghị trả tiền cho tôi, tôi không bao giờ nhận của bất cứ bệnh nhân nào, dù chỉ một đồng bạc mà họ cho là ơn nghĩa. Tôi giải thích cho họ an tâm: Tôi làm việc có lương Nhà nước. Nghe vậy, nhiều người nghĩ tôi là cán bộ trong biên chế của ngành y tế chớ không phải ở hợp tác xã xe ba gác. Thấy tôi trị bệnh có hiệu quả cao cho nhân dân và cả một số cán bộ, chiến sĩ nên anh chị em trong ban chủ nhiệm hợp tác xã đã làm thay nhiều công việc cho tôi để tôi có thời gian làm thầy thuốc, chữa bệnh cứu người.


Chuyện chữa bệnh của tôi lúc đó xem như công việc tay trái, việc chính vẫn là chủ nhiệm hợp tác xã. Chuyện tay trái này đôi lúc cũng nhiều trái ngang và buồn cười. Có tin tôi trị khỏi nhiều loại bệnh, một số cán bộ không có thời gian đi khám và điều trị tại chỗ tôi, nên đã cho xe đến đón tôi tận nhà để trị bệnh. Tôi sẵn sàng đi và chăm sóc các bệnh nhân như vậy. Do đó, chuyện chữa bệnh "mát tay" của tôi lan đi nhiều nơi và được nhiều người biết, trong đó có cả cán bộ cao cấp. Bộ Y tế đã cử người đến kiểm tra, họ thấy tôi không có giấy phép hành nghề; các món thuốc chỉ là các loại lá cây khô, dồn vào mấy cái bị lớn nhỏ đủ cỡ. Có ý kiến cho rằng tôi là lang băm bịp người. Đến khi tìm hiểu cặn kẽ, họ biết tôi làm việc tại hợp tác xã xe ba gác, tôi trị bệnh hết cho rất nhiều người và không lấy tiền, họ mới báo cáo cụ thể cho Bộ trưởng Bộ Y tế, lúc đó là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Bộ trưởng giao trách nhiệm cho Vụ dược chính và Ban đông y tới làm việc với tôi. Các cán bộ chuyên môn này làm việc cẩn trọng. Họ lấy toàn bộ các loại lá cây tôi dùng chữa bệnh, kêu tôi dịch ra tiếng Việt, thì tôi không biết tên, chỉ nhớ theo trí nhớ của mình khi trị bệnh trong rừng, biết đó là cây có vị thuốc tên Ấn Độ còn tên Việt là gì thì tôi không biết.

Tôi nghĩ việc chữa bệnh của tôi bằng lá cây chắc chấm dứt từ vụ kiểm tra này, nhưng không phải vậy. Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã chỉ thị cho Vụ dược chính cử một cán bộ chuyên môn theo tôi lên rừng, chụp hình các loại thuốc tôi đã hái, dịch tên Ấn Độ qua tên Việt Nam, vào sổ thành một danh mục cẩn thận và qui trình tôi sử dụng nó như thế nào vào việc chữa trị các loại bệnh. Tôi thật mừng. Vì công việc chữa bệnh cứu người bằng cây lá không tốn kém tiền bạc của tôi đã được cơ quan chuyên môn (Bộ Y tế) chấp nhận và quan tâm, giúp đỡ. Từ đây, "việc giúp cho đời" của tôi không có gì trở ngại nữa. Hay tin này, anh chị em đồng hương miền Nam khuyến khích tôi lắm. Nhiều người bệnh được tôi chữa khỏi, đã tích cực tìm cây thuốc giúp tôi. Bạn bè đi công tác ở vùng cao cũng nhờ dân địa phương tìm giúp, kho thuốc của tôi vì thế mà nhiều và phong phú thêm.

Năm 1962, tôi bước vào tuổi sáu mươi hai, tôi không làm chủ nhiệm hợp tác xã xe ba gác nữa, tôi được chuyển qua cơ quan nghiên cứu đông y của Ban đông y, Bộ Y tế. Nói là nghiên cứu thì phải có các bài viết đúc kết kinh nghiệm thực tiễn về chữa trị bệnh bằng phương pháp đông y có hiệu quả và còn hạn chế như thế nào hoặc có công trình nghiên cứu về các loại cây thuốc nam v.v… nhưng tôi vốn không phải là người viết lách giỏi ở lĩnh vực này, nên công việc chủ yếu của tôi là chữa bệnh bằng kinh nghiệm thực tế. Tình hình thuốc Tây còn kham hiếm, hơn nữa đất nước vẫn còn nghèo, một nửa đang chiến tranh, cần sự chi viện, hỗ trợ của hậu phương miền Bắc, nên miền Bắc phải thắt lưng buộc bụng vì miền Nam. Vì vậy, chữa bệnh bằng cây thuốc nam có hiệu quả, là đã tiết kiệm được một phần ngân sách cho Nhà nước. Tôi thấy công việc mình làm có ý nghĩa như vậy, nên rất vui vẻ, không nhận thù lao, không nhận bất cứ đồng bạc nào của bệnh nhân. Bệnh nhân thì nhiều, không sao nhớ hết, nhưng có những trường hợp cảm động, khiến tôi nhớ mãi.

Dạo còn ở khu Ba Đình, gần nhà tôi có một cửa hàng bán gạo. Hàng tháng mua gạo, phải đứng xếp hàng. Cô nhân viên bán gạo, thấy tháng nào cũng có một ông già miền Nam đi một mình đến xếp hàng mua gạo, cô hỏi thăm, biết tôi ở một mình, phải đi chợ, tự nấu ăn và làm mọi thứ. Cô thông cảm và đề nghị được nhận giữ sổ gạo của tôi, để hàng tháng cô đong sẵn tôi đến lấy, hoặc tiện thể cô chở về nhà hộ tôi. Đôi lần ghé lại, cô thấy tôi chữa bệnh cho nhiều bệnh nhân, cô mới mạnh dạn tâm sự là cô đang có khối u ác tính ở vú, người ta đoán là ung thư. Cô không dám nhận lời yêu người thanh niên đang hết lòng yêu thương cô, vì sợ mình không mang lại hạnh phúc cho người ấy. Thấy cô tuyệt vọng thật là tội nghiệp. Tôi an ủi cô:


- Cháu an tâm. Bệnh này mới ở giai đoạn đầu, bác sẽ chữa khỏi cho cháu, để cháu có gia đình, có con cái và hạnh phúc.

Nghe vậy, cô gái bật khóc và nói như van nài:

- Bác ơi! Bác cứu cháu với. Mọi người nói bệnh này chỉ có chờ chết và trị tốn kém lắm. Cháu đâu có tiền mà hy vọng sống.

Tôi nói quả quyết để trấn an cô gái "Cháu hãy tin, bác nói chữa được là được". Gương mặt cô gái bừng sáng.

Hàng ngày cô vẫn đi làm, cô tạt qua chỗ tôi nhận thuốc về nấu uống và đắp thuốc. Khoảng ba tháng sau, khối u biến mất. Cô mừng quá, đến xá, lạy tôi và xin tôi nhận cô làm con nuôi. Hai năm sau cô có gia đình và sinh được hai đứa con một gái, một trai. Ngày nghỉ, vợ chồng cô đưa các con đến chơi, chúng gọi tôi bằng ông ngoại thật vui.


Một bệnh nhân khác, quê ở Phù Mỹ, Bình Định, đi tập kết, lấy vợ người Yên Dũng, Hà Bắc, có đến năm đứa con. Cậu này bị bệnh viêm thần kinh tọa, gây đau nhức và teo cơ cả hai chân, một chân bị liệt chỉ còn da bọc xương. Anh em đồng hương miền Nam đến thăm, cậu khóc, vì nghĩ mình sẽ chết trên đất Bắc, không nhìn thấy được ngày Bắc Nam sum họp. Mọi người an ủi. Cậu ta kể đã đi điều trị hết tất cả các bệnh viện đông tây y tám năm liền mà bệnh không thuyên giảm. Tôi kêu người nhà cậu ta chở đến nhà tôi, ở hẳn đó cho tôi theo dõi và chữa trị.

"Con bệnh" này thật dễ thương, nghe răm rắp theo thầy thuốc và rất có nghị lực, siêng năng tập tành. Thế là sau ba tháng điều trị, cậu ta lên được hơn 8 kí lô. Người nhà đến đón về, mặt ai cũng tươi rói. Gần một tháng sau, từ Hà Bắc, cậu chở 30 kg gạo về Hà Nội cho tôi. Hôm đó, có anh em miền Nam đến chơi, người con nuôi của tôi là Lưu Tấn Đức công tác ở Sơn La về, gửi cho tôi một gùi thuốc nam, đã chứng kiến cảnh "hồi sinh" của cậu bệnh nhân này, mọi người vui mừng và kinh ngạc khi nhìn đôi chân teo tóp trước đây, nay đầy đặn và đạp xe mấy chục cây số, còn chở 30 kg gạo cho tôi. Một bác sĩ ở bệnh viện E Hà Nội, bằng tấm lòng lương y, đã viết thư biểu dương, khuyến khích tôi tiếp tục làm nghề, có gì khó khăn cứ đề xuất cho Bộ Y tế hỗ trợ. Tôi nói với anh em và cả các con nuôi của tôi:


- Làm gì giúp ích cho con người thì cứ làm. Đừng đòi hỏi hay mong chờ người ta báo đáp, đừng lợi dụng nghề nghịệp mà bóc lột bệnh nhân là không có đạo đức.

Từ mấy ca bệnh hiểm nghèo này được tôi chữa khỏi, có người kêu tôi kể cho họ nghe để họ viết bài, gởi báo y học thế giới lãnh nhuận bút xài, tôi cũng nói lại lời đã nói với các cháu tôi. Sau đó một linh mục đến gặp tôi, nhờ tôi chữa bệnh cho một cha xứ ở khu 4 (Thanh Hóa) bị bệnh tràng nhạc (nổi hạch độc quanh cổ), đây là một dạng ung thư. Tôi đã trị khỏi. Vị cha xứ này nói:

- Nếu ông cần mua một căn nhà ở Hà Nội, tôi mua ngay để đền ơn ông. Tôi nói với ông ấy: "Tôi ở nhà Nhà nước và Nhà nước phát lương cho tôi. Tôi biết trị bệnh là trị cho dân, trách nhiệm của tôi".


Vị linh mục này biết tôi từng đi tu phật, nên sau khi cảm ơn và chia tay tôi, ông đã nói: "Các bậc chân tu thánh thiện của Phật giáo hay Thiên Chúa giáo đều muốn làm cho đẹp đời, đẹp đạo, đều vì con người và cứu người". Tôi không giải thích gì, nhưng cảm thấy mừng vì trong nhận thức, người ta không còn phân biệt giữa hệ tu này, tu khác, mà đã nhận ra chân tu là hướng cái tâm về chân, thiện, mỹ.

