Hiển thị các bài đăng có nhãn rượu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn rượu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2024

Chết vì ngộ độc rượu: Cảnh báo mãi vẫn lờn

 Thời sự

, dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 18/03/2024 06:12

Chết vì ngộ độc rượu: Cảnh báo mãi vẫn lờn

tác giả
BỬU ĐẤU
và Thanh Huyền 

Đã có rất nhiều vụ ngộ độc rượu dẫn đến chết người. Thậm chí có ba người chết vì uống rượu trong đám tang của một người qua đời vì nghi ngộ độc rượu.

Đa phần các ca ngộ độc rượu được điều trị tại Bệnh viện Cà Mau đều phải lọc máu và nhiều ca sau khi phục hồi để lại di chứng nặng - Ảnh: THANH HUYỀN

Đa phần các ca ngộ độc rượu được điều trị tại Bệnh viện Cà Mau đều phải lọc máu và nhiều ca sau khi phục hồi để lại di chứng nặng - Ảnh: THANH HUYỀN

Chỉ riêng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau trong năm 2023 đã tiếp nhận và điều trị cho 45 người bị ngộ độc rượu. Một số tỉnh thành khác tại miền Tây cũng xảy ra trường hợp tương tự. Trong những tháng đầu năm 2024, ngộ độc rượu tiếp tục xảy ra.

"Rượu độc" ở đám tang người chết vì rượu

Đó là vụ việc ba người chết vì uống rượu có hàm lượng methanol (cồn công nghiệp) quá cao gây ngộ độc khi đi dự đám tang của ông N.V.T. (41 tuổi, quê Cà Mau). Ông T. chết vì nghi ngộ độc rượu.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, ông T. ở tỉnh Cà Mau, sang xã Nam Yên (huyện An Biên, Kiên Giang) làm việc. Ngày 2-11-2022, ông T. nghi bị ngộ độc rượu và chết. Sau đó, gia đình tổ chức đám tang cho ông T. kéo dài bốn ngày và có trên 150 lượt người đến viếng.

Gia đình có đãi người đến viếng ăn uống các món thịt kho, cháo vịt, lẩu gà, trái cây... và 100 lít rượu.

Sau khi đi dự đám tang của ông T. về, nhiều người bắt đầu chóng mặt, co giật, mờ mắt, đau ngực, khó thở và được đưa tới Trung tâm Y tế huyện An Biên cấp cứu.

Sau hai ngày điều trị, một số người bị ngộ độc rượu đã phục hồi, xuất viện. Còn 14 người chuyển biến nặng, tiếp tục được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang cấp cứu. Cả 14 người này đều được chẩn đoán ngộ độc methanol.

Cuối cùng ba người trong số đó đã qua đời với kết luận ngộ độc rượu.

Ngay lập tức các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra. Theo báo cáo do ông Đặng Văn Bình - phó chi cục trưởng Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Kiên Giang - ký, kết luận gia đình đã mua hơn 100 lít rượu từ tiệm tạp hóa T. (70 lít) và lò rượu B. (30 lít), cùng ở xã Nam Yên.

Lực lượng chức năng lấy mẫu rượu còn sót lại được mua tại tiệm tạp hóa. Ông T. khai lấy rượu từ lò rượu S.T. và lò rượu T.T.N.. Kết quả mẫu xét nghiệm rượu mua tại tiệm tạp hóa có hàm lượng methanol hơn 72.267mg/l - vượt mức giới hạn cho phép 36 lần.

Tương tự các trường hợp trên, ngày 19-8-2023 tại TP Rạch Giá (Kiên Giang), các ông N.H.T. (39 tuổi), N.T.H. (44 tuổi) và H.V.L. (45 tuổi) phải nhập viện cấp cứu nghi do ngộ độc sau khi uống rượu. Sau đó, ông T. và ông H. qua đời.

Kết quả xét nghiệm mẫu rượu còn sót lại trong bữa tiệc trên có hàm lượng methanol vượt giới hạn cho phép.

Còn tại Cà Mau, trong số 45 ca ngộ độc rượu được Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau cấp cứu và điều trị thì có 29 trường hợp ngộ độc ethanol, ngộ độc methanol là 16 trường hợp. Sau thời gian điều trị có bốn ca tử vong tại bệnh viện, chín ca bị mờ mắt, ba ca bị mù vĩnh viễn.

