Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Đạo Dừa - huyền thoại và sự thật- Kỳ 3

Đạo Dừa - huyền thoại và sự thật- Kỳ 3
Kỳ 3: Đủ kiểu khuếch trương thân thế
Copy từ http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=702&p=&id=537961,đăng ngày 08/05/15, mục Phóng sự điều tra.(Gồm 5 kỳ)
Từ “hòa hiệp tôn giáo” đến “vận động hòa bình”... sau khi vận dụng hầu hết các chiêu không thành, “giáo chủ” Nam tiếp tục quay về khuếch trương“thánh địa” để thu hút tín đồ, đồng thời tạo thêm thu nhập và đánh bóng tên tuổi theo kiểu ngự ghế khắc đầu rồng, dâng áo hoàng bào rồi “tiếp điển ơn trên” với điềm báo làm vua.
Từ xuất chiêu “Hòa hiệp tôn giáo”...
Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng của cuộc chiến, các đảng phái tranh giành ảnh hưởng trên chính trường bằng nhiều thủ đoạn thượng vàng hạ cám. Sau lần ở tù và bị đưa vào nhà thương điên, Hai Nam vẫn chưa tởn, tranh thủ cảnh bát nháo này tiếp tục tung ra nhiều chiêu độc, đầu tiên là chủ trương “hòa hiệp tôn giáo”.
Để thực hiện, Hai Nam ghép chung ảnh Chúa Giêsu với đức Phật và một số đức tin của các tôn giáo khác đặt tại nơi thờ tự, sau đó mời chức sắc các tôn giáo khác đến Nam Quốc Phật giảng đạo cho tín đồ... Đạo Dừa!
Đối với các vị khách mời thì đây là cơ hội để tuyên truyền phát triển đạo của họ, nhưng Nguyễn Thành Nam lại “nổ” là thành quả của công trình vận động mà chỉ có ông ta mới đủ tài đức làm nên, đã tập hợp được dưới trướng mình hầu hết chức sắc của các tôn giáo khác.
Theo đó, ông Đạo Dừa sai đệ tử chụp ảnh chân dung mình rồi dùng kỹ thuật lắp ghép thể hiện người tỏa ra vầng hào quang thiên mệnh như Phật sống, thánh sống. Cùng với những việc làm hoang tưởng ấy, Hai Nam còn có ý nghĩ điên rồ là luôn đặt mình ngang bằng với những nhà lãnh đạo lỗi lạc trên thế giới.
Xuất chiêu đúng thời cơ nên hoạt động chính trị của ông Đạo Dừa đã tạo được ảnh hưởng trong dư luận nhờ báo chí Sài Gòn cũ phản ánh rầm rộ với một số bài viết: “Ông Đạo Dừa lãnh tụ híp - pi quốc tế: Tu phái Thích Hòa Bình đang nghĩ gì? Mưu định gì?”, “Đạo Dừa, ông là ai? Thánh sống hay kẻ điên khùng?”...
Nhiều ký giả luôn rình rập bên Hai Nam để thiên cơ... khả lậu! Họ xào nấu, tráo lận trắng - đen, thật - ảo nhằm câu khách, trong khi nhiều tờ khác lại đả kích, mạt sát ông này. Riêng chính quyền Diệm không hề để mắt tới bất kỳ sự tranh thủ nào của Hai Nam về chủ trương “hòa hiệp tôn giáo”, xem đó là việc làm nhảm nhí. Nhưng cậu Hai đâu chịu ngồi yên.
Thuyền Bát Nhã
...Đến “Vận động hòa bình”
Qua sự dàn xếp của một người có uy tín, năm 1961 Hai Nam được gặp tổng thống Diệm bốn phút tại phi trường Kiến Hòa để trình bày ước vọng thống nhất đất nước. Dịp này, ông Diệm cũng hứa sẽ xem xét giải pháp hòa bình do Hai Nam soạn thảo. Nhưng việc không thành, theo Hai Nam là do cố vấn Ngô Đình Nhu cản trở.
Mãi đến sau đảo chính năm ngày, tức ngày 5-11-1963, Hai Nam mới hả hê cùng một vài đệ tử thân tín lên Sài Gòn mở cuộc họp báo, hy vọng gặp được quốc trưởng Dương Văn Minh, thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ để bàn giải pháp hòa bình nhưng chẳng ai ngó ngàng đến.
Không nản lòng, ngay sau đó Hai Nam thành lập phái đoàn gồm 72 Đạo, Diệu mặc trang phục màu điều, kiểu gần giống đạo Phật, ra tận miền Trung gọi là đi “cầu nguyện cho hòa bình”. Dịp này, Hai Nam cho biết định mượn chiếc đại hồng chung ở chùa Linh Mụ (Huế) để gióng lên trong buổi nguyện cầu, nhưng ý tưởng ngông cuồng ấy không được đáp ứng.