Năm 1964, giặc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Lúc này tôi đã nghỉ hưu, chuyển về ở Nghĩa Đô. Lúc bấy giờ, anh em miền Nam tập kết cùng cán bộ miền Bắc đã có nhiều đợt đi B (vào miền Nam chiến đấu). Nhà tôi ở Nghĩa Đô, thường là điểm hẹn của anh em đồng hương về miền Nam. Mỗi lần gặp nhau, anh em ngồi vây quanh chiếc đài bán dẫn (ra-đi-ô) để nghe tin tức miền Nam. Nghe tin chiến thắng là anh em ôm nhau mừng, nhảy hét hò như trẻ con vậy. Còn tin giặc thảm sát đồng bào ta, cùng đồng bào cả miền Bắc, anh em cũng hô muốn bể lồng ngực: "Tất cả cho miền Nam, tất cả để đánh thắng quân thù”. Lúc ấy, trên đài có chương trình "Tiếng hát gởi về Nam". Nghe thật tha thiết, tình cảm Nam Bắc thật thiêng liêng, ở Hà Nội có hẳn một con đường mang tên Nam Bộ. Tôi nhớ có lần Huỳnh Thiện Phương, trước khi đi B, ghé lại nhà, kêu tôi đặt trúm, bắt lươn về nấu canh chua để anh em ăn chia tay. Trong bữa cơm, anh em hứa hẹn với nhau, mỗi người về Nam, làm việc gấp đôi, gấp ba cho người còn ở lại (Thiện Phương sau này phụ trách tham mưu trưởng Sư đoàn 8). Sau này, thành nếp quen một vài tuần, anh em lại kéo đến nhà tôi. Còn tôi, có nhiệm vụ "tự túc" lương thực, thực phẩm chờ anh em đến để bồi dưỡng, rồi anh em lại chia tay mỗi người mỗi ngả. Có người về Nam chiến đấu, vĩnh viễn ra đi…


Khi tôi không còn làm việc ở cơ sở nghiên cứu đông y, các bệnh nhân vẫn tìm đến Nghĩa Đô nhờ tôi chữa bệnh.

Một hôm trong lúc đi phố ở Hà Nội, tôi tình cờ gặp một người đàn ông đang được người đàn bà dắt đi một cách khó nhọc. Người đàn ông bị méo miệng,tay run rẩy hay co giật, chân đi lựng khựng từng bước một. Tôi đi theo họ, quan sát và nói:
- Bệnh của anh, tôi sẽ chữa khỏi. Anh về, nói người nhà đưa đến nhà tôi.

Tôi nói và lấy bao diêm quẹt, ghi địa chỉ nhà cho anh ấy đến. Hôm sau họ đến, tôi mới biết cả hai là vợ chồng và đều là bác sĩ cùng làm việc ở Đại học Y Dược Hà Nội. Bệnh của anh được chữa rất nhiều thuốc nhưng không thuyên giảm. Có người khuyên tôi:


- Người ta là bác sĩ. Nhiều bác sĩ đã chữa không hết. Anh nhận chữa sẽ mất uy tín đó!

Tôi giải thích cho mọi người hiểu đây không phải là vấn đề uy tín (tất nhiên tôi luôn trọng uy tín và danh dự thầy thuốc của mình), mà vấn đề cứu người là trên hết, nếu làm hết cách, mà không được thì chịu bó tay.

Bằng phương pháp bấm huyệt kết hợp với đánh thuốc cao (cây thuốc nấu thành cao) và thuốc rượu, mỗi lần 15 phút, làm liên tục khoảng 10 lần như vậy, miệng người bác sĩ này hết méo, tay hết co giật; chân đi lại bình thường. Hôm ấy nhà tôi có nhiều bệnh nhân. Anh ta vừa chạy quanh sân vừa vung tay cho mọi người xem. Vợ anh mừng quá kêu lên:

- Cụ ơi! Mọi ngày, cháu còn phải đút cơm cho anh ăn. Mọi sinh hoạt đều phải có người giúp.


Nghe chị vợ nói, tôi lật đật vào bếp bới chén cơm và mời anh ăn. Anh ta tự bưng chén và cầm đũa ăn ngon lành (có lẽ vì mừng nên anh ăn ngon như vậy).

Thấy bệnh nhân hết bệnh vui, tôi cũng vui lây. Vào thời điểm này, thuốc đã hết và nhiều vị thiếu, vì bệnh nhân đến chỗ tôi ngày càng đông. Hay tin này, nhiều anh em đi công tác các tỉnh vùng núi, trung du, trong đó có những bệnh nhân tôi điều trị khỏi, đã xung phong đi tìm thuốc giúp tôi, để tôi có thời gian trị bệnh. Có người gùi đến cả bao. Thấy vậy, tôi đòi trả tiền công, họ kêu lên:


- Trời ơi! Ông bỏ công trị bệnh cho mọi người, không lấy của ai một xu, chúng tôi giúp ông tìm thuốc mới đúng đạo lý con người chớ!

Nhờ có nguồn thuốc mới này, tôi trị được cho vài chục bệnh nhân nữa, trong đó có một ca khi gặp tôi đã trăn trối:

- Anh Ba ơi! Chắc em không trở về miền Nam được rồi! Hai đứa con em còn ở lại miền Bắc, có gì anh thay mặt em, dạy bảo các cháu! Đứa nào có vợ, anh làm chủ hôn…

Nghe anh ta nói vậy, tôi đến xoa lên cái bụng đang sưng như cái trống chầu của anh và đùa:

- Sao, có thai tháng thứ mấy, tôi đỡ đẻ cho. Nói vậy chớ bệnh của anh tôi cho uống 150 thang thuốc, 149 thang cũng không khỏi.

Hai người con trai anh này vừa tốt nghiệp trường sĩ quan ra. Thấy ba mình bệnh, mặt hai cậu buồn rũ. Tôi an ủi:
- Hai cháu cứ về đơn vị làm việc. Để ba cháu lại bác nấu cho đủ 150 thang thuốc để ba cháu uống xong là vượt Trường Sơn về Nam cùng bác.


Người bệnh đặc biệt này của tôi hiện còn sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Thỉnh thoảng kêu các con chở về Rạch Giá thăm tôi. Lần gần nhất, cách đây cũng bảy năm rồi.

Lần chữa bệnh này được xem là lần cuối cũng trên đất Bắc, thật đặc biệt và xúc động. Hôm ấy khoảng giữa tháng Chạp năm 1974, có một đoàn sĩ quan cao cấp trong Quân đội đến nhà tôi, trong đó có một số anh em đồng hương miền Nam. Thấy tôi đang nấu thuốc cho bệnh nhân, anh em chào tôi và nói:

- Miền Nam thắng lớn như chẻ tre. Anh truyền nghề cho một số anh chị em ở tại miền Bắc, còn anh thì chuẩn bị về miền Nam, ngày giải phóng miền Nam gần lắm rồi!

Trong nhà tôi có treo một bản đồ Việt Nam. Hàng ngày, tôi theo dõi trên đài, giải phóng tới đâu, tôi lấy bút chì đỏ tô màu đến đó. Người con nuôi của tôi là kiến trúc sư, mỗi lần về thăm tôi, đều mang sách báo viết về miền Nam cho tôi đọc. Tôi thích tập thơ Nước non ngàn dặm của anh Tố Hữu. Tôi đọc hoài đến thuộc làu. Nghe anh em nói vậy, tôi liền đọc mấy câu thơ Tố Hữu nói đúng tâm trạng mình:


Nửa đời tóc ngả màu sương
Nhớ quê anh lại tìm đường thăm quê
Đường về như tỉnh như mê
Đường ra phía trước đường về tuổi xanh
Đã đi muôn dặm xa gần
Nay về Nam cũng bước chân bồi hồi
Sông Bến Hải bên bồi bên lở
Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương…

Anh em đồng thanh đọc với tôi. Mấy anh em quê miền Nam rơm rớm nước mắt. Vì là bí mật quân sự, hơn nữa tôi biết anh em đang chuẩn bị đi chiến trường nên tôi không hỏi bất cứ tên ai trong đoàn, tôi nói với tất cả:

- Tôi biết anh em mình đã được kiểm tra sức khỏe đặc biệt trước khi đi đánh một trận cuối cùng giành thằng lợi quyết định. Bây giờ anh em nào cần tôi giúp gì, khó khăn như thế nào tôi cũng sẽ làm được.


Một anh cho biết có chứng mất ngủ cả chục năm nay; anh khác bị viêm đầu thống, anh thì bao tử, anh thì đại tràng, anh khác tiểu gắt, thận… Tất cả đều đã được chữa trị ở nước ngoài. Nhìn những gương mặt gọi là bệnh nhân mà tươi rói ấy, tôi biết các anh đang nóng lòng về miền Nam để "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" để Bắc Nam sum họp như mong ước của Bác Hồ xóa nỗi đau đất nước bị chia cắt 20 năm.

Lần chữa bệnh ấy, anh em chia tay nhau. Sau này, tất cả anh em có liên hệ lại và cho tôi biết, bệnh của họ đã khỏi ngay sau lần trị đó nên tất cả đều phấn khởi và mong gặp tôi tại thành phố mang tên Bác.

Đúng như lời hẹn ước trong lần chữa bệnh cho anh em đi chiến đấu ở miền Nam, ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước toàn thắng. Tôi vẫn là người không có tài sản, chỉ có tấm lòng đi theo Đảng và một nghề làm thầy thuốc chữa bệnh cứu người nên một tháng sau ngày giải phóng, tôi một thân một mình, nhảy xe theo bạn bè về Nam.


Hai mươi năm trên đất Bắc, hậu phương lớn nuôi tôi và những đứa con miền Nam, bằng những hạt gạo ân tình còn sẻ nửa cho miền Nam chiến đấu. Vì miền Nam lớp lớp thanh niên miền Bắc "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Nôn nao nỗi nhớ quê nhà hai mươi năm xa cách, nhưng xa nơi gắn bó hai mươi năm, lòng lại bồi hồi, thật khó tả. Người ta nói "đất hóa tâm hồn" đúng là vậy!

(Còn tiếp)

Nguồn: Phật sống Lưu Công Danh. Nguyễn Thị Thanh Xuân ghi. NXB Văn học, 2003. Tái bản, 2005.

Phật sống Lưu Công Danh (4)

Chương 7

THAM GIA KHÁNG CHIẾN

Việt Nam đã giành được độc lập rồi! Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào sáng mùng 2 tháng 9 năm 1945. Những người dân Việt Nam tha hương ở Campuchia, từ lâu đau đáu nỗi nhớ về quê nhà, nay hay tin đất nước độc lập, đã tìm những người đồng hương trên đất khách quê người để báo tin vui: “Nước mình độc lập rồi! Chúng ta đã có một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!”. Họ nói tiếng Việt với nhau, họ nói tiếng Campuchia cho những người bạn, những người anh em cùng có một kẻ thù chung biết.

Tôi ngồi thiền nơi cửa Phật, mà trái tim rung lên trước tin vui to lớn này. Tôi sẽ trở về quê hương, sẽ trở về Tổ quốc sau hơn mười năm xa cách, nhớ thương. Tôi sẽ cùng nhân dân mình tham gia kháng chiến, phải đánh đuổi cho bằng hết bọn đế quốc thực dân. Bây giờ không ai có thể săn đuổi, bắt bớ tôi nữa. Nước mắt tôi chảy chan hòa, thấm xuống áo cà sa. Những người đến lễ chùa không ai để ý vị sư trụ trì đang ngồi trước mặt họ đã khóc…

Tôi quyết định bỏ cuộc sống hiện tại để trở về quê nhà. Tôi không nói với gia đình bên vợ. Vì nói với họ lúc này, sẽ rất khó khăn cho quyết định rời bỏ tu Phật của tôi để trở về quê hương đi theo kháng chiến. Tôi đành im lặng ra đi. Tôi ra Phnôm-Pênh gọi một chiếc xe hơi đưa tôi đến biên giới Việt Nam. Chiếc xe hơi hiệu Renault màu đen, loại xe này chỉ dành cho tầng lớp sang trọng, quý phái. Tôi không chọn vì ý nghĩa này, mà chọn nó cho tiện, không ai để ý khi rời Phnôm-Pênh.