Điển hình vào tháng 4-2023, tại xã Khánh Bình Tây Bắc (huyện Trần Văn Thời) đã xảy ra vụ ngộ độc rượu làm ông M. (58 tuổi) qua đời và năm người khác phải nhập viện cấp cứu.

Sau đó ba tháng, Cà Mau lại ghi nhận ba người phụ nữ chết sau khi uống rượu liên tiếp hai ngày liền. Tất cả các phụ nữ tử vong đều trú ở ấp Tân Hiệp, (xã Tân Hưng, huyện Cái Nước) với kết luận bị ngộ độc do uống rượu có chứa methanol.

Ngộ độc rượu đến mức báo động

Bác sĩ Mã Nhơn Khiêm - trưởng khoa hồi sức tích cực, chống độc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau - cho biết trung bình mỗi năm bệnh viện tiếp nhận hàng chục ca ngộ độc rượu, trong đó có nhiều ca ngộ độc rượu có chứa methanol.

Các trường hợp ngộ độc methanol có thể khiến bệnh nhân tổn thương não, suy thận cấp..., thậm chí tử vong, nếu được chữa khỏi cũng để lại di chứng rất nặng nề.

Trong khi đó, ông Nguyễn Minh Hùng - chi cục trưởng Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Kiên Giang - cho hay liên tiếp hai năm gần đây tình hình ngộ độc rượu xảy ra đáng báo động. Đa số các vụ ngộ độc là do uống rượu có chứa hàm lượng methanol vượt ngưỡng cho phép rất nhiều lần.

Theo ông Hùng, ở vùng nông thôn, xã nào cũng có lò rượu nhưng các lò rượu này dạng "cơ sở nhỏ" do đó không cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh. Chính vì không có giấy chứng nhận nên đơn vị khó xử lý, chủ yếu để các địa phương tự quản.

"Có thể người sản xuất rượu sơ suất không để ý đã làm chất methanol xuất hiện hoặc các cơ sở sản xuất rượu cố tình sử dụng cồn công nghiệp (methanol) làm rượu" - ông Hùng nói.

Khó truy được nguồn gốc

Chủ một tiệm tạp hóa ở Cà Mau cho biết muốn mua bao nhiêu rượu cũng có, chỉ cần khách đợi khoảng 15 phút họ sẽ đi lấy mang về - Ảnh: TH.HUYỀN

Chủ một tiệm tạp hóa ở Cà Mau cho biết muốn mua bao nhiêu rượu cũng có, chỉ cần khách đợi khoảng 15 phút họ sẽ đi lấy mang về - Ảnh: TH.HUYỀN

Nói về việc kiểm tra sản xuất, kinh doanh rượu, ông Lê Khánh Hưng - cục trưởng Cục Quản lý thị trường tỉnh Kiên Giang - cho hay đơn vị chủ yếu kiểm tra xử lý rượu nhập lậu, rất ít kiểm tra xử lý các cơ sở sản xuất rượu nội địa.

"Đơn vị cũng có chức năng kiểm tra các cơ sở sản xuất rượu ở các địa phương nhưng đa số giao cho các địa phương kiểm tra, xử lý khi có trường hợp ngộ độc", ông Hưng nói.

Cũng gặp trường hợp khó khăn tương tự, theo báo cáo, năm 2023 và những tháng đầu năm 2024, Cục Quản lý thị trường tỉnh Cà Mau đã có 21 đợt cao điểm và thường xuyên kiểm tra việc kinh doanh rượu bia ở tỉnh. Tuy nhiên, qua kiểm tra không phát hiện và xử lý được trường hợp nào vi phạm.

Ông Huỳnh Vũ Phong, cục trưởng Cục Quản lý thị trường tỉnh Cà Mau, cho rằng việc xử lý vi phạm rất khó khăn bởi đa phần những người bán rượu ở vùng nông thôn đều bán chung với các mặt hàng khác chứ không đăng ký mặt hàng kinh doanh rượu.

Khi có những đợt kiểm tra đột xuất theo các vụ ngộ độc rượu thì họ đều biết nên tẩu tán rượu rất nhanh.