Chẳng biết mắc cỡ, ông Đạo Dừa tiếp tục dẫn phái đoàn đến quì giữa lằn ranh chia đôi trên cầu Hiền Lương, bảo là để “thức tỉnh lương tâm dân tộc”. Cũng trong năm này, Hai Nam bảy lần lên Sài Gòn đòi yết kiến Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodle, đại tướng Westmoreland, bộ trưởng quốc phòng Mac Namara đang thị sát chiến trường Việt Nam.
Khi đi, ông mang theo hai con mèo và bốn con chuột nhốt chung lồng (sau mèo đã chén chuột no nê). Nhà chức trách cho rằng việc này là hoang tưởng nên chẳng ai quan tâm.
Khuyếch trương “Thánh địa”
Những việc làm giật gân không đem lại hiệu quả, ấm ức, Hai Nam quay về quyết định khuếch trương “thánh địa” để thu hút tín đồ, đồng thời cũng nhằm tạo thêm thu nhập. Tháng 3-1964, cậu dời chùa Nam Quốc Phật đến phía đông cồn Phụng, cách chỗ cũ một con sông. Với khoản tiền khấm khá do đệ tử chu cấp, ông Đạo Dừa nâng cấp cơ ngơi của mình hoành tráng hơn.
Cái tên cồn Phụng có phải do ông Đạo Dừa đặt khi nhặt được cái chén cổ có hình con chim Phụng trong lúc đào bới xây chùa? Theo nhiều người lớn tuổi ở địa phương thì cồn này xuất hiện vào những năm 1930, lúc đầu gọi là cồn nổi.
Thực tế nhìn vào địa hình sông Tiền đoạn này cho thấy có cồn đất nổi lên đeo bám nhau và tên chúng được đặt theo quan niệm của người xưa: Long - Lân - Qui - Phụng (tứ linh) nên cái tên cồn Phụng đã có từ lúc người dân đầu tiên đến đây khai phá là ông Hai Rẫy.
Thất Sơn nhân đạo và Bát quái đài
Trở lại hành trình xây dựng “thánh địa” Đạo Dừa, cùng với việc xây chùa Nam Quốc Phật, Bát quái đài, cầu Vị Lai (hai bên có trụ xi-măng cao hơn chục thước tượng trưng cho hai miền Nam - Bắc, dưới chân đắp hình bản đồ Việt Nam, gần đỉnh có vài thanh sắt nối qua gọi là cầu Hiền Lương và bên dưới treo quả địa cầu sắt để muốn truyền đạt thông điệp gì, Hai Nam chỉ cần đứng nói trước đó thì cả thế giới đều nghe), Thất Sơn nhân tạo, hội trường Hòa Bình (sức chứa 2.000 người)...
Còn dưới sông, Hai Nam cho đặt chiếc xà lan để thiết kế ngôi chùa nổi dài 42m, ngang 14m, cao 3 tầng. Ngoài ra, ông Đạo Dừa còn đóng thuyền Bát Nhã dùng đi “khải đạo” trên sông.
Nơi nào Hai Nam đến ở cũng nhìn ra “cơ trời, điềm đất”. Sau khi đệ tử làm xong Bát quái đài thì xuất hiện thêm chuyện “huyền bí”: tương truyền có bảy con rắn hổ lửa kéo nhau lội qua ao sen (Bát quái đài tọa giữa ao sen) nhưng do Hai Nam có bùa phép nên chúng không dám cắn (!).
Cùng lúc có người ở tận Châu Đốc mang tới tặng Hai Nam hình Phật Thích Ca ngự trên Thất đầu xà, không biết vô tình hay hữu ý mà trùng hợp với tin đồn về bảy con rắn hổ lửa. Thực hư ra sao chỉ có cậu và đám đệ tử mới tường, song tất cả những điều này càng làm tăng thêm sự linh ứng của Hai Nam, những người mê tín lũ lượt kéo đến chiêm bái.
“Giang sơn” nằm ở vị trí đắc địa (trước khi có cầu Rạch Miễu, phương tiện đưa đón khách từ Tiền Giang qua Bến Tre và ngược lại đều đi ngang qua khu vực đông cồn Phụng), thêm những công trình kiến trúc lập dị, kỳ quái đã khơi gợi trí tò mò của du khách và vị “giáo chủ” ma mãnh đã tận dụng điều này để khai thác du lịch.
Bên cạnh việc phát triển các loại hình dịch vụ ăn theo, đội ngũ làm kinh tế cho Hai Nam còn có các bộ phận trồng trọt, đưa đò... Theo tính toán của những người trong cuộc thì trừ tất cả chi phí hoạt động, hàng tháng cậu Hai bỏ túi khá bộn.