Khi đến biên giới Việt Nam, tôi bị giữ ngay địa phận Châu Đốc. Anh em đàng mình thấy tôi đi trên chiếc xe hơi sang trọng, lại mặc bộ áo cà sa lộng lẫy, người bệ vệ, phương phi, ai cũng nghi ngờ tôi là người thân Pháp. Bà con Châu Đốc vẫn lui tới Campuchia, có đi lễ chùa, họ đã nhận ra tôi. Thế là tin “Vua Phật” về Việt Nam được lan đi. Anh em nghi ngờ, nhưng không ai dám có ý kiến gì. Tất cả sự việc được xã báo cáo lên huyện, huyện báo cáo tỉnh, tỉnh chờ ý kiến cấp trên. Tôi đã xa xứ sở và chờ đợi ngày về bao nhiêu năm thì giờ đây được đứng ngay trên quê mẹ, tôi có chờ thêm đôi ngày có sao. Tôi nghĩ thế mà lòng trào dâng nỗi vui mừng.

Lúc ấy, cơ quan Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ đang đóng tại Long Xuyên. Anh Ung Văn Khiêm phụ trách công an, cho mời tôi đến trụ sở Ủy ban kháng chiến hành chánh. Tôi mừng thầm trong bụng. Dù tôi chưa gặp anh lần nào, nhưng khi ở trong nước tôi đã nghe tên anh và tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Tôi đã từng đi tìm anh, từng tham gia vào các phong trào thanh niên tiến bộ yêu nước ở Long Xuyên những năm 1926-1927. Cho nên gặp anh, tôi đã gặp ngay “đàng mình”, tôi thật sự xúc động và vui mừng lắm.

Cử chỉ thân tình của một người đại diện cơ quan Nhà nước tiếp nhà tu như tôi, khiến tôi càng tin tưởng con đường mình quyết định chọn trở về gia nhập kháng chiến là đúng đắn. Anh Ung Văn Khiêm mời tôi uống trà, rồi mời cơm có thịt cá và món đặc sản mắm Châu Đốc. Tôi đã quyết định trở về đời thường, nên không ngần ngại ăn bữa cơm thân tình này. Tôi cũng không thể quên được buổi trò chuyện đầu tiên với anh Ung Văn Khiêm.

Đầu tiên anh hỏi tôi: “Pháp đã trở lại đánh chiếm nước ta và Lào, Campuchia. Nhà chùa mạo hiểm trở lại đây làm gì?”. Tôi nói với anh tôi xa quê gần 15 năm rồi, tôi nhớ nhà lắm! Nghe tôi nói vậy, anh Ung Văn Khiêm có vẻ cảm động. Anh hỏi tiếp quê quán. Tôi cho anh biết quê tôi ở Châu Thành - Rạch Giá. Từ Châu Đốc qua Hà Tiên, về quê tôi cũng gần. Trầm ngâm một chút, anh Ung Văn Khiêm cho tôi biết thêm một số tin tức về việc Pháp trở lại đánh chiếm nước ta. Anh nói: Pháp đã cho quân lính đổ bộ lên Rạch Giá bằng tàu qua đường biển. Chúng ta chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài. Anh Ung Văn Khiêm khuyên tôi không nên trở về Rạch Giá nữa, mà nên trở lại Campuchia, ở nhà chùa tu hành vì anh biết tôi nổi tiếng là “Vua Phật”, được nhiều nơi biết. Anh hứa sẽ cho người hộ tống để tôi đi an toàn.

Tôi biết anh Ung Văn Khiêm lo cho sự an nguy của tôi, của một “Vua Phật” đang mang quốc tịch Ấn Độ. Tôi mạnh dạn nói với anh:

- Không. Tôi đi làm chi nữa. Quê hương tôi ở đây, thì tôi ở lại đây thôi.

Anh Ung Văn Khiêm nhìn tôi đầy trìu mến và nói nhẹ nhàng:

- Ở lại đây, anh sẽ phải đương đầu với giặc Pháp nguy hiểm và gian khổ vô cùng.

- Gian khổ chi bằng đi tu Phật ở tận Tây Phương. Còn nguy hiểm ư? Các anh và mọi người chịu đựng được thì tôi cũng chịu đựng được. Miễn sao ta đánh đuổi được bọn thực dân Pháp tàn bạo này, giành lại độc lập cho đất nước.

Thấy thái độ dứt khoát của tôi, chừng như anh Ung Văn Khiêm đã an tâm, không nói thêm gì. Nhưng anh đang nghĩ ngợi, không biết bố trí cho “Vua Phật” làm gì. Anh vỗ vai tôi, cử chỉ gần gũi như anh em quen đã lâu ngày: “Anh ở lại. Chúng ta như anh em một nhà. Cơ quan Mặt trận Việt Minh sẽ tập hợp mọi tầng lớp nhân dân theo cách mạng kháng chiến”.

Khi từ Campuchia trở về, ngoài chiếc xe hơi hiệu Renault đang dùng, tôi còn tặng cho cách mạng một vali bạc mà tôi dự định mang về quê giúp đỡ gia đình. Bây giờ, tôi thấy cách mạng, kháng chiến đang cần, tôi xin tặng hết cho cách mạng. Tôi nói với anh Ung Văn Khiêm: “Xem đây là tấm lòng của tôi, một đóng góp nhỏ của tôi cho cách mạng. Tôi cũng sẽ vì cách mạng, vì kháng chiến mà sẵn sàng xả thân”. Anh Ung Văn Khiêm hỏi tôi muốn ở cơ quan nào. Tôi nói:

- Cơ quan nào cũng là của cách mạng cả. Tôi đã tới đây thì ở lại đây cùng các anh.

Thật tình lúc này tôi chưa biết cơ quan của anh Ung Văn Khiêm là cơ quan gì. Với tôi, cơ quan nào, nhiệm vụ gì nếu được phân công thì đó là nhiệm vụ cách mạng. Tôi thay bộ áo cà sa và từ ngày 26/9/1945, tôi đã mặc những bộ đồ bà ba đen như mọi người mặc. Tôi đã trở thành một Lưu Công Danh của đời thường, Lưu Công Danh của cách mạng. Cũng trong ngày hôm đó, anh Ung Văn Khiêm và các anh ở Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ cho tôi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam bộ. Cả nước đứng lên cùng Nam bộ kháng chiến. Chẳng bao lâu, Pháp đã tiến tới Châu Đốc bằng hai đường: Từ Cần Thơ, Long Xuyên tới, từ Tà Keo kéo xuống Tịnh Biên, có cả máy bay Đacôta thả quân nhảy dù xuống Tri Tôn để móc nối với bọn phản động đang ẩn náu tại đây, chuẩn bị tái chiếm Châu Đốc. Tất cả các cơ quan dân chính của tỉnh và Nam bộ được lệnh rút sâu vào cứ, chỉ để lại lực lượng quân sự và dân quân tự vệ cầm chân giặc. Các cơ quan kháng chiến, lực lượng thanh niên đang hừng hực khí thế cầm súng đánh giặc, không ai muốn theo cơ quan vào rừng sâu. Trong khi đó, có một số bị tình nghi là Việt gian, chưa điều tra rõ để kết luận, nên không thể đem họ theo các cơ quan, mà cũng chưa thể thả họ được, phải có giám thị để cai quản họ. Anh Ung Văn Khiêm tham khảo tôi có làm được việc này không? Tôi trả lời không ngần ngại:

- Cũng là việc của cách mạng. Nếu các anh thấy việc này hợp với tôi, thì tôi nhận.

Anh Ung Văn Khiêm tỏ vẻ hài lòng và giao việc làm giám thị, còn gọi là giám đốc trại giam cho tôi. Anh Ung Văn Khiêm cho hơn một tiểu đội dân quân tự vệ giúp việc. Tôi biết cách mạng đã tin dùng tôi. Chính anh Ung Văn Khiêm sau này đã nói:

- Tôi biết anh là người từng đi tu và hiền hậu chất phác, vô tư. Anh không thể làm hại ai và cũng không thể là người phản bội, nên công việc giám thị thích hợp với anh!

Tình hình ngày càng phức tạp. Pháp cho viện binh và đánh lan ra khắp Nam bộ. Dù đã chuyển vào rừng sâu, nhưng trại giam dân chính này quá sơ sài, nếu đánh chiếm được, quân Pháp sẽ thả hết phạm nhân, biết đâu, trong số đó có những tên nguy hiểm. Sau khi họp bàn thống nhất, tổ chức quyết định cho sáp nhập trại giam tôi đang phụ trách với trại tạm giam của quân sự, gọi là Đề lao binh, trực thuộc Bộ tư lệnh quân khu. Tôi tiếp tục được giao nhiệm vụ làm Giám đốc Đề lao binh và được phong Đại đội trưởng.

Khi quyết định rời bỏ cuộc sống hiện tại để về quê nhà và quyết tâm đi theo kháng chiến, tôi không một chút vấn vương gì cuộc sống của một con người mà mọi người suy tôn là “Vua Phật”, cũng không màng giàu sang, danh lợi. Thế nhưng, trong thâm tâm tôi luôn nghĩ: Tôi sẽ phải trải qua một thử thách nào đó của tổ chức (lẽ tất nhiên thôi), vì tôi xa đất nước gần mười lăm năm, nếm trải bao thăng trầm và hiện vẫn còn mang quốc tịch nước ngoài, là nhà sư… Vậy mà, mọi diễn biến nhanh đến không ngờ. Mới hai ngày trước, tôi còn mặc áo cà sa; hôm sau, mặc bộ quần áo bà ba, cũng lội bùn, cũng ăn cơm với mắm sống như mọi người. Mười ngày sau tôi đã có trong tay một tiểu đội, làm giám thị trại giam rồi tiếp tục làm giám đốc Đề lao binh, Đại đội trưởng. Quê hương mở rộng vòng tay đón một đứa con lưu lạc trở về. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân đã kết chặt mọi người dân Việt Nam yêu nước thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh để đánh thắng quân thù, đáp lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12- 1946 của Hồ Chủ Tịch. Chính điều này đã xóa mọi băn khoăn trong tôi. Và khi được giao nhiệm vụ, tôi dặn với lòng quyết tâm hoàn thành tốt để không phụ lòng tin của tổ chức, mà người đại diện giúp đỡ tôi lúc đó là anh Ung Văn khiêm.

Đề lao binh do tôi phụ trách có những đặc điểm mà nhiều anh em hiểu biết lúc đó cho rằng trên thế giới không có một trại gam nào giống như kiểu Đề lao binh này. Hai trung đội quân nhân và gần một trăm “phạm nhân” trông ai cũng như ai: người quần áo bà ba, người quân phục đen. Trại không có hàng rào, không có lính gác. Có một số súng trường chỉ khi nào tập quân sự mới dùng đến. Hàng ngày, mọi người đi làm ruộng, làm rẫy, bắt cá, trồng rau cải thiện đời sống. Tối đến cùng hò hát. Khi đi lao động, “can phạm” tự mình đi bộ hoặc đi xuồng đến một tổ lao động nào đó (cày cấy, đắp nền nhà, đào đìa giúp dân, đắp cản ngăn sông gây chướng ngại vật, không cho tàu giặc vào vùng giải phóng; đi lao động cải thiện bữa ăn…), khi nào Ban giám thị hỏi thì trình giấy tờ.