Cẩn thận ngộ độc từ rượuCẩn thận ngộ độc từ rượu 'nhà làm', 'bao ngon' dịp Tết

Dịp Tết cận kề, nhu cầu tích trữ rượu bia tăng cao để sử dụng trong các buổi tiệc tùng, họp mặt. Việc lựa chọn loại rượu không rõ nguồn gốc tiềm ẩn nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

Công ty cổ phần Rượu Phú Lễ

Công ty cổ phần Rượu Phú Lễ
Làng nghề tiêu biểu Việt Nam năm 2014
Copy từ http://www.baodongkhoi.com.vn/?act=detail&id=39846 , đăng ngày 10/12/14, mục Kinh tế.
Hướng tới kỷ niệm 10 năm thành lập (2005 -2015), Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức lễ phong tặng các danh hiệu Làng nghề Việt Nam cho nhiều tổ chức, cá nhân trong cả nước. Bến Tre có một doanh nghiệp là Công ty Cổ phần Rượu Phú Lễ với danh hiệu “Đơn vị kinh tế làng nghề tiêu biểu Việt Nam năm 2014”; cá nhân ông Trần Anh Thuy được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân văn hóa nghệ thuật ẩm thực Làng nghề Việt Nam”.
Ông Trần Anh Thuy hiện là Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Rượu Phú Lễ, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Bến Tre, là người góp phần vực dậy làng nghề rượu Phú Lễ, huyện Ba Tri với mong muốn mang lại cho khách hàng những giá trị chất lượng chuẩn mực trong ngành rượu truyền thống Việt Nam. Doanh nhân hóa người nông dân nấu rượu bằng cách tiên phong gìn giữ và phát triển các làng rượu truyền thống với phương pháp sản xuất hiện đại; giới thiệu thương hiệu Rượu Việt ra thế giới.
Ông Trần Anh Thuy (hàng thứ tư, bìa trái) cùng đoàn nghệ nhân làng nghề gặp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Phủ Chủ tịch. Ảnh: BT
Từ năm 2005 đến nay, Công ty Cổ phần Rượu Phú Lễ và cá nhân ông Thuy đã nhận được nhiều bằng khen, giấy khen của nhiều cấp, ngành Trung ương và địa phương. Năm 2005, Công ty nhận bằng khen “Sản phẩm làng nghề độc đáo” của Ban tổ chức Hội chợ các làng nghề truyền thống Việt Nam - ASEAN lần thứ I dành cho doanh nghiệp. Năm 2006, nhận Huy chương vàng Hội chợ triển lãm quốc tế tổ chức tại Cần Thơ. Năm 2007, nhận Cúp vàng Thương hiệu Việt - Sản phẩm đạt chuẩn WTO về sở hữu trí tuệ; Huy chương Vàng dành cho “Sản phẩm chất lượng hội nhập Việt Nam” tại Hội chợ triển lãm Nông nghiệp - Thủy sản và Thương mại Bến Tre 2007.
Năm 2009, ông Trần Anh Thuy được nhận bằng khen của UBND tỉnh Bến Tre vì có những đóng góp tích cực trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, và là doanh nhân tiêu biểu của tỉnh Bến Tre. Năm 2013, Công ty được cấp chứng nhận Giải “Tiếp thị tốt nhất” trong Cuộc thi “Trưng bày và tiếp thị chuyên nghiệp” tại Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao; được bình chọn là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh năm 2013; bằng khen của Hiệp hội Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam. Năm 2014, Rượu Phú Lễ đạt chứng nhận danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn.
Ngày 24-11-2014, tại Phủ Chủ tịch, ông Trần Anh Thuy cùng 40 nghệ nhân đại diện cho các làng nghề Việt Nam có buổi gặp gỡ Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước đã ghi nhận những đóng góp to lớn của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam. Chủ tịch mong muốn Hiệp hội Làng nghề phối hợp với các nghệ nhân, địa phương tổ chức đào tạo nghề, đẩy mạnh thiết kế mẫu mã, xúc tiến thương mại, nâng cao giá trị sử dụng sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ. Chủ tịch nước nhấn mạnh, Hiệp hội cần đóng vai trò tích cực trong chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ hội viên, góp phần xây dựng và phát triển làng nghề gắn với du lịch. Chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa của các làng nghề trên thương trường quốc tế, đặc biệt chú trọng việc tôn vinh sự đóng góp của các nghệ nhân làng nghề trong cả nước.
Trong những năm qua, Công ty Cổ phần Rượu Phú Lễ đã đóng góp xây dựng 14 căn nhà tình thương tại các huyện Ba Tri, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Châu Thành, nộp thuế vào ngân sách của tỉnh hàng chục tỷ đồng/năm, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động tại địa phương và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
T. Huyền