Đây là thời kỳ phát triển nhất của Đạo Dừa, Hai Nam tuyên bố với khách tham quan: “Sở dĩ Nam Quốc Phật được chuyển về cồn Phụng là để sau này lên cầm quyền sẽ chọn nơi đây làm thủ đô mới của nước Việt Nam. Còn hiện tại đó là một quốc gia thu hẹp chứ không phải cái chùa theo nghĩa thông thường”.
Với ý nghĩ đó, Hai Nam hình thành cơ cấu tổ chức, sắp xếp điều hành mọi hoạt động ở cồn Phụng giống như khu hành chánh tự trị. Mọi quy tắc ông ta ban hành, các tín đồ phải răm rắp tuân theo.
Để ra vẻ quyền uy, khi tiếp khách Hai Nam ngồi trên ghế có khắc nhiều đầu rồng, trước mặt đặt cặp ngà voi có đường kính và chiều dài lớn nhất Việt Nam.
Ngoài ra, ông Đạo Dừa còn sai đệ tử thường xuyên tổ chức cảnh dâng áo hoàng bào vì cho rằng mình là “vua Minh Mạng tái sinh” và còn làm nhiều chuyện giật gân khác nhằm gây sự chú ý của giới truyền thông. Được biết chiếc áo đồng bóng này do bà Diệu Ứng mua lại của một người giữ miếu, giá 50 ngàn đồng.
(Còn tiếp)
Huỳnh Thanh Tuấn - Cao Nguyên

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

Sắc hoa Túy Sơn viên

Sắc hoa Túy Sơn viên
Lan Đà Lạt
Copy từ http://vnexpress.net/tin-tuc/cpm/ngoi-nha-xanh-cua-ban/sac-hoa-tuy-son-vien-2752598.html ,đăng ngày 07/06/12, mục CPM > Ngôi nhà xanh của bạn. 6 ảnh.
Những bông hoa đua nhau khoe sắc tại vườn nhà "Túy sơn viên" trên vùng đất đầy mộng mơ Đà Lạt.
Hoa huệ sông Nile (Lily of the Nile) được trồng ở phía trước để che phần móng nhà. Hoa nở mỗi năm một lần vào mùa mưa.
Hoa hồng leo (hồng dại), loại hoa hồng nở thành chùm có hương thơm thoang thoảng.
Hoa rạng đông (Pyrostegia venusta) trên vòm cổng. Hoa rạng đông nở rộ vào giữa mùa mưa hàng năm.
Hoa hồng ri (Cleome) ngoài vườn. Hồng ri là loại hoa có thể trồng quanh năm, hoa rộ một lần.
Một góc bồn hoa ngoài vườn.
Bồn hoa hướng dương (Sunflower) và thược dược (Dahlia). Hướng dương là hoa một mùa (annual) có thể trồng quanh năm, thược dược là hoa xuyên mùa (perennial), nở hoa một lần vào đầu mùa mưa.
Hà Xuân

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

"Vườn Kiều" độc nhất vô nhị ở Việt Nam

"Vườn Kiều" độc nhất vô nhị ở Việt Nam
Copy từ http://baophapluat.vn/bi-an-cuoc-song/vuon-kieu-doc-nhat-vo-nhi-o-viet-nam-195596.html ,đăng ngày 31/08/14, mục Khám phá > Chuyện lạ.
Ở khu phố 4 (phường Bình Đa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) có khu vườn vô cùng lạ mắt mang đậm chất truyện Kiều. Người dân trong vùng vẫn quen gọi đây là “biệt thự vườn Kiều” hay vườn thơ, vườn Kiều. Chủ nhân khu vườn lạ lùng ấy vốn là nông dân nuôi heo có tiếng Phạm Văn Khoát (bút hiệu Bá Khoát, SN 1933)
Đền thờ cụ Nguyễn Du trong vườn Kiều
Đền thờ độc nhất vô nhị
Về phường Bình Đa, hỏi vườn Kiều ai đều biết. Đó là khu vườn rộng chừng 3.000m2 nằm trong một con hẻm tĩnh lặng. Vừa bước vào đầu ngõ, du khách được chào đón bởi hai câu thơ: “Vườn Kiều đón khách du xuân/ Đọc thơ ngắm cảnh thương thân nàng Kiều”. Cảnh vật tại đây được chủ nhân bài trí đậm nội dung truyện Kiều như tượng Kim Trọng trên lưng ngựa, tượng hai chị em nàng Kiều e ấp trước mộ Đạm Tiên… Kế bên, chủ nhân dựng thêm tượng bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương với chú thích “Người tình của Nguyễn Du”.