Sở dĩ có chuyện tạm giam và gởi tại Đề lao binh lúc đó là do chánh quyền cách mạng còn rất non trẻ. Trình độ anh em cán bộ cấp lãnh đạo, chỉ huy lúc đó có người học vấn thấp, không có trình độ lý luận. Những thanh niên theo cách mạng lúc đó rất vô tư, nhiệt huyết và xốc nổi. Nhiều lúc anh em có thái độ dân chủ quá trớn, hay cãi lại cấp chỉ huy, có khi sẵn sàng cầm lệnh tới trại giam để chờ phân xử xem “chân lý thuộc về ai”. Từ đó có thông tư của cấp trên là: Cấp trên có quyền tạm giam cấp dưới ở mức độ nào đó. Trong một tuần thì tạm giam tại đơn vị; từ một tháng tới sáu tháng thì được phép gởi lại Đề lao binh; trên 6 tháng thì báo cáo Bộ tư lệnh, giao phòng Quân pháp xem xét trình Bộ tư lệnh để có thể đưa ra xét xử tại Tòa án binh. Tất cả “can phạm” kiểu này cần tạm giam để răn đe.

Công việc của tôi ở Đề lao binh không yêu cầu tham gia xử lý những trường hợp tạm giam các “phạm nhân”, mà chỉ tập trung hướng dẫn anh em tham gia sản xuất, cải thiện đời sống. Khi anh em đau ốm, đích thân tôi chữa trị bằng các bài thuốc kinh nghiệm, nếu không đủ điều kiện, khả năng thì đưa anh em đi quân y viện…

Cuối năm 1947, tôi được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Đó là một ngày thiêng liêng, đáng nhớ nhất trong đời tôi. Lúc đó tôi đã bước vào tuổi 47, mà tôi lại thấy mình thật trẻ trung. Năm 1997, nhà văn Tường Hạnh đến thăm tôi, Hạnh nhỏ hơn tôi hơn chục tuổi, người đã thay mặt tổ chức viết bản lý lịch cho tôi năm 1953 khi tôi học lớp chỉnh huấn của Quân khu ở Đầm Dơi, Cà Mau, do các anh Nguyễn Kim Cương, Hà Huy Giáp, Dương Quốc Chính giảng; nên chúng tôi rất thương nhau. Tường Hạnh hỏi tôi:

- Anh nhớ mình bao nhiêu tuổi Đảng không?

- 50 tuổi Đảng! - Tôi nói với Hạnh như thế, mặc dù hơn 20 năm nay, tôi không dự sinh hoạt Đảng, nhưng trong lòng tôi, tôi vẫn là một Đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam.


Chương 8

ĐOÀN TỤ GIA ĐÌNH



Khi ổn định nơi ở và công việc ở Đề lao binh đã vào nề nếp, tôi xin phép tổ chức liên lạc với gia đình. Đầu tiên tôi viết thư cho ba má tôi, theo địa chỉ cũ, báo tỉ mỉ trong thư cho ba má tôi biết tôi vẫn còn sống sau bao năm lưu lạc ở xứ người, ngày đất nước giành độc lập, tôi trở về tham gia kháng chiến.

Viết thư cho cha mẹ, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Tôi nghĩ, ngần ấy năm tôi xa quê, có biết bao biến cố, chiến tranh ly loạn, gia đình tôi ai còn, ai mất. Mẹ tôi đã mất hai người con là anh hai và em trai kế tôi, nay đến tôi đi biền biệt, chắc bà đau khổ lắm. Còn vợ tôi, không biết có còn chờ đợi tôi không, hay đã đi lấy chồng. Nếu cô ấy đi lấy chồng, tôi cũng không có lý do gì trách móc. Tôi cảm thấy mình có lỗi khi ngần ấy năm, để vợ tôi một nách ba con thơ, chịu bao cay đắng, tôi có bù đắp bao nhiêu vẫn chưa đủ, vì cuộc sống tha hương nơi đất khách tôi cũng đã có vợ có con. Tôi lương tâm dày vò cắn rứt... Tôi chỉ viết thư cho ba má tôi, để khi gặp lại gia đình tôi kể ngọn ngành…

Lúc ấy, ta đang đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Miền Tây Nam bộ có nhiều trận thắng lớn trong năm 1946 của “bộ đội Huỳnh Thủ” ở Lô 12, Sóc Xoài, Cầu Đúc Cái Sình, Ngã Ba Đình, Cây Bàng Vĩnh Hòa… Ta có vùng giải phóng Vân Khánh, Đông Hòa, Đông Hưng nối liền với căn cứ U Minh Thượng. Tôi nghĩ, gia đình tôi từ Mỹ Hiệp Sơn có thể tìm đường vào vùng căn cứ kháng chiến không mấy khó khăn, không biết do thư bị thất lạc hay gia đình ba má tôi không còn chỗ cũ nữa, tôi chờ mãi vẫn bặt tin. Trong khi đó, một người phụ nữ tôi mang nặng nợ áo cơm, nặng nợ ân tình là Huỳnh Thị Tổng, ở Tân Quới, Cao Lãnh, nghe tin tôi đi tu phật về tham gia kháng chiến, đang ở khu căn cứ Đồng Tháp Mười và U Minh Thượng đã lặn lội đến thăm tôi.

Thật ra, chuyện này, lúc dự lớp tập huấn đặc biệt năm 1953, ở Đầm Dơi, Cà Mau tôi không kể chi tiết với Phạm Tường Hạnh, nên Tường Hạnh nhầm Huỳnh Thị Tổng là người vợ do cha mẹ cưới đầu tiên cho tôi. Bây giờ hai bà đã qua đời. Lê Thị Ngân qua đời năm 1983, thọ 77 tuổi; Huỳnh Thị Tổng qua đời năm 1996, thọ 90 tuổi. Tôi muốn nói rõ hơn điều này để không tủi vong hồn cả hai người phụ nữ nặng ân tình với tôi, đều là vợ của tôi, cùng sinh con cái cho tôi.

Đoạn đầu tôi có nói về Lê Thị Ngân, người con gái cũng ở xứ Mốp Giăng - Mỹ Hiệp Sơn, do cha mẹ tôi cưới hỏi. Cô ấy sinh cho tôi ba người con, hai trai là Lưu Kiếm và Lưu Khỏe, một gái là Lưu Thị Hằng. Khi tôi trốn nhà ra đi, vợ tôi ở lại với cha mẹ tôi, làm dâu và nuôi ba đứa con còn nhỏ dại của tôi.

Trong thời gian tôi trốn ở Long Xuyên, Châu Đốc, có một gia đình chứa chấp tôi là gia đình ông Quảng Sào. Ông có người cháu ruột là Huỳnh Thị Tổng, góa chồng, có hai con trai nhỏ. Sợ tôi trốn mãi rồi sẽ bị bắt, ông Quãng Sào khuyên tôi ở lại ông sẽ bảo lãnh, giúp vốn cho làm ăn sinh sống, ông sẵn sàng gả đứa cháu gái của mình cho tôi. Gia đình này đã cưu mang tôi trong thời gian nguy khó. Lửa tình yêu đã bén trong tôi và Huỳnh Thị Tổng từ đây. Nhưng rồi tôi cũng phải ra đi nơi đất khách quê người. Để rồi đến ngày sum họp này, có hai người phụ nữ tôi cùng có trách nhiệm là vợ tôi ở quê và Huỳnh Thị Tổng.

Trong khi chưa liên lạc với cha mẹ và người vợ ở quê, thì Huỳnh Thị Tổng nghe tin tôi còn sống và đang ở chiến khu Đồng Tháp Mười, nên đã lặn lội từ Cao Lãnh vào thăm tôi. Tôi thật sự bất ngờ và cảm động. Cô ấy đã chờ đợi tôi hơn mười năm bằng một lời hẹn ước năm xưa. Còn tôi, tôi cứ nghĩ hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc hơn mười năm như vậy, có thể vợ tôi và cả cô ấy đều đã có chồng, có nơi nương tựa. Nay cô ấy đến tìm tôi trong hoàn cảnh gian khổ của cuộc sống kháng chiến nơi bưng biền, nhớ ơn nghĩa xưa…, tôi quyết định báo cáo với tổ chức đây là vợ của tôi. Huỳnh Thị Tổng chấp nhận cuộc sống kháng chiến, cùng ở lại với tôi trong trại Đề lao binh.

Hạnh phúc đã tuột khỏi tầm tay bao lần, giờ đây, như gương vỡ lại lành, tôi trân trọng hạnh phúc hiện tại. Song lòng tôi vẫn khôn nguôi nghĩ đến gia đình và người vợ cha mẹ cưới ở quê. Nàng cũng vì tôi vất vả nuôi ba đứa con. Nếu nàng đã có hạnh phúc, tôi đỡ băn khoăn, day dứt; nếu nàng vẫn còn sống như vậy chờ đợi tôi thì tôi là người có lỗi. Tôi cũng nghĩ đến An-na Ma-ri và gia đình ông I-bra-him. Không phải vì tiếc nuối cuộc sống của “Vua Phật”, mà nghĩ một ngày cũng nghĩa vợ chồng, hơn nữa, ông I-bra-him là một ông chủ tốt của tôi khi tôi sa cơ lỡ vận và cũng là người cha vợ nhân hậu mà tôi rất quý trọng. Đạo lý làm người và những năm tháng đi tu Phật gian khổ trong rừng sâu đã giúp tôi có cuộc sống giản dị, hướng tới cái thiện, cái tâm của con người. Tôi tâm niệm hãy sống vì con người, điều gì có ích cho con người thì làm, đừng bao giờ hại ai dù là điều vô tình rất nhỏ. Từ khi trở lại cuộc đời thường, tôi không bao giờ từ nan chuyện giúp đỡ mọi người, huống chi những người thân thiết, gắn bó với cuộc đời mình, làm sao tôi có thể vô tâm cho được?

Tôi mang những điều này tâm sự với Huỳnh Thị Tổng, cô ấy hiểu ra và chia sẻ cùng tôi chứ không ghen tức, ích kỷ. Tôi càng quý tấm lòng nhân hậu của cô. Cuối năm 1948, con gái đầu lòng của tôi và Tổng ra đời tại trại Đề lao binh Khu 8, Đồng Tháp Mười. Cô ấy giao cho tôi quyền đặt tên con. Tôi đếm các con chung, riêng của tôi và Tổng từ trên xuống và đặt đứa con này là Lưu Thị Bảy.