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Kỳ 2: “Thác rượu” chảy nơi cuối rừng

Kỳ 2: “Thác rượu” chảy nơi cuối rừng
Copy từ http://vietbao.vn/Phong-su/Ky-2-Thac-ruou-chay-noi-cuoi-rung/20743795/262/, bài đăng ngày 23-09-2007, mục Phóng sự .
TS)Chúng tôi vào Nậm Ban, nhưng không thể gặp được Chủ tịch xã Chìn A Chảo vì suốt ngày vị chủ tịch này chếnh choáng hơi men. Nhiều người dân Nậm Ban cũng chìm trong "thác rượu" đêm ngày, từ người già đến người trẻ.
Kỳ 1: Vượt rừng vào " Xã đói nhất của tiunhr nghèo nhất"
Lạc vào “xứ sở lưu linh”
Ông Lương Văn Thắng, chủ cửa hàng tạp hoá ở đầu cầu vào Nậm Ban nói rằng, có ngày, cửa hàng của ông bán tới... 300 lít rượu cho người Mảng. Những đồng tiền cứu trợ của Nhà nước được đổ hết vào... rượu.
Được phát gạo rồi thì mang đổi lấy rượu; size ảnh: 400-300
 
Ông Thắng cho biết thêm: “Có khi có cả người Mảng ở bản xa như Nậm Ô (bản trung tâm xã), hay Hua Pản còn đi bộ hơn cả ngày đường để mua rượu cho cả bản. Thường thường, họ mua một lúc hàng chục lít rượu”.
Gạo đi tới đâu thì...rượu cũng đi tới đó! size ảnh:400-300
 
Còn ở bản trung tâm Nậm Ô, đa số rượu uống hàng ngày của người Mảng là mua ngoài quán. Ngay giữa bản, có cửa hàng tạp hoá của người Kinh từ Phú Thọ chuyển về. Đây chính là nơi cung cấp rượu cho cả bản. Còn các bản xa như Hua Pản, cách bản trung tâm Nậm Ô hai ngày đường, chủ yếu là uống rượu tự nấu. Trong chuyến đi lên Hua Pản, chúng tôi nghe được chuyện Lò A Pó, 57 tuổi, “nếm rượu” đến say ngay từ vòi rượu mới nấu rót ra.
Gần 12h đêm, tại nhà Vàng A He (Nậm Ô), ba thanh niên trẻ, trong đó có He, còn ngồi bên bếp lửa. Trong lớp than đượm, mấy bắp ngô đang cháy khét lẹt, ba chai rượu đầy loại 0,75l đặt trên tấm ván kê giữa đất, như mời gọi.
Thấy chúng tôi vào, He mời uống và phân bày: "Các anh thông cảm! Uống tạm với ngô vậy, tụi em chủ yếu uống cho vui và đoàn kết anh em thôi! Nếu anh thích thì uống sáng đêm với tụi em, rượu thì không lo thiếu, vì trong nhà khi nào cũng có sẵn…".
Trong 5 bản người Mảng, chỉ trong vài năm trở lại đây, đã có tới 19 trường hợp thống kê được chết “do uống rượu” (con số do Lý A An, y tế bản Nậm Ô cho biết). Ngay tại trung tâm xã là bản Nậm Ô, trong 2 năm vừa qua có đến 9 trường hợp. Chìn A Chai, nguyên là xã đội trưởng, cũng chết sau khi uống rượu quá say. Vài năm sau, người con trai là Chìn A Tà cũng theo bố khi tuổi đời mới chỉ 36. Có trường hợp nữ là Tào Me Sơn sau khi uống rượu say chạy vào rừng và chết mà không ai rõ… nguyên nhân.
"Thác rượu" chảy tràn ngày đêm . size ảnh:400-300
 