Đi sâu vào vườn Kiều, sẽ bắt gặp đền thờ Đại thi hào Nguyễn Du do chính tay ông Khoát thiết kế và xây dựng. Mỗi năm vào ngày 16/9, ông và những người yêu mến truyện Kiều lại tổ chức đám giỗ tưởng nhớ tác giả Nguyễn Du tại đây. Dẫn khách đến đâu, chủ nhân đều giải thích tỉ mỉ những cảnh vật được trưng bày mang nội dung gì.
Chẳng hạn như trong truyện Kiều có loại cây nào, ông chủ khu vườn đều sưu tầm mang về trồng bằng được. Hiện cả khu vườn có hơn 100 tượng động vật, giống cây như thế. Không chỉ trang trí khu vườn bằng cây cối, ông Khoát còn xây dựng những công trình được nhắc đến trong truyện Kiều như Liễu Chương Đài, Am Các Tự hay nhà của Hoạn Thư. Dưới mỗi bức tượng hay cây cảnh đều có chú thích bằng chính thơ trích ra từ truyện Kiều. Ví như cây Mai và Trúc được chú thích: “Muôn ngàn người thấy cũng yêu/ Xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai”. Tỉ mỉ hơn, ông Khoát còn đề rõ rõ câu thơ mình trích ra nằm ở câu thứ bao nhiêu.
Tượng chị em Thuý Kiều trước mộ Đạm Tiên
Không chỉ trong vườn, ngay tường rào cũng trở thành diện tích khắc họa ngót nghét 20 chương trong truyện Kiều. Ông không quên thanh minh, vì tường rào chỉ dài 200m nên chỉ chép đủ 20 bức điêu khắc tương đương 20 chương. Những bức tường này do chính tay ông Khoát thiết kế. Kỳ công hơn, ông chủ vườn Kiều còn cho người đào ao thả sen và xây gác nhỏ giữa hồ lấy tên “Lầu Ngưng Bích”, nơi Thuý Kiều từng ngồi ngắm cảnh.
Ông Khoát chia sẻ cơ duyên xây dựng nên khu vườn Kiều. “Lúc 32 tuổi, tôi bị suy tim và được khuyên thường xuyên tắm biển. Mỗi năm phải tắm ít nhất 15 ngày nên có thời gian đọc truyện Kiều. Rồi dần dần tôi cảm nhận được nội dung ẩn chứa bên trong”, chủ khu vườn nói. Thế rồi ông Khoát bắt đầu nghiền ngẫm từng câu từng chữ, tìm đọc đủ 104 điển tích trong truyện Kiều. Còn về khu vườn, chủ nhân bộc bạch, có nhiều cách thể hiện tình yêu truyện Kiều như phổ nhạc, vẽ tranh.
Riêng ông muốn lập khu vườn tạo thú vui tuổi già. Ý tưởng ấy được biến thành hiện thực vào năm 1996 khi ông dứt bỏ cơ bản công việc làm ăn và hoàn thiện trong những năm sau đó. Hiện tại chủ nhân khu vườn vẫn tiếp tục cải tạo vườn Kiều để những du khách đến đây thực sự hoà mình vào câu chuyện trong truyện Kiều, cảm nhận hết nội dung tác phẩm.
“Vua” nuôi heo trở thành chủ vườn thơ
Bộc bạch tâm sự, ông Khoát cho biết cảm thấy rất vui từ khi nghiên cứu truyện Kiều. Càng vui hơn khi hội Kiều học là nơi trao đổi về truyện Kiều được thành lập vào năm 2011. Đây được xem là diễn đàn giới nghiên cứu đưa ra quan điểm mới nhất về tác phẩm làm nên tên tuổi Đại thi hào Nguyễn Du. Ông Khoát bật mí, ngày giỗ năm nay sẽ ra mắt văn phòng đại diện hội Kiều học ở Đồng Nai, lấy nơi làm việc là lầu Ngưng Bích.
Chân dung ông lão mê truyện Kiều
Thông tin bất ngờ ít ai biết đó là chủ vườn Kiều vốn được biết đến với biệt danh “Vua” nuôi heo. Kể về bí mật này, ông Khoát tươi cười: “Tôi nuôi heo từ năm 1963. Có được biệt danh trên nhờ vào năm 1993, đài phát thanh truyền hình Đồng Nai mời tôi diễn vai trong bộ phim “vua nuôi heo” tham dự cuộc thi sản xuất giỏi. Phim đạt được giải 3 toàn quốc. Tên gọi “Vua” nuôi heo gắn luôn vào cuộc đời từ đó. Tôi cảm thấy vui bởi tên gọi có phần kỳ quái này lại hợp với nghề nghiệp của bản thân”.