Ngày đầy tháng cho cháu thật vui. Vợ tôi nấu nồi chè trôi nước thật lớn để cúng bà mẹ sinh (mụ bà) cho cháu, rồi mời tất cả anh chị em trong trại Đề lao binh, cả các chú “can phạm”. Trong không khí ấm cúng của tình cảm gia đình và cuộc sống thanh bình hiếm hoi của chiến tranh, mọi người không ai giữ khoảng cách là cán bộ hay “can phạm”, mà tất cả gọi nhau là đồng chí, một niềm khát khao tình đồng chí thật sự. Bởi thật ra, họ cũng là đồng chí cả thôi. Đó là những quân nhân vi phạm đều lệnh, “cãi” lệnh cấp trên…, họ được đơn vị quyết định gởi vào đây để giáo dục một vài tháng rồi ra. Nhưng đơn vị gởi, rồi “quên” luôn anh em, nên có người đã hết “tội”, hoặc có khi không thấy có tội gì, cũng được giữ lại năm này qua năm khác.

Có lần, một đoàn cán bộ cấp cao đi công tác qua trại Đề lao binh, nghe bà con trong khu vực kể có một ông giám đốc Đề lao binh “rất thương lính” và có tài trị bệnh cho nhân dân cả vùng, một vị cán bộ cấp cao trong đoàn đề nghị ghé lại trại ăn bữa cơm để tìm hiểu tình hình.

Nhờ kinh nghiệm mười năm đi tu Phật trong rừng, tôi thuộc các loại cây lá có đặc tính trị bệnh. Cho nên anh em trong trại bị bệnh, thuốc tây lúc đó khan hiếm, tôi dùng thuốc nam trị bệnh cho anh em. Tiếng lành đồn xa. Bên ngoài các xóm lân cận khu Đề lao binh, có người bệnh, bà con mang đến nhờ tôi trị. Các loại ban như ban khỉ, ban cua, ban đen, ban đỏ thời đó chết như chơi, nhưng tới tôi, trị hết tận gốc, mà không mất tiền. Các loại bệnh gẫy chân tay, bong gân, rắn độc cắn… cũng rất nguy hiểm, bà con đến rước, có khi đêm hôm khuya khoắt, tôi cũng có mặt. Sau đó tôi chỉ cho bà con các loại cây lá có vị thuốc để họ tự trị bệnh khi cần thiết. Nhiều bà con đã trị được bệnh cho mình mà còn tìm được nhiều cây thuốc c đến tặng tôi để trị bệnh cho nhân dân và anh em ở trại.

Đoàn cán bộ quân khu đến trại, tôi cũng kể như thế. Trong bữa cơm thân mật, tôi mạnh dạn báo cáo lại cho một đồng chí cán bộ cao cấp:

- Trại Đề lao binh này, sao thấy gởi vào nhiều, mà không thấy thời gian xét hết hạn cho anh em ra. Có người vào mà không thấy ghi tội trạng gì, hoặc có ghi hai ba tháng “tạm giam”, rồi cứ để năm này qua năm khác, tội cho anh em lắm!

Nghe tôi kể, nhiều đồng chí trong đoàn ngạc nhiên và tỏ ra bức xúc. Hai tháng sau, một đoàn cán bộ thanh tra gồm: Phòng tham mưu, Phòng chính trị Quân khu tới trại Đề lao binh làm việc. Theo yêu cầu của đoàn, tôi mang toàn bộ hồ sơ giấy tờ của trại cho đoàn xem.

Gọi là hồ sơ, nhưng chỉ là những quyết định tạm giam của anh em khi mới vào nộp cho trại. Có giấy còn đọc được, có giấy nhòe nhoẹt do thời gian lâu và do cất giữ sợ giặc càn, máy bay bắn phá bị mất. Anh em quân nhân tạm giam đã đọc lại một cách trung thực nội dung của những giấy tờ nhòe nhoẹt đó cho đoàn nghe. Sau khi kiểm tra xong, đoàn về báo cáo lại tình hình cho Bộ tư lệnh, một thời gian ngắn sau, Bộ tư lệnh ra quyết định giải thể Đề lao linh.

Năm 1950, vợ tôi - Huỳnh Thị Tổng- sinh thêm một đứa con gái, cháu được đặt tên Lưu Thị Nga. Trong buổi cúng đầy tháng cho đứa con gái trước, anh em vui vẻ như thể là ngày “hấp hôn” cho vợ chồng tôi. Không có gì tặng vợ trong dịp này, tôi mang hai viên ngọc trước đây vị trụ trì chùa Tây Phương tặng cho tôi khi trở lại với đời vì đã đắc đạo, tặng lại cho vợ tôi. Tôi luôn luôn đeo hai viên ngọc này trên cổ, trước ngực. Giờ không phải ngại đeo nó mà tôi đem tặng vợ. Tôi muốn cô ấy giữ những kỷ vật đã gắn liền với một quãng đời gian truân đầy khổ hạnh, thử thách của tôi. Hai viên ngọc có hai đặc tính rất lạ là: Một viên khoảng ba tháng phải được uống sữa; một viên để ra ngoài là biết “bò”. Suốt thời gian giữ hai viên ngọc tôi đã chăm sóc chúng bằng hai đặc tính này. Cứ đúng thời hạn, tôi lấy viên ngọc biết uống sữa bỏ vào một cái ly nhỏ, rồi đi xin sữa các bà mẹ đẻ con so (con đầu lòng), đổ vào, để suốt đêm, ly sữa cạn hết. Còn viên biết “bò”, bỏ nó ra ngoài một ngày, một đêm nó di chuyển được khoảng hai, ba chục phân.

Tôi nói rõ cho vợ tôi biết những đặc tính của hai viên ngọc. Vợ tôi nghe vậy, cô ấy không nghĩ đến đặc tính của hai viên ngọc, mà lại nghĩ nó quý vì món quà đặc biệt, coi như là tài sản đáng giá. Cô ấy không đeo vào cổ như tôi, mà lại cất vào giỏ áo quần. Năm 1953, vợ tôi vào quân y sinh đứa con trai út. Tôi bận việc không đi đón được nên nhờ một cậu cựu tạm giam ở Đề lao binh đi đón bằng xuồng tam bản. Chẳng may, bị một chiếc ghe khác đâm phải trong khi nước ròng chảy xiết, xuồng vợ tôi lật úp, đồ đạc trôi hết, trong đó có hai hạt ngọc! May mà bà con và chú cựu trại nhanh trí cứu được hai mẹ con. Vợ tôi tiếc của xót xa. Tôi căn dặn cô ấy đừng nhắc lại mà tội nghiệp chú cựu trại, sợ chú lo lắng và buồn. Nghe tôi, vợ tôi không bao giờ nhắc lại chuyện này.

Khi Đề lao binh được lệnh giải thể, Bộ tư lệnh cho phép, anh em nào muốn trở về đơn vị cũ thì Phòng Tham mưu có trách nhiệm ký giấy cho anh em về. Ai muốn đi đơn vị khác cũng được giải quyết theo nguyện vọng. Ai không muốn đi đâu thì ở lại Đề lao binh để chuyển sang một đơn vị làm kinh tế cho Quân khu. Tôi được giao nhiệm vụ phụ trách đơn vị kinh tế này.

Hầu hết anh em đều muốn ở lại. Một phần vì tình cảm gắn bó giữa tôi và anh em, một phần vì những năm tháng ở Đề lao binh anh em quen lao động và lao động rất giỏi. Lúc ấy có phong trào “Thực túc binh cường” - tăng gia sản xuất, nuôi quân đánh giặc, cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Thật ra, làm lao động vô cùng vất vả: đào đất, cày cấy, giăng lưới, tát đìa, làm mắm… chuyện gì anh em cũng làm, chẳng ai nề hà. Lúc này, anh em rất vui vì mình có tên trong danh sách đơn vị làm kinh tế, có số quân đàng hoàng.

Giữa năm 1953, sau khi dự lớp Chỉnh huấn ở Cà Mau xong, tôi trở về đơn vị, tiếp tục phụ trách đơn vị kinh tế như trước. Tôi đã liên lạc được với gia đình ở Mỹ Hiệp Sơn. Lúc này cha mẹ tôi đã qua đời. Tôi ngậm ngùi vì không được nhìn thấy cha mẹ lần cuối. Mấy người em gái tôi kể lại toàn bộ chuyện gia đình từ khi tôi trốn đi. Gia đình tôi chạy loạn gần như phá sản hết. Người vợ trước của tôi và các con đang giữ phần đất cha mẹ tôi để lại.

Tội nghiệp vợ trước của tôi, thật ra, bà ấy đã hay tin tôi còn sống đi theo kháng chiến và đã có vợ con nên không đi tìm tôi. Suốt thời gian tôi xa quê, kinh tế gia đình khánh kiệt, vợ tôi đã phải bươn chải nuôi cha mẹ già và các con. Những năm yên giặc, vợ và các con tôi ở lại giữ phần đất hương hỏa này. Các em tôi hay tin tôi có vợ, thúc giục vợ tôi đi tìm tôi hỏi cho ra lẽ, nhưng bản tính dịu dàng, vợ tôi chấp nhận hy sinh, thiệt thòi về mình, bà ấy không tìm tôi để tôi khỏi phải khó xử. Còn tôi, trong thâm tâm và tình cảm mình, Lê Thị Ngân vẫn là người vợ đầu tiên do cha mẹ cưới, là người vợ tôi rất quý trọng.


(Còn tiếp)

Nguồn: Phật sống Lưu Công Danh. Nguyễn Thị Thanh Xuân ghi. NXB Văn học, 2003. Tái bản, 2005.

Phật sống Lưu Công Danh (3)

Chương 5

NHẬP QUỐC TỊCH ẤN ĐỘ

Tôi hoàn toàn mù mịt về tin tức quê nhà. Một cuộc ra đi như là nhắm mắt đưa chân, tôi đã mất phương hướng. Bây giờ trên đất khách quê người, tôi muốn giữ cho mình còn mạng sống, để một ngày trở lại quê hương. Mà người giữ mạng sống cho tôi, người tôi mãi mãi chịu ơn là ông I-bra-him và gia đình ông. Tôi không còn con đường nào khác để chọn lựa. Tôi xót xa nghĩ đến cảnh nước mất nhà tan...

Ông I-bra-him vô cùng mừng rỡ khi tôi đồng ý làm thành viên trong gia đình ông. Ông đặt tên Ấn Độ cho tôi là Hăc-xa-cốp Chan-dra và xin cho tôi được nhập quốc tịch Ấn Độ. Đám cưới của tôi được tổ chức tại Phnôm-Pênh theo nghi thức, phong tục của người Ấn Độ. Tôi được nhận của hồi môn là một cửa tiệm tôi đang quản lý trông nom, cha mẹ vợ mua thêm một căn nhà để vợ chồng tôi ra riêng. Hôm làm lễ cưới trên chùa, tôi mới nhìn rõ mặt An-na Ma-ri - vợ tôi. Từ trước đến nay, nàng ở nhà với mẹ, tôi chỉ nhìn loáng thoáng những lúc đến cửa tiệm ông bà I-bra-him quản lý, chứ chưa từng nói chuyện, chưa từng giáp mặt. Giờ đây, nàng trở thành vợ tôi. Nàng có thân hình cao ráo, cân đối với một gương mặt đẹp, phúc hậu. Tôi choáng váng trước vẻ đẹp thanh thoát này, nhưng lòng se lại vì tội nghiệp cho nàng chẳng quen biết tôi, có biết chăng chỉ nghe tên anh chàng làm công như mấy chục người làm công cho gia đình nàng.