Rải rác ở các bản khác còn có những cái chết đau lòng hơn. Như bản Nậm Xảo, bản nằm ven quốc lộ 12, chỉ trong 2 năm đã có 5 người chết do rượu. Trường hợp của gia đình Lò A Cam, vợ chết năm trước chồng chết theo năm sau. Con trai của Cam là Lò A Chiến cũng chết sau bố mẹ một năm do uống rượu say, bị Chìn A Bướng dùng súng kíp bắn chết.
Cái chết của Chiến khiến người dân Nậm Xảo không khỏi bàng hoàng. Khẩu súng kíp của Chiến khi đi săn về dựng nơi góc nhà. Chiến và Bướng sau khi uống say lời qua tiếng lại. Chiến thách Bướng: “Súng mà nổ thì tao mất cho mày 3 chai rượu”. Cũng chính vì say mà Chiến quên khẩu súng đã được Bướng nạp đạn để đi săn làm thức ăn cho cuộc rượu của hai người… Cái giá phải trả cho một phút bốc đồng không làm chủ được mình của Bướng là hơn 20 năm ngồi trong trại giam Yên Bái.
Giữa tháng 8, phần lớn các gia đình đã hết gạo ăn từ lâu, có nhà chỉ còn một vài gùi ngô bông. Cây sắn trên rừng củ chưa kịp lớn, bắp ngô cho cái hạt chưa kịp thu về, nương lúa, thửa ruộng đang thời kỳ sinh trưởng đã bị cơn lũ vừa qua cướp đi phần lớn. Nhưng, thay vì lo lắng phải đi làm lại con mương để dẫn nước vào ruộng, phần lớn dân bản, nhất là đàn ông, lại dành phần lớn thời gian để... uống rượu.
Cứu trợ như... “muối bỏ biển”
Trong suốt cuộc hành trình của chúng tôi, đến bản nào, nhà nào, cũng nhận được câu hỏi: “Bao giờ Nhà nước phát gạo cứu đói cán bộ nhỉ?”. Mới đây, tháng 11 năm 2006, tỉnh Lai Châu đã phát gạo cứu cho riêng đồng bào dân tộc Mảng 20kg/ khẩu. Trong dịp Tết Nguyên đán, tỉnh lại trợ cấp tiền ăn Tết cho những hộ nghèo.
Nhà Tào A Dự, gạo đã chuyển thành rượu 400-300
 
Tháng 3 vừa rồi, toàn xã Nậm Ban được nhận hơn 1 tỷ đồng tiền bảo vệ rừng của Dự án 661. Đợt 1, riêng 5 bản người Mảng đã nhận hơn 550 triệu đồng.
Có nhà ở bản Nậm Nó II, ngay chiều hôm đó đã ra Pa Tần mua một chiếc xe Weve tầu về mặc dù nhà đã hết gạo ăn. Sáng hôm sau mang ra tập đi ngã dúi dụi. Đến chiều chiếc xe đã vỡ hết yếm và trên mình chủ nhân của nó cũng đầy những thương tích.
Trong lần phát tiền đợt 2, Ban Dự án 661 của huyện Sìn Hồ đã xin ý kiến của huyện chuyển số tiền chăm sóc bảo vệ rừng của người Mảng thành... gạo, để cứu đói, mỗi nhà được 20kg gạo. Theo ông Hồ Xuân Vĩ, Phó Ban Dự án 661 thì: “Tháng 8 là tháng giáp hạt, đồng bào đều đói hết. Trước tiên phải cứu đói cho đồng bào đã. Thời điểm này phát gạo một lần, tháng 11 phát gạo lần nữa. Chúng tôi sợ khi tiền đến được với bà con lại chuyển thành rượu hết nên mới đề ra biện pháp phát gạo này”.
1060 khẩu người Mảng được phát gạo cứu đói, mỗi khẩu 20kg -300-400
 