Ngoài đời thường, ai cũng thừa nhận ông Khoát xứng đáng với “chức” “Vua” nuôi heo. Từ trang trại nhỏ ban đầu, người đàn ông này đã gầy dựng thành công ty chăn nuôi Thanh Bình. Ông kể: “Tôi vốn quê ngoài miền Bắc di cư vào Nam từ năm 1954. Nhận thấy nghề nuôi heo phù hợp nên đã đeo đuổi. Lúc đầu chỉ nuôi vài chục con, sau đó tăng lên 300 con và trên 10.000 vào lúc cao điểm”. Trang trại ông Khoát từng được các đối tác nước ngoài kí kết hợp tác làm ăn. Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Khoát còn tạo việc làm cho người dân địa phương, giúp họ ổn định cuộc sống.
Bất ngờ hơn khi biết người đàn ông giỏi làm kinh tế, đam mê nghệ thuật này chỉ học hết lớp 5. Ông bộc trực chia sẻ, do không thi đỗ kì thi chuyển cấp đành bỏ học vào miền Nam lập nghiệp. Thời gian này, ông Khoát kiên trì theo học hệ bổ túc nâng trình độ học vấn đến lớp 9.
Ông mê thơ đến mức bỏ tiền túi tự thưởng cho mình chuyến xuất ngoại sang Trung Quốc, tìm đến những nơi mà nhân vật Thuý Kiều từng đi qua như Giang Tô, sông Tiền Đường, Vô Tích, Châu Thai để thoả trí tò mò. Chưa hết, ông còn tự lập bản đồ riêng về hành trình cuộc đời của nhân vật nữ “hồng nhan bạc mệnh” Thuý Kiều. Từ khi nhường chức giám đốc trại heo cho con trai, ông Khoát “bán” phần đời còn lại cho truyện Kiều.
Giải nghệ nghề nuôi heo hơn gần 20 năm nay, nỗi trăn trở lớn nhất của ông Khoát là niềm tiếc nuối bởi trang trại do mình sáng lập đã chuyển sang nuôi gà. Giải thích việc chuyển đổi vật nuôi, ông Khoát nói: “Bây giờ người nuôi heo sử dụng thuốc tăng trưởng nhiều quá khiến những người nuôi heo trung thực như tôi không cạnh tranh lại. Bởi vậy đành thay đổi, chuyển sang nuôi gà”.
Bùi Yên

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Đạo Dừa - huyền thoại và sự thật- Kỳ 2

Đạo Dừa - huyền thoại và sự thật- Kỳ 2: Nặn ra Đạo Dừa
Kỳ 2: Nặn ra Đạo Dừa
Copy từ http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=702&p=&id=537799 ,đăng ngày 05/05/15, mục Phóng sự điều tra.(Gồm 5 kỳ)
Theo đệ tử tiết lộ, trong thời gian học đạo ở An Sơn tự,”sư phụ” Hai Nam bị quỷ vương ép buộc dùng “bom nguyên tử” tiêu diệt thế giới, nếu không tuân theo sẽ bị đưa xuống địa ngục tra khảo, hành hình.
Cận kề cái chết không toàn thây nhưng cậu nguyện hy sinh để... cứu loài người. Sau khi dùng chiêu “cứu chúng sanh bằng cách lẩn tránh”, hạ sơn xong, cậu Hai “nặn” ra Đạo Dừa.
Thêu dệt huyền bí
Tình hình Thất Sơn lúc này phức tạp, Pháp tập trung khủng bố nhằm tiến sâu vào làm chủ địa phận được xem là vùng đất tự do bấy lâu nay nên Hai Nam trở về sống với vợ con, cất một cái am cách nhà vài trăm mét và thường xuyên đến tịnh tọa. Ngày 3-9-1945, cậu Hai khăn gói lên núi Tượng lần hai.
Một số người cho rằng do xã hội biến động khi Nhật đảo chính Pháp, trong khi gia đình cậu Hai vốn thân Pháp, bản thân cũng từng du học bên ấy nên có lẽ sợ quân Nhật hãm hại mà buộc lòng cậu phải lên đó lánh nạn, mặt khác cũng tiện cho việc chuẩn bị hành trang để khuếch trương thanh thế.
Nương tựa An Sơn tự được ba năm, cậu Hai được tín đồ ca ngợi tu theo kiểu “Hạnh Đầu Đà” (ăn ngọ, ngủ ngồi, đi chân đất...) và đã khám phá hết dãy Thất Sơn, đồng thời “khải ngộ được nhiều điều bí ẩn”, sư phụ của họ còn dám đương đầu với quỷ dữ để cứu nhân loại.
Minh chứng là trong thời gian ở Thất Sơn, cậu Hai bị quỷ vương (satan) thử thách bằng 100 ngày không cho ăn uống và buộc chạy khắp nơi nhưng chẳng khuất phục được. Tức giận, quỷ vương bắt cậu Hai quỳ gối trên gạch từ sáng tới trưa.