Đám cưới xong, tiễn khách khứa ra về hết, cha mẹ vợ dặn dò hai vợ chồng đôi câu rồi về tiệm vải. Tôi và An-na Ma-ri ở lại căn nhà riêng của cha mẹ vợ tặng. Nàng không biểu lộ cảm xúc gì, gương mặt nhẹ nhàng, bình thản. Còn tôi lại trào dâng một tình cảm tội nghiệp xen lẫn sự quí trọng người con gái, lẽ ra với địa vị và nhan sắc của nàng, nàng có thể lấy một người chồng giàu có, gia đình môn đăng hộ đối với gia đình nàng. Nhưng vì lời hứa của cha mẹ, nàng bằng lòng đám cưới với anh chàng làm công tứ cố vô thân như tôi. Thật tội cho nàng. Tôi đang bâng khuâng nghĩ ngợi, thì nàng vào phòng riêng khóa trái cửa lại, không nói một lời nào với tôi.

Tôi ngồi lặng lẽ nơi phòng khách, lấy chai rượu Martell nhấm nháp mà thấy lòng nặng trĩu. Mùa cưới ở xứ mình vào tháng Một, tháng Chạp âm lịch(1). Đám cưới của tôi giữa mùa thu. Đó là một ngày nắng ráo, đẹp trời ở Phnôm-Pênh. Đêm ấy trời không lạnh, mà tôi cảm giác như mình đang trầm trong nước. Bốn bề vắng lặng như tờ. Tôi bước lại cửa phòng An-na Ma-ri gõ nhẹ nhàng từng tiếng một. Mấy lần gõ, phòng vẫn khép chặt. Tôi vào phòng mình. Tôi biết nàng sẽ luôn luôn giữ một khoảng cách với tôi.

Sáng hôm sau, tôi đến cửa hàng vải, mở cửa buôn bán bình thường. Khách càng đông hơn. Tôi bây giờ là con rể một người có tiếng tăm ở Phnôm-Pênh. Vị thế khác hơn, mối quan hệ rộng hơn. An-na Ma-ri ở nhà trông coi người giúp việc. Khi tôi trở về nhà, cơm nước có sẵn, nhưng nàng chưa bao giờ ngồi ăn cơm chung với tôi. Tháng ngày trôi qua, công việc buôn bán ở tiệm vải luôn bận rộn, tôi như quên nỗi buồn riêng này. Hơn nữa, cuộc đời tôi từng nếm trải bao đắng cay vất vả, cũng đã trải qua những đắng cay trong tình cảm riêng tư, tôi sẽ vượt qua được thử thách này. Tôi nhớ lời ông I-bra-him:

- Tôi sẽ bảo ban được con gái tôi. Miễn sao anh luôn giữ được đức tính thật thà, hiền lành. Sau này vợ chồng tôi già, sẽ nương tựa vào vợ chồng anh.

Ông I-bra-him đã đặt trọn niềm tin nơi tôi. Nhưng giờ đây tôi chưa thuyết phục được An-na Ma-ri. Tôi thấy mình phải có trách nhiệm cho nàng hiểu tôi không phải là kẻ lợi dụng nàng và gia đình nàng. Tôi là người chịu ơn gia đình nàng và phải có trách nhiệm với nàng. Thật khó cho tôi là An-na Ma-ri luôn tìm cách lánh mặt tôi. Phòng riêng của nàng luôn khóa chặt. Tôi cắn răng không nói cho cha mẹ vợ biết chuyện gia đình vợ chồng tôi. Ông bà cứ tưởng chúng tôi sống đầm ấm lắm. Bà mẹ vợ lâu lâu lại thúc chúng tôi mau cho ông bà bế cháu, vì chúng tôi cưới cả năm rồi.

Một năm trôi qua, cuộc sống của tôi không có gì thay đổi. Đôi lúc tha thẩn từ tiệm vải về nhà riêng, tôi thấy lòng trống trải, tôi lặng lẽ đến nhà hàng uống vài ly cô-nhắc, rồi về nhà nằm một mình trên chiếc giường rộng thênh thang. Sau đó, lại vùi đầu vào công việc để không còn thời giờ nghĩ vẩn vơ.

Buổi trưa, tiệm vải vắng khách, ông I-bra-him đến bên tôi và nói:

- Gia đình chúng ta sẽ về Ấn Độ, ba muốn đưa hai con về thăm quê hương và làm lễ cầu trời phật ban phước lành cho hai con.

Tôi “dạ”, nhưng không biểu lộ trên gương mặt niềm vui hay nỗi băn khoăn nào nên ba vợ tôi đinh đinh là tôi mong đợi ngày đó. Chính ba vợ tôi tự tay hóa trang cho tôi bằng cách châm cứu hóa chất làm cho nét mặt tôi giống người Ấn Độ, sẵn nước da tôi ngăm đen nên khi hóa trang và nói tiếng Hin-đi, trình hộ chiếu Ấn Độ, không ai phát hiện ra tôi là người Việt Nam.

Chuyến tàu khách của hãng Messagerie Maritime từ bến cảng Nhà Rồng đưa cả gia đình vợ tôi và tôi đi Ấn Độ. Vừa đặt chân đến Sài Gòn và đến cảng Nhà Rồng để xuống tàu đi Ấn Độ, tôi ứa nước mắt và thấy lòng đau nhói khi nhìn quanh ở đâu cũng có lính Pháp. Tôi muốn ở lại, nhưng giờ đây tôi đang mang quốc tịch Ấn Độ, tôi đã có vợ... Sau những ngày lênh đênh trên biển cả, gia đình tôi đã về đến Niu Đê-li. Ở đây, họ hàng bên vợ tôi có mấy ngôi biệt thự. Họ hàng dành một ngôi đẹp nhất cho gia đình tôi ở. Sau khi giới thiệu tôi với họ hàng, cha mẹ vợ đưa vợ chồng tôi đi du ngoạn một số nơi ở Ấn Độ, rồi làm mấy cuộc lễ để xin thần phật ban phước lành cho vợ chồng tôi. Tôi ngồi cạnh An-na Ma-ri, chắp tay, quì nghe mấy vị cao tăng đọc kinh và liếc nhìn nàng, vẫn gương mặt lạnh như tiền. Tôi hiểu, nàng chỉ làm cho cha mẹ vui, chứ trong lòng nàng không có niềm tin và chẳng có tình yêu với tôi. Tôi nuốt đắng cay đang trào dâng lên cổ và tự trách mình vì sao lúc ở bến Nhà Rồng, đã có một phút do dự mà không quyết định ở lại. Giờ đây thêm bao nhiêu dặm đường xa. nơi xứ sở cách đất nước mình vời vợi, biết làm sao để khỏi mang nỗi tủi nhục bị một người con gái khinh thường như thế này?

Chương 6
QUYẾT ĐỊNH ĐI TU

Ở Niu Đê-li vài tháng, tôi nghe người ta tuyển người đi Tây Phương tu Phật. Đã tuyển được hai người, chỉ cần thêm một người nữa là làm lễ tiễn đi. Tôi quyết định được đi tu. Vì ở nhà sống cảnh chồng vợ như thế này mà phải ngậm đắng nuốt cay, không hé răng cho gia đình vợ biết, thì có khác nào tôi tự tra tấn mình. Thôi thì, thà đi tu nghe đọc kinh kệ, hướng về cõi phật còn hơn. Đây là cách giải thoát cho mình lúc bế tắc này. Tôi đã nói với một vị sãi cả là tôi xin đi Tây Phương.

Chuyện tưởng như giản đơn là đi tu để giải thoát cho mình, không ngờ chuyển sang một tình thế khác. Một hồi chiêng trống được cất lên tưởng chừng như không dứt để báo tin vui cho phật tử khắp vùng biết có người sẽ đi tu Phật. Mọi người ùa đến, vây kín lấy tôi và kính cẩn cúi chào, nét mặt ai cũng hân hoan, rạng rỡ. Có người quì xuống chân tôi và cúi hôn. Tôi hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Tôi nhìn lên, thấy cha vợ tôi dắt tay An-na Ma-ri, lách đám đông, tiến thẳng về phía tôi một cách khó khăn. Ma-ri tới, nàng chắp tay xá tôi như xá một người đắc đạo. Gương mặt ngày thường lạnh tanh của nàng biến đâu mất, mà quì trước tôi là một An-na Ma-ri ngoan ngoãn, thành kính với nét mặt đầy xúc động. Mặt tôi nóng bừng, trào dâng niềm cảm xúc mới mẻ.

Theo tục lệ dành cho người đi tu, tôi phải ở lại chùa bảy ngày để làm lễ và xông hương, sau đó trở lại từ giã gia đình. Khi vào chùa để làm các công việc này, tôi được thay ngay bộ đồ cà sa, ngồi thiền định trước bàn thờ phật tổ. Suốt một tuần đó, ngày nào cha mẹ vợ và vợ tôi cũng đến chùa quì sau lưng tôi, khi về, họ cúi xuống trước mặt tôi, xá rồi ra về. Còn tôi, bảy ngày bảy đêm ngồi thiền định như vậy không nhúc nhích, không nói, không nhìn ai, ngủ cũng trong tư thế đó.

Hết ngày thứ bẩy ngồi thiền ở chùa, chiều hôm đó, cả họ hàng bên vợ tề tựu trước cổng chùa để rước tôi về gia đình. Tòa biệt thự đẹp nhất nơi gia đình chúng tôi ở chật ních người. Tôi được đặt giữa đại sảnh và tất cả mọi người vây xung quanh. Đây là phước lớn của dòng họ vì có người đi tu phật, nên niềm vui mừng khôn xiết đối với họ. Tất cả mọi người đều lặng lẽ, thành kính, hương trầm tỏa ngát. Tôi ngồi thiền định một tay duỗi thẳng trước ngực, một tay đặt trên tấm áo cà sa vàng bằng lụa.

Đến khuya, mọi người tản ra dần và đi nghỉ hết. An-na Ma-ri vẫn quì trước mặt tôi, hai tay thành kính chắp trước ngực, đầu cúi, mắt khép hờ như chờ đợi tôi có điều gì sai bảo. Tôi đứng lên lặng lẽ đi về phòng. Mấy ngày ngồi thiền, tôi chưa quen nên thấm mệt. Tôi nằm đăm đăm nghĩ ngợi về cuộc đời mình lại bước sang một bước ngoặt mới như là số phận được an bài. Bỗng An-na Ma-ri khẽ đẩy cửa, bước vào phòng tôi. Sau hơn một năm thành chồng vợ, đây là lần đầu tiên nàng chủ động bước vào phòng tôi. Nàng đến bên giường quì xuống, hai tay chắp trước ngực, đầu hơi cúi. Tôi nằm im. Nàng vẫn ngồi lặng thinh. Tôi ngồi dậy. Cả hai cùng im lặng một lúc lâu, tôi đưa tay nâng nàng đứng dậy và đưa tay choàng qua hông nàng. An-na Ma-ri cúi đầu và đi giật lùi ra ngoài. Lát sau nàng quay trở lại, trên người mặc một tấm áo ngủ vải voan mỏng may kiểu Châu âu, chứ không quấn chặt xà rông nhiều lớp kín mít như mọi ngày. An-na Ma-ri đến với tôi bằng tất cả sự nồng cháy, yêu thương của một người vợ, một người yêu. Nét lạnh lùng ngày thường biến mất. Bên tôi, một An-na Ma-ri kiều diễm, quí phái, dịu dàng, nàng đã cho và được nhận một tình yêu đích thực. Nhưng hạnh phúc và cuộc sống chồng vợ của tôi và Ma-ri thật ngắn ngủi, tôi đã phải đi tu phật.