Diện tích đất canh tác dành cho cây lương thực của cả xã chỉ trồng chủ yếu là ngô và sắn, không cho thu hoạch cao. Số lương thực ít ỏi đó, theo bà Lý Thị Chướng, Phó Chủ tịch xã, chỉ đủ nuôi sống người Mảng trong vòng được 2 tháng.
Thực trạng đói nghèo đang diễn ra tại Nậm Ban. Nhưng theo ông Vĩ thì: “Chỉ tính riêng tiền hỗ trợ từ việc chăm sóc bảo vệ rừng của dự án khoanh nuôi bảo vệ rừng 611, được cấp 3 đợt trong năm, người Mảng đã có đủ số gạo ăn trong vòng trên 8 tháng”.
Tổng cộng “nguồn thu” của người Mảng từ tiền Dự án 661 và lương thực canh tác có thể đủ ăn trên 10 tháng. Nhưng thực tế, tộc người này vẫn đói hơn 10 tháng trong năm. Bữa ăn có khi không có cả ngô và sắn mà chỉ là củ mài, rau rừng...
Với tốc độ cháy rừng và phá rừng ở Lai Châu nói chung và ở xã Nậm Ban nói riêng như hiện nay, tài nguyên đất canh tác nông nghiệp ở Nậm Ban đang bị thu hẹp một cách đáng sợ.
Phó Chủ tịch xã Lý Thị Chướng cho biết: “Hiện tại, không thể thống kê được diện tích canh tác lúa nước của toàn xã bởi vì cứ sau mùa mưa lũ lại cuốn trôi đi nhiều đám ruộng quanh suối Gium Bai. Bà con phải đi trồng nương ở đồi núi dốc, xa nhà, năng suất thấp. Trong năm vừa qua, nhà nước đã tài trợ cho xã nhiều đợt giống cây trồng, phân bón để chăm sóc cây trồng, nhưng đa số các hộ đều bán ở ngay Pa Tần mua rượu về uống”.
Thông Chí - Thông Thiện
Kỳ 3: Người Kinh trên vùng đất khó
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Kỳ 1: Vượt rừng vào "xã đói nhất của tỉnh nghèo nhất"

Kỳ 1: Vượt rừng vào "xã đói nhất của tỉnh nghèo nhất"
Copy từ http://vietbao.vn/Phong-su/Ky-1-Vuot-rung-vao-xa-doi-nhat-cua-tinh-ngheo-nhat/20743565/262/, bài đăng ngày 22-09-2013, mục Xã hội > Ký sự.
Trước khi vào Nậm Ban, tôi làm phép thử trên Google tìm "dân tộc Mảng", ra 101 trang tiếng Việt chỉ trong chưa đầy 0,03 giây. Nhưng phải mất tới 2 ngày trời đi từ thị trấn Pa Tần (huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu) mới tới được trung tâm xã. Hai lần ngả giá với cánh xe ôm ở Pa Tần, chỉ nhận được những cái lắc đầu, mặc dù giá đã lên tới 500 nghìn cho quãng đường chưa tới 20 km.
Bản làng "biến mất" trong mùa mưa
Dân tộc Mảng chỉ còn độ hơn 3.000 người, sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Sìn Hồ và Mường Tè (tỉnh Lai Châu). Đây là tộc người bản địa duy nhất ở Lai Châu mà không phải di cư từ vùng đất khác đến. Điều này lý giải lịch sử dân tộc Mảng có trước tất cả mọi tộc người khác trên đất Lai Châu.
 
Chúng tôi đi vào xã Nậm Ban (huyện Sìn Hồ), vùng đất tổ của dân tộc Mảng. Một tâm trạng khắc khoải tới nao lòng khi biết mình đang đi vào xã đói nhất của tỉnh nghèo nhất nước.
Vào tới bản ngoài cùng là Nậm Nó 2, Lò A Tiến, trưởng bản trẻ nhất của xã, nhăn mặt khi tôi hỏi đường vào tới trung tâm xã. Tiến nói thẳng: "Đi bộ thì phải hơn 2 ngày trời có khi chưa tới được bản trung tâm. Còn đi xe thì không thể tới được, trừ khi phải buộc xích vào bánh xe để tránh bùn trơn vào mùa mưa. Muốn mua xích thì phải xuống Pa Tần".
Mới chỉ dừng ở bản ngoài Nậm Nó 2 chưa đầy 30 phút, tôi phải quay lại Pa Tần mua 2 đôi xích, chằng xen vào nan hoa hai bánh xe máy mà cánh xe ôm ở đây gọi là “hỏa xa”.
Mờ sáng hôm sau, khi gà gáy lần hai còn chưa rõ tiếng trưởng bản đã giục dậy chuẩn bị hành lý và cơm nắm cho bữa trưa, dự định trong 1 ngày có thể tới Nậm Ban. Chằng được hai chiếc xích vào bánh thì cũng là lúc những cơn mưa rừng đổ xuống. Trời Tây Bắc vào thu thường chỉ có những cơn mưa nhẹ, hiu hắt nhưng rả rích suốt ngày đêm. Nhìn bằng mắt thường không rõ đường, chỉ thấy những vệt cây rừng uốn quanh núi đồi.
Ngồi sau tay lái của A Tiến, chỉ nghe tiếng chiếc xe gầm rú liên tục. Suốt cả chặng đường, Tiến chỉ đi bằng hai số 1 và 2. Chiếc xe ngả nghiêng, Tiến hét to át lại tiếng gió: “Cán bộ ngồi phải thẳng, sao cho trọng tâm không được lệch. Qua những khúc cua thì nghiêng người về hướng ngược lại để lấy thăng bằng cho xe!”. Nói thì nói vậy, nhưng chẳng mấy khi ngồi yên được để chỉnh lại tư thế, vì chiếc xe nẩy lên liên tục.
Con đường dân sinh dài 17 km nối từ quốc lộ vào trung tâm xã Nậm Ban được mở năm 2000. Nhưng chỉ đến năm 2001 thôi, người từ trung tâm xã Nậm Ban ra hay người từ ngoài vào đều phải mang theo cuốc xẻng. Có nghĩa là vừa đi vừa phải dùng cuốc, xẻng để san đường. Thực trạng đó diễn ra từ đó đến nay, theo cách gọi của người dân xã Nậm Ban đây là con đường “san tay”.
 