Trong lúc chờ hành hình, cậu Hai vẫn dõng dạc trả lời: “Ta thà hy sinh để cứu loài người”. Cũng theo lời của các đệ tử, trước khi hạ sơn, trong lúc “sư phụ” đang tịnh thì Hòa thượng Thích Hồng Tôi đến, khen rằng “tấm gương khổ hạnh ấy đã đủ giác ngộ chúng sanh” và tặng cho chiếc bình bát. Từ đó, đi đâu cậu Hai cũng mang theo, cho là báu vật quý giá của đời tu sĩ.
Cầu Ba Lai, nơi ông Đạo Dừa gây chú ý với người đi đường
Đạo Dừa xuất hiện
Có lẽ không chịu nổi cảnh thiếu thốn nên năm 1948, tu sĩ Hai Nam về lại quê nhà. Lúc này, giặc khủng bố khắp vùng Nam bộ. Tại Bến Tre, tên Léon Leroy (gã Tây lai có cha làm lính lê dương, còn mẹ là người Việt) đang cùng đội quân ác ôn nổi tiếng “UMDC” (người dân gọi nôm na là uống - máu - dân - chúng) tàn sát dân lành.
Riêng tại nơi chôn nhau cắt rốn của Hai Nam (Phước Thạnh), Leroy và đồng bọn đã bức tử tập thể 124 người, thiêu rụi hơn 1.500 căn nhà.
Từng huênh hoang là dám đương đầu với quỷ vương ở Thất Sơn để cứu chúng sanh, nhưng khi tận mắt chứng kiến cảnh dân lành bị hãm hại, Hai Nam lại lặng lẽ kết bè ẩn dật dưới sông Cửu Long, đoạn thuộc Định Tường (Tiền Giang) suốt ba năm liền.
Biện minh cho sự bạc nhược ấy, “tu sĩ” Hai Nam cao giọng rằng: “Làm như vậy để tuân theo đúng luật âm dương huyền bí, đồng thời bổ túc cho thời gian hành đạo ở Thất Sơn”.
Năm 1951, Nguyễn Thành Nam chính thức lập ra Đạo Dừa, lấy pháp danh là Thích Hòa Bình, lập ngôi chùa nhỏ trên đất gia tộc ở Tân Thạnh, lấy tên là Nam Quốc Phật.
Có người nói là Đạo Vừa (tức vừa phải, trung dung) nhưng do phát âm của người Nam bộ, chữ “V” đọc thành “D”. Người khác lại bảo nguồn gốc Đạo Dừa là do “giáo chủ” làm đài bát quái (nơi Hai Nam ngồi cầu nguyện) trên ngọn dừa; thức ăn chủ yếu là dừa và luộc, rửa các loại củ, quả cũng bằng nước dừa.
Nghi thức cầu nguyện của Đạo Dừa
Còn theo nghiên cứu của một số học giả thì lúc bấy giờ ở miền Tây Nam bộ nổi lên phong trào của các “nhà tiên tri”, tự xem mình hiểu biết hơn người, sống ẩn dật sau đó lập ra giáo phái rồi dùng địa danh hay đặc sản của quê hương để đặt tên.
Đạo Dừa của tu sĩ Nguyễn Thành Nam cũng xuất phát từ ý tưởng đó, do ở Bến Tre có đặc sản là trái dừa. Nhận định này xem ra có cơ sở hơn, vì về sau cậu Hai đổi tông sang uống sữa nên nhiều người còn gọi là... Đạo Sữa!
Thực ra Đạo Dừa của Hai Nam không được chính quyền thời nào thừa nhận do chẳng có đức tin cụ thể, cũng không có kinh luật, giáo luật, giáo phẩm..., mà tạm bợ vào các tôn giáo khác.
Một đoạn kinh cầu nguyện trích từ quyển Nam Quốc Phật do chính tu sĩ Nguyễn Thành Nam soạn ra đã minh chứng cho điều này: “Cầu xin Ngọc hoàng thượng đế, Phật Di Đà, Di Lặc, Vương Phật, Bổn sư Thích ca mâu ni Phật, Phật Địa tạng, Đức mẹ Maria, Phật bà Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật bà Nam Hải, Lão Bà, Lão Tử, Khổng Tử, Quan Thánh Đế Quân chứng minh, Amen...”.
Mặt khác, không giống những người đứng đầu tôn giáo khác, “giáo chủ” Đạo Dừa không hề thuyết pháp, giảng đạo cho tín đồ của mình vì không có hệ thống giáo lý riêng.