Suốt một tháng trời được phép về gia đình, lúc nào An-na Ma-ri cũng ở bên tôi. Đến ngày phải lên đường, cả gia đình tiễn tôi đến chùa. Cờ phướn rực rỡ. Những người đi tu phật được đi trên những chiếc kiệu. Vợ tôi quì bên đường, đọc kinh tiễn tôi.

Một tháng bên nhau nồng mặn yêu thương, An-na Ma-ri đã mang giọt máu của tôi. Trong khi tôi đang len lỏi đi trong rừng già Ấn Độ, đói khát, hiểm nguy rình rập dọc đường, thì Ma-ri sinh hạ cho tôi một đứa con trai, đặt tên là Xô-Chim. Đó là mùa xuân năm 1935, tôi đã được làm cha mà tôi không biết.

Hai người bạn đi tu Phật cùng tôi, đã rẽ mỗi người một hướng. Tất cả đều đi chân trần. Một tháng đầu tôi đi trên những con đường mòn, không gặp nhà cửa, không có người, nhưng lâu lâu lại thấy có một cái am nhỏ, có trái cây và nhang đèn. Tôi thắp nhang vái tạ và lấy hết trái cây cho vào túi để ăn dần. Mấy bài kinh học được tôi luôn đọc lẩm nhẩm dọc đường. Nhờ vậy quên được phần nào những vất vả gian truân. Nhiều cơn đói làm tôi hoa mắt. Tôi phải tập ăn các thứ lá, các loại trái mà chim ăn (không độc). Đêm thì trèo lên cây ngủ để tránh rắn, thú rừng ăn thịt. Trước khi tiễn những người lên đường đi tu Phật, người ta dạy cho mỗi người phân biệt những loại lá cây để chữa bệnh: rắn cắn, đau răng, gãy chân tay... tôi thuộc lòng để tự vệ và chữa trị cho mình khi cô độc giữa rừng.

Trong những tháng ngày đi thăm thẳm trong rừng, tôi chỉ biết dùng nghị lực để chiến thắng hiểm nguy gian khổ để đi đến đích chứ chưa hình dung được đi tu đắc đạo, thành Phật rồi làm gì? Nhưng với ý chí và nghị lực tôi tin mình sẽ thành công. Đi hơn nửa năm trời như vậy, tôi mới tới một cảnh chùa. Tôi mừng như muốn reo lên. Ở đây, tôi tiếp tục được chỉ dạy cách đi trong rừng, cách dùng lá cây xoa lên người để sống chung với các loại rắn độc. Chính tôi đã tận mắt thấy người ta nằm trong cảnh chùa nhung nhúc rắn, rắn bò vào cả áo cà sa người đi tu. Đi tu phật gian khổ hơn tu thường. Nếu đã đi tu Phật là phải tu cho đắc đạo. Nếu vì gian khổ mà quay trở về, không phải chỉ có bị phỉ nhổ vào mặt mà có khi còn bị giết, vì người ta nghi mình là qủi dữ, bị đuổi về. Cho nên, những người đi tu phật đã tình nguyện đi là họ không quay về, không bỏ trốn, nếu họ chết trên đường đi cũng được coi là đắc đạo. Đó chính là những vị bồ tát tử vì đạo.

Đi qua mỗi cảnh chùa, phải học hàng chục bài kinh, phải thật thuộc mới được đi tiếp. Mỗi cảnh chùa, phải học hàng năm mới thuộc hết kinh. Tôi học thuộc kinh nhanh hơn người khác là vì tôi biết chữ. Khi người đi tu Phật thuộc các bài rồi phải ngồi thiền và phải đọc lại cho thật nhuần nhuyễn mới được tiễn đi tiếp. Ai chưa thuộc thì ở lại học tiếp.

Tây phương không phải là Tây Trúc mà thầy trò Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh. Tây phương thuộc vùng đất phía Bắc của Ấn Độ, phía Tây của Tây Tạng. Những người đi tu đến đây đều phải đi bằng chân đất, men theo những ngọn núi của rặng Hy-ma-lay-a thăm thẳm rừng già, cheo leo vách núi, thác đổ ầm ào, dây rừng chằng chịt, có khi đi hàng tháng trời cứ lạc loanh quanh trong rừng lại trở về chùa cũ đã đi qua. Tất cả người đi tu Phật trong rừng đều phải học lấy tiếng trong rừng - hay là tiếng rừng - để biết đường đi, để tìm được miếng ăn. Ví dụ: nghe tiếng thác đổ là biết có vực phía trước mà tránh. Vì vực thẳm, té xuống là rũ xương luôn tại đó. Lắng nghe tiếng chim hót, chim vỗ cánh để biết nơi nào có trái ăn - chim ăn là người ăn được. Người đi tu phật trong rừng chỉ có ăn lá và trái rừng để sống. Mọi thứ bệnh trong rừng cũng được chữa trị bằng lá cây.

Những ngôi chùa trên đường đi trong rừng đủ kiểu. Trong mười cảnh chùa tôi đi qua, chỉ có ba chùa nằm trong rừng, trong hang núi, cũng có cái lớn, các bệ thờ là những bệ đá được gọt đẽo tạo thành. Còn các cảnh chùa khác, đều do con người tạo nên, mỗi người góp vào một chút. Có người trên đường đi, biết mình không đi được nữa, tìm cách đắp thêm cho cảnh chùa; có người muốn sau này có người thờ mình, tự tạo nên cái am ngay bên cạnh rồi tu tại đó, sau khi viên tịch, người tại chỗ hỏa táng cho rồi tạo một nơi cắm hương hoa, đọc kinh siêu thoát và thắp nhang hàng ngày như các bồ tát khác viên tịch.

Cảnh chùa Tây Phương là chùa cuối cùng của mười chùa tôi đã đi qua. Khi thuộc làu hết kinh trong chùa, vị sư trụ trì trong chùa nói đã hết kinh dạy cho tôi. Tôi học kinh như vậy là đủ và chặng đường đi kéo dài gần mười năm để qua mười cảnh chùa trong rừng hoang vắng như vậy coi như tôi đã đắc đạo thành Phật rồi. Tại chùa Tây Phương, tôi cần có thời gian để ngồi thiền và đọc lại tất cả các bài kinh tôi đã học qua mười cảnh chùa. Tôi đã đọc đến mấy tháng trời (không nhìn sách). Một hôm trong khi tôi đang đọc, vị sư trụ trì vào nói tôi thôi không đọc nữa mà hãy trở về giúp ích cho đời - tôi đã trở thành Phật sống!

Nghe vị sư nói thế, tôi nghĩ ngợi: giúp ích cho đời là sao? Chắc thời gian đi trong rừng sáu, bảy năm trời gian khổ và được học nhiều bài thuốc trị bệnh từ các loại lá rừng, nên bây giờ trở lại dùng chúng giúp ích cho đời chăng? Nếu như thế cũng chẳng uổng phí công hàng chục năm tôi đi trong rừng nhịn đói, khát, sống chung với rắn độc, thú rừng và tin mình không bị chúng cắn chết vì đã có một kho thuốc quí giữa rừng. Tôi rất vui.

Vị trụ trì chuẩn bị cho tôi trở về với đời bằng hai viên ngọc, bọc kỹ trong hai cái túi. Ông không hề giải thích gì, chỉ nói hai viên ngọc này giúp tôi thoát mọi tai ương. Tôi cảm động đeo hai viên ngọc vào cổ rồi tới quì trước mặt từng người đọc hết một bài kinh chúc phước để từ biệt rồi lặng lẽ ra đi. Các vị sư vẫn ngồi thiền và đọc kinh, không ai đứng lên tiễn tôi, lúc ấy trời vừa sẩm tối. Những năm tháng đi trong rừng, tôi đã tập được thói quen ngồi thiền đọc kinh và khi ngồi cũng ngủ được, đi đường cũng ngủ được, miễn sao tránh được không rơi xuống vực thì tôi cứ đi cả đêm lẫn ngày, mệt quá thì ngả lưng nghỉ ngơi.

Tôi mất mấy tháng đi đường rừng, mấy tháng men theo sườn núi mới tới những con đường xẻ xuôi xuống đồng bằng. Xóm làng ẩn hiện ở những phía rừng xa. Tôi không ghé lại, vì không cần thiết. Đói, đã có lá cây, trái rừng; khát, có nước suối như lúc tôi đi. Cứ đi mãi theo những tấm biển chỉ đường bằng chữ Phạn tôi học được ở các nhà chùa đã đi qua. Đi mãi như thế, một hôm tôi gặp một tốp người, ăn mặc như kiểu các dân tộc miền núi. Mặt mày vẽ xanh vẽ đỏ. Họ reo hò, xông tới vây quanh và lăm lăm lưỡi mác như sẵn sàng đâm vào tôi. Không biết ứng phó ra sao, tôi đành lần tràng hạt, ngồi xuống đọc kinh mặc cho họ muốn làm gì thì làm. Xế một buổi như vậy, họ bỏ đi. Tôi mệt lử và lăn ra ngủ. Khi tỉnh dậy, tôi thấy bên cạnh có sẵn một mâm trái cây, một bình rượu. Đó là những trái đào rất to và ngọt, rượu có mùi nhân sâm như khi ở chùa người đi tu vẫn làm để uống cho khỏe. Biết họ dành cho mình, tôi ăn no và còn để hết vào bọc đi đường ăn dần.

Tưởng thế là hết nguy nan. Lần khác còn gay go hơn. Một đám người có cả đàn bà đàn ông, xông vào trói tôi lại, đưa lên giàn hỏa, đặt tôi nằm trên đó trong khi họ đọc kinh và nổi lửa đốt. Lần này tôi sợ thật. Tôi nghĩ nếu viên tịch tại đây, tôi có trở thành bồ tát không? Nhưng lửa chỉ cháy nóng lưng rồi tắt. Một lát, họ khiêng tôi xuống và mở trói. Tôi lại ngồi xuống lần tràng hạt và đọc kinh. Tất cả họ quì xuống chung quanh tôi vừa lạy vừa xá và cũng đọc kinh theo tiếng của họ. Trời vừa nhá nhem, họ đội đến mấy mâm trái cây. Tôi ra hiệu chỉ nhận một mâm đủ dùng, còn lại phân phát cho tất cả mọi người. Họ cúi đầu xá tôi rồi ra về. Với thái độ của họ, tôi hiểu rằng họ thử thách để xem tôi có phải là chân tu hay không. Tôi liều mạng để qua khỏi, chứ không nghĩ phép nhiệm màu của hai hạt ngọc vị sư trụ trì ở chùa Tây Phương đã cứu tôi.