Cuối năm 2006, ông Lương Văn Thắng, một hộ kinh doanh ở Pa Tần đã tự bỏ tiền túi thuê nhân dân san đường để chở hàng hoá, nhu yếu phẩm vào buôn bán. Con đường cũng chỉ đi được thêm hai tháng nữa. Đến tháng 6, những trận mưa rừng đầu tiên trút xuống, lại sạt lở nhiều đoạn.
Cây cầu dây cáp trôi xuống suối theo dòng nước. Nậm Ban lại thọt lỏm giữa núi rừng và hoàn toàn biệt lập.
Bà Lý Thị Chướng, Phó Chủ tịch xã Nậm Ban chỉ tay về phía những vệt cây rừng ngoằn nghèo, nói: “Bản gần trung tâm nhất như Nậm Nó 2 cũng phải mất hơn 2 giờ đi xe trong thời tiết thuận lợi. Còn bản xa như Hua Pản thì sáng sớm đi, chiều tối có khi vẫn chưa tới”.
Có đường thì người Mảng mới giao thương được với bên ngoài để phát triển kinh tế. Con đường chính dẫn vào xã là quá nhỏ, chỉ quá cánh tay người, có đoạn chỉ vừa cho 2 người đi bộ. Vào mùa mưa, con đường như được dải lớp dầu trơn trên bề mặt khiến cho người và xe không thể qua lại được.
Đói đều, không tìm được hộ đói nhất!
Bản Nậm Nó 1 nằm chênh vênh bên suối Gium Bai. Toàn bản có hơn 40 hộ. Nhìn quanh chỉ thấy những ngôi nhà sàn xiêu vẹo, bốn bề thưng tre nứa đã mục, mốc thếch.
Cả bản không có lấy một cây cao, hay một khoanh đất nào để trồng rau. Đường đất nối nhà này với nhà kia đầy phân trâu bò, lợn gà bốc mùi hôi, tanh lợm sau cơn mưa đêm qua.
 