Nhưng ngụy biện cho sự kém cỏi về trình độ, kiến thức và năng lực của mình, Hai Nam lại cho rằng biện pháp giảng đạo của ông là “cầu nguyện vô vi”, nghĩa là giảng bằng sự yên lặng, tịnh khẩu chứ không dùng lời...
Tóm lại, người tu theo Đạo Dừa ngoài việc ăn chay (không nhất thiết phải dùng món duy nhất là dừa), tín đồ phải cầu nguyện mỗi ngày bốn lần, mỗi lần một tiếng và thực hiện ngoài trời.
Lần thứ nhất bắt đầu từ 5 giờ sáng với nghi thức: ngồi xếp bằng, đầu ngón tay cái đặt vào đốt thứ hai của ngón giữa, lòng bàn tay để ngửa đặt lên hai đầu gối. Riêng “sư phụ” Nam vẫn tịnh khẩu, khi tiếp khách thì có đệ tử truyền đạt thay hoặc lấy giấy bút viết ra.
Do Đạo Dừa thiếu tính hiện thực nên lúc đầu tín đồ hầu hết chỉ là thân nhân của Hai Nam như Diệu Ứng (cháu gọi ông bằng cậu ruột), Đạo Mỹ (em rể), Đạo Nhàn (em ruột) cùng những người thân cận là Đạo Hiếu, Đạo Việt... (theo cách xưng hô tự đặt ra thì người gia nhập đạo được ghép thêm từ “Diệu” trước tên của mình đối với nữ, còn “Đạo” dành cho nam).
Để thu hút, lôi kéo những người nhẹ dạ, Hai Nam sai đệ tử lan truyền nhiều câu chuyện hoang đường nhằm quảng bá cho bản thân. Nào cậu Hai là kiếp luân hồi của vua Minh Mạng, được người cõi trên phái xuống trần để giảng đạo, chỉ ăn rau quả và uống nước dừa, suốt đời cầu nguyện hòa bình cho nhân loại. Vì vậy, mồ hôi của cậu tiết ra trị được bá bệnh...
Ngoài ra, tu sĩ này còn kích thích tính hiếu kỳ của dân chúng bằng cách làm đài bát quái với mảnh gỗ ghép tám góc, cao 24 mét, bằng cây dừa để đêm xuống trèo lên ngồi cầu nguyện. Ban ngày, “giáo chủ” Nam bắt đệ tử chống bè đến neo dưới chân cầu Ba Lai để “cầu nguyện cho hòa bình” nhằm gây sự chú ý.
Trong bối cảnh Mỹ và chế độ bù nhìn Ngô Đình Diệm dùng luật 10/59 lê máy chém gieo rắc thảm họa khắp làng mạc, thôn xóm thì hình ảnh ngày ngày nguyện cầu cho quốc thái dân an của ông Đạo Dừa dần dà chiếm được cảm tình của một bộ phận người dân, từ đó đệ tử đến phục vụ ngày một đông, có lúc lên đến 3.000 người.
Nhưng tu tập không phải là mục đích chính của Nguyễn Thành Nam, mà đối tượng chỉ lợi dụng sự sùng bái của những người cả tin để hậu thuẫn, làm công cụ cho hoạt động chính trị. Với tham vọng trở thành tổng thống, cậu Hai nghĩ ra đủ chiêu trò để tạo dư luận nhằm tìm cách tiếp cận phủ đầu rồng.
Vào tù vì tiết lộ thiên cơ
Năm 1959, tức 14 năm sau ngày xuất gia, hễ đêm đến Hai Nam lại lên ngồi trên Bát quái đài vẻ như không màng đến thế cuộc, mỗi khi có ai hỏi tới vận nước chỉ lắc đầu hoặc bút đàm “chuyện đời tới đâu thời tới, không quan tâm”.
Bất ngờ chưa đầy 2 tháng sau, trong một đêm tham thiền, không biết chiêm nghiệm được điều gì mà các đệ tử thấy “sư phụ” vội vã leo xuống rồi đốt đèn cầy viết một bức thư đặt tên là “sớ thiên định”, xin yết kiến tổng thống Ngô Đình Diệm để tiết lộ thiên cơ.
Trong đó, Hai Nam khuyên tổng thống sớm gặp đại diện chính quyền cách mạng để bàn cách thống nhất đất nước, kiến tạo hòa bình. Bức tâm thư này còn đề cập đến lời tiên tri của Hai Nam rằng, nếu tổng thống không nghe lời thì sau năm 1960 hồn Diệm sẽ lìa khỏi xác.