Tôi lầm lũi đi và vượt qua gian nguy như vậy mà không để ý là tiếng đồn về ông Phật sống được dân chúng lan truyền suốt dọc đường tôi đi. Cho nên, khi tôi đến Tân Cương, có những người dọc theo đường mang cờ phướn đi theo tôi, không phải họ rước tôi, mà chắc họ theo để được chút phước của ông “vua Phật”. Ở Tân Cương được mấy ngày thì sứ quán vương quốc Anh đưa xe đến đón và đưa thẳng về Thượng Hải, lúc này là tô giới của Vương quốc Anh. Tôi không mấy lúng túng vì có chút ít tiếng Anh, nhờ học được lúc làm rể ở Phnôm-Pênh và Ấn Độ trong gia đình I-bra-him. Họ đón tôi thật trịnh trọng, đoàn xe ba chiếc, tôi ngồi chiếc giữa một mình. Vì xa gia đình người vợ Ấn Độ quá lâu (tròn trèm chục năm chứ ít sao) và hoàn toàn bặt tin tức. Nhưng khi đó tôi có suy nghĩ chắc nhờ uy tín của gia đình cha vợ mà họ đối đãi với tôi như vậy chăng? Tôi cũng không tìm hiểu mà cứ đi theo họ.

Đến Thượng Hải, họ cho thầy thuốc Ăng-lê đến khám bệnh cho tôi. Tôi cảm ơn họ và nói: “Những năm tôi đi tu đơn độc trong rừng, khi bệnh tật tôi tự chữa lấy bằng lá cây”. Tôi không ăn uống các thức họ mang tới, chỉ ăn trái cây và uống nước suối. Sứ quán vương quốc Anh cho mang mấy bộ áo cà sa vàng rực rỡ như loại áo cà sa của thầy Đường Tăng, và xin lại những vật dùng như giỏ, mũ và bộ áo cà sa bằng lá cây của tôi (mũ, giỏ cũng bằng lá cây) để đưa vào viện bảo tàng. Tôi không nhận các bộ cà sa mới mà chỉ mặc một loại áo cà sa lá cây thôi. Khi tôi sắp rời gia đình đi tu Phật, vợ tôi có may cho tôi vài bộ cà sa. Tôi vừa mặc vừa tặng các bạn tu ở các cảnh chùa. Mấy chiếc áo đã rách hết trên đường đi, nên tôi phải tạo ra loại áo lá cây để mặc như tất cả các vị sư. Vì vậy, chiếc áo lá cây là vật kỷ niệm đặc biệt trong những năm tháng đi tu Phật của tôi. Loại áo cà sa này làm cũng giống như vải, phải chắp cho đủ bẩy mươi hai miếng. Ngoài việc mặc choàng che nắng che mưa, loại áo lá còn tác dụng chữa bệnh khi thời tiết thay đổi, tránh được khí độc nhiễm vào người (rừng thiêng, nước độc). Áo cà sa có 72 lá khác nhau. Mỗi một loại lá có công dụng khác nhau và che chở cho cơ thể một cách hữu hiệu. Mũ đội, túi mang bằng lá cũng thế.

Sau một tuần ở Thượng Hải, Đại sứ Vương quốc Anh đưa tôi qua Hồng Công, để tiếp tục đi Luân Đôn. Tôi không hiểu vì sao họ lại đưa tôi đi Luân Đôn. Nhưng tôi nghĩ có lẽ vì tôi là một “vị vua tinh thần” của đạo phật - một đạo có nhiều tín đồ không những ở Ấn Độ, mà còn trên cả thế giới. Lúc đó, Ấn Độ còn thuộc địa của Vương quốc Anh, nên việc họ có ý đồ riêng gì trong việc “độc quyền” tôi cũng dễ hiểu thôi. Từ đây họ tôn tôi là “vua Phật”, “Phật sống”, chắc có lẽ họ cho rằng tôi đã diệt được dục vọng, không ăn uống gì những thứ của phàm trần, chỉ ăn hoa quả, uống nước lạnh mà vẫn sống được nhiều năm trong rừng. Khi họ đem đến những món ngon vật lạ, tôi cũng không dùng, khước từ cả những chiếc áo cà sa kiểu Đường Tăng. Suốt ngày đêm không nói năng gì với ai, chỉ ngồi thiền và đọc kinh. Theo họ, tôi đã thành Tiên, Phật rồi.

Khi đến Luân Đôn, tôi được đưa vào một ngôi chùa nhỏ, nhưng rất sang trọng. Tôi cũng không yêu cầu bất cứ điều gì và không tiếp xúc với ai. Suốt ngày đêm vẫn ngồi trước tam bảo lặng lẽ và bất động. Với người Tây, điều này càng lạ lùng. Các bà, ông Tây đổ xô tới chùa mỗi ngày một đông, họ đi lễ chùa thì ít mà đi xem “Phật sống” thì nhiều. Họ nói xí xô xí xào quanh tôi. Tôi vẫn ngồi bất động. Có vài người xin tôi ban phước, tôi từ chối vì mình là khách, hãy để việc đó cho vị sư trụ trì chùa này.

Gia đình bên vợ đã được tin tôi tu đắc đạo, được Đại sứ Vương quốc Anh đưa đi nhiều nơi và hiện đang ở Luân Đôn, nên cha vợ tôi, ông I-bra-him, gởi đơn cho Toàn quyền Ấn Độ xin cho tôi được về gần gia đình. Trong đơn nói rõ tôi đã có vợ có con. Lúc đó, gia đình vợ tôi vẫn kinh doanh lớn ở Phnôm-Pênh như khi tôi còn ở nhà. Đơn xin cho tôi về thẳng Campuchia. Lúc ấy, ông Nêru là một chính khách nổi tiếng và có uy tín của Ấn Độ. Ông đang phất cao ngọn cờ cùng nhân dân đòi độc lập cho đất nước Ấn Độ. Vợ tôi gọi ông là dượng rể (vợ tôi và cố Thủ tướng I-đi-ra Gan-đi là chị em bạn dì), có lẽ vì mối quan hệ này mà Toàn quyền Ấn Độ chấp thuận đơn của cha vợ tôi, để tôi được trở về Phnôm-Pênh sum họp gia đình.

Được tin tôi sẽ trở về Phnôm-Pênh, cha vợ tôi tiến hành cho xây dựng ngay một ngôi chùa riêng cho tôi trở về tu hành tại đó. Campuchia cũng là một đất nước theo đạo Phật, được mệnh danh là xứ sở Chùa Tháp nên khi nghe cha vợ tôi sẽ bỏ tiền ra xây chùa, thì đích thân nhà vua Campuchia đứng ra bảo trợ cho việc xây dựng này. Hoàng gia Campuchia cử người đứng ra trông coi việc xây cất theo đúng nghi lễ và kiểu dáng cảnh chùa theo mẫu chung của đất nước chùa tháp. Cha vợ tôi đóng góp một khoản tiền khá lớn, còn lại là Hoàng gia Campuchia và nhân dân cúng dường. Cảnh chùa trở nên nguy nga và đẹp không thua gì cảnh chùa Phnom ở Phnôm-Pênh. Nhân dân Campuchia tâm niệm: một đất nước theo đạo Phật, mà có ông “Phật sống” để thờ thì vinh dự lắm!

Khi tôi từ Luân Đôn trở về Phnôm-Pênh qua đường thủy ở bến Nhà Rồng, thì Hoàng gia Campuchia đã cho một đoàn xe đón tôi về thẳng chùa Prệp Pra, nằm phía dưới Phnôm-Pênh, đường về Châu Đốc. Bấy giờ khoảng tháng chạp năm 1941. Khi ở bến Nhà Rồng, tôi bắt đầu có một số thông tin về đất nước mình. Người ta đã bí mật kể về cuộc khởi nghĩa Nam kỳ của ta bị thất bại, nhiều cán bộ cách mạng bị bắn, bị bắt và giết dã man. Tôi nhớ đến anh hai Lưu Quang Nên của tôi bị giặc Pháp giết. Tôi nghĩ đến gia đình, làng xóm sau hơn chục năm tôi đi biệt, không biết ai còn ai mất. Nước mắt tôi chực trào ra. Nhưng giờ đây, tôi là người tu hành, người ta tôn tôi là “vua Phật”, “Phật sống”, đi đâu cũng được đón đưa như vậy, hơn nữa tôi đang mang quốc tịch Ấn Độ, có mối ràng buộc với một gia đình chính khách, thì việc nói trở về quê hương giữa lúc loạn ly này đâu phải dễ.

Tôi vào chùa, không thể tưởng tượng được người ta làm các thủ tục, nghi lễ đón tôi - một “vua Phật”, bằng thịt bằng xương hiện hữu trước mặt họ. Hương hoa, cây trái và cả một dòng người dài như vô tận. Tất cả họ qùi, chắp tay xá, vợ tôi và thằng con Xô-Chim của tôi lẫn trong dòng người đó. Thời gian gần hai năm trời vợ tôi đi lễ chùa như mọi người, sau đó, tôi mới được gặp vợ tôi.

Phong tục ở đây lạ lắm. Khi tôi được tôn là “vua Phật” thì người ta chọn những người con gái đẹp nhất đến xin được ngủ với tôi để lấy giống Phật. Họ cho tôi biết: Ba năm một lần, tuyển lấy ba cô gái đẹp đến chùa Prệp-pra của tôi để lấy giống Phật. Trong vòng sáu tháng, nếu cô nào có thai đẻ ra con trai thì đứa nhỏ đó được đi tu Phật. Nếu không có thai hoặc đẻ ra con gái là Trời Phật không nhận, những cô gái ấy trở lại sống cuộc đời dân dã, Khi tôi trụ trì chùa này, họ chỉ tuyển một lần, không biết các cô đó có sinh con không. Nhờ tục lệ này, vợ tôi mới được đến chùa ngủ với tôi mỗi lần hai ba đêm và tôi có thêm một đứa con trai tên Ta-Lép.

Một tục lệ khác cũng lạ, Khi tôi tắm, người ta đem vô số chai lọ đến để xin nước tắm Phật về làm thuốc chữa bệnh. Nước này đem về, họ vừa uống vừa thoa bóp. Tiền của dân cúng lễ chùa không biết để đâu cho hết. Ban quản lý chùa xây thêm một căn nhà, đặt năm két sắt. Dân đến lễ chùa cúng dường chật kín hết các két sắt, phải mang đi gởi nhà băng. Sau đó, số tiền này, tôi cho xây một bệnh viện gần chùa, thuốc men cho người bệnh miễn phí, các y tá, bác sĩ được trả lương bằng tiền nhà chùa do dân đóng góp. Mỗi người tới chữa bệnh, đều được nhà chùa cấp cho một tấm thẻ để qua bệnh viện chữa miễn phí.

Tôi trụ trì ngôi chùa Prệp-Pra gần 5 năm (từ năm 1941-1945). Khi cách mạng tháng Tám thành công, người Pháp biết tôi trở về Việt Nam theo kháng chiến, họ cho ném bom ngôi chùa và bệnh viện này thành bình địa. Thực dân Pháp còn ra tuyên bố xử vắng mặt tôi. Vì lúc ấy ông Sơn Ngọc Minh cùng những người cách mạng Campuchia nổi lên chống Pháp, không cho chúng trở lại đặt ách nô lệ lên nhân dân Campuchia một lần nữa. Đạo quân của Sơn Ngọc Minh lấy tên là It-xa-ra. Người Pháp cho là ngôi chùa Prệp-pra là nơi để cho It-xa-ra đặt làm sào huyệt nên họ san bằng nó và xử tôi cùng với tội theo Việt Minh là thế.

(Còn tiếp)



Nguồn: Phật sống Lưu Công Danh. NXB Văn học, 2003. Tái bản, 2005.
- - - - - - - - - - -
(1) Tháng Một, tức tháng 11; tháng Chạp tức tháng 12 âm lịch.