Tào A Yến rót nước vào chiếc bát cáu bẩn, sứt mẻ, mời khách. Nhà Yến có 5 nhân khẩu, sống trong cái lán làm bằng tre nứa diện tích khoảng 15 m2. Nhìn xung quanh nhà thấy chỉ có mấy chiếc nồi sứt mẻ, ở góc nhà là tấm cót đan làm giường cho cả nhà ngủ. Nhà làm ít ruộng nên mỗi vụ thu hoạch không đầy 50 cân thóc, chỉ đủ ăn trong hai tháng.
Người Mảng có tên gọi như Mảng Ư, Xà Lá vàng. Đồng bào Mảng sinh sống bằng nghề làm nương rẫy, lúa, ngô, sắn là nguồn lương thực chính. Phương thức canh tác của đồng bào còn lạc hậu, công cụ sản xuất rất thô sơ như rìu, dao, gậy chọc lỗ.
Người Mảng nuôi lợn gà, chủ yếu dùng trong các dịp nghi lễ tín ngưỡng. Con trâu, bò, ngựa nuôi không đáng kể. Nghề thủ công gia đình tiêu biểu nhất là đan lát. Sản phẩm đan là cót, bem...để dùng và bán hoặc đổi lấy gạo và vải vóc.
Tháng 11 năm 2006, nhà Yến được 1,2 tạ thóc cứu đói của Nhà nước, cũng chỉ đủ ăn đến sau Tết là hết. Vợ Yến đang lên nương sắn đào lại xem còn sót củ nào để làm bữa tối cho cả gia đình.
Nhà Chỉn A Ờn thì có khá hơn một chút. Nhà Ờn có 5 người vẫn còn một gùi sắn mới lấy từ nương về. Vợ Ờn vừa lúi húi nướng sắn vừa địu trên lưng đứa con mới 5 tháng tuổi. Mấy đứa lớn hơn ăn sắn nướng và luộc mãi cũng chán, chúng bóc vỏ ăn sống sồn sột.
Nhà trưởng bản Chìn A Hới cũng đã hết gạo. Cả nhà cũng đang ăn sắn, ăn ngô cầm cự qua ngày. Trưởng bản nói chuyện với tôi không được mặn mà, vì ngại khách đến không có cái gì để tiếp.
Khi tôi hỏi số hộ thiếu ăn trong bản, Hới nói một danh sách các hộ dài dằng dặc. Bản Nậm Nó 1 có 40 hộ thì 33 hộ đang lâm vào tình trạng đói trầm trọng. “Bản ta hộ nào đói nhất?”. Hới trả lời: “Đói đều nhau thôi mà, không tìm được hộ đói nhất đâu”.
Bí thư xã Lý Mò Hừ cho biết: Xã Nậm Ban có 11 bản thì có 5 bản người Mảng là: Nậm Nó I, Nậm Nó II, Nậm Ô, Nậm Xảo 1 và Hua Pảng với hơn 800 khẩu. Chỉ có bản Nậm Xảo 1 gần trung tâm xã Pa Tần, tình trạng đói đỡ hơn. Bốn bản còn lại đều lâm vào tình trạng như bản Nậm Nó 1.
Thương nhất là các em học sinh. Theo thầy giáo Trần Nam San, giáo viên cắm ở bản Nậm Nó 1, nhiều hôm các em lên lớp đói quá lả đi, thầy lại phải mang miến, gạo dự trữ của mình ra nấu cho các em ăn.
 
Thỉnh thoảng, phải mang gạo xuống nhà học sinh cho vì sợ sáng mai các em lại bỏ học lên rừng tìm măng, đào củ mài. Hạt gạo vận chuyển vào được nơi này thì quý như vàng. Muốn mua phải ra Pa Tần cách hơn 30 cây số, thuê người gùi vào thì tiền công còn đắt hơn tiền gạo.
Chạng vạng tối, tôi và thầy San (giáo viên tiểu học cắm bản Nậm Nó 1) phải đi tìm rau rừng để chuẩn bị cho bữa tối. Quanh bản Nậm Nó 1 không thấy một loại cây gì có thể ăn được. Những loại rau rừng như: Rau dớn, rau tàu bay, rau má, rau dền hoang, ngọn cây vả rừng… đều bị bà con vặt trụi. Có nhà còn nhổ cả gốc cây rau dền đem rửa nấu ăn cho đỡ đói. Muốn tìm được rau thì phải đi xa vào rừng sâu.
Chiều ở bản Nậm Nó 1 buồn quay quắt. Những ngôi nhà sàn tre nứa quặt quẹo tưởng như sắp đổ. Mấy năm trước, diện tích đất canh tác ở ven suối Gium Bai còn nhiều thì tình trạng thiếu ăn đỡ hơn. Ngoài ra suối Gium Bai còn cung cấp rất nhiều tôm cá cho đời sống. Người Mảng có nhiều cách chế biến nhiều món ăn từ cá suối rất ngon như: Cá lam nướng, cá Pa Kính nướng, cá đồ….
Nhưng trận lũ năm ngoái đã cuối trôi hết nguồn thực phẩm dồi dào này ra sông Nậm Na. Bây giờ rêu đá còn khó kiếm. Còn tôm, cá thì bặt không thấy bóng.
Thông Thí - Thông Thiện