Các Đạo, Diệu bị bắt sau khi dâng “tờ sớ thiên định” cho Ngô tổng thống
Người thọ lãnh sứ mạng mang “sớ thiên định” trao cho tổng thống Diệm là bà Diệu Ứng, cùng đi còn có Đạo Nhàn, Đạo Mỹ, Đạo Tấn. Tại phòng khách, một nhân viên phủ tổng thống ân cần ra nhận thư nhưng khi tất cả vừa bước ra khỏi phòng đã có xe cảnh sát chờ sẵn “hốt” hết về đồn, biệt giam 5 tuần lễ qua nhiều trại.
Cho đến ngày 28 Tết Kỷ Hợi 1959, Nha giám đốc Cảnh sát Đô thành mới làm giấy thả bà Diệu Ứng và ba ông Đạo.
Cùng ngày, Ty cảnh sát Kiến Hòa được lệnh qua chùa Nam Quốc Phật bắt Hai Nam áp giải lên Sài Gòn để ở tù thế cho em và cháu. Trong lúc bị giam giữ lấy khẩu cung, vị tu sĩ này chỉ bút đàm: “Bần đạo là người tu hành, không màng đến việc nước, nhưng vì biết được thiên cơ dân tộc, không thể khoanh tay ngồi ngó nên có đôi lời gởi lên tổng thống coi có giải pháp nào cứu vãn tình thế...”.
Lấy xong lời khai, Hai Nam được đưa đến Nhà thương Chợ Quán. Hai hôm sau nơi này kết luận tu sĩ bị “điên”, rồi đem nhốt chung với các tội nhân tâm thần khác.
Một hôm được gọi lên phòng y vụ, bất ngờ Hai Nam khai khẩu rằng: “Trên 14 năm tham thiền, nay bần đạo đã thấy và biết những bí mật sắp xảy ra, gieo tang thương cho dân tộc. Vì lẽ ấy muốn tỏ việc này cho người cầm lái con thuyền quốc gia định liệu, chớ bần đạo vẫn sáng suốt, không bệnh hoạn chi cả”. Hơn tuần sau, Hai Nam được thả tự do sau khi “tiết lộ thiên cơ”.
(Còn tiếp)
Theo Báo Công An TP HCM

Đạo Dừa - huyền thoại và sự thật - Kỳ 1

Đạo Dừa - huyền thoại và sự thật
Kỳ 1: Hành trình tầm sư học đạo của cậu ấm nức tiếng ăn chơi
Copy từ http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=702&p=&id=537764,đăng ngày 05/05/15, mục Phóng sự điều tra.(Gồm 5 kỳ)
Bị cha mẹ la mắng vì ham mê cờ bạc, Nguyễn Thành Nam buông lời thề “chừng nào Chánh phủ Pháp cấm chơi tài xỉu con sẽ đi tu”. Song lúc đó trò đỏ đen chưa bị chế độ thực dân chế tài, nhưng không hiểu vì nguyên do gì Nam bỏ gia đình lên núi học đạo?
Sau khi hạ sơn, ông ta “nặn” ra đạo lạ lùng là Đạo Dừa và cho rằng tân tiến nhất so với các tôn giáo khác. Điều đáng nói, dù tự nhận mình là người tu hành nhưng Đạo Dừa luôn ôm mộng được nắm quyền lực tối thượng, cụ thể là làm tổng thống lúc ấy.
Để thực hiện ý đồ này, Nguyễn Thành Nam đã làm vô số chuyện giật gân khiến cánh ký giả Sài Gòn lúc bấy giờ cũng không khỏi thắc mắc, đặt câu hỏi: Đạo Dừa là ai? Thánh sống hay kẻ điên khùng?...
Trong thời gian du học tại Pháp, Nguyễn Thành Nam nổi tiếng ăn chơi xả láng ở kinh thành Paris hoa lệ. Sau tám năm bôn ba xứ người trở về, Nam mặc nhiên được thân nhân gọi là “Bác vật” Nam.
Ông “Bác vật” này chẳng đi làm cho ai mà ở nhà mở hãng xà bông, hoạt động được vài năm thì bị phá sản. Làm ăn thất bại ai cũng buồn rầu, trái lại ông Nam thường xuyên đến sòng bạc Đại Thế Giới để tiếp tục... đốt tiền của gia đình.
Từ danh gia thành "Bác vật"
Đạo Dừa hay Đạo Nam có họ tên đầy đủ là Nguyễn Thành Nam, sinh ngày 25 tháng Chạp năm Kỷ Dậu (1909) nhưng trong giấy khai sinh lại ghi ngày 22-4-1910 tại ấp Phước Thiện, tổng Hòa Quới, quận An Hóa, tỉnh Định Tường (nay là xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).
Ông ta là con trai trưởng trong gia đình giàu có gồm chín anh em. Thân sinh của Nam là ông Nguyễn Thành Thúc (Chánh cai tổng Hòa Quới giai đoạn 1840 - 1944), còn mẹ là bà Lê Thị Sen.
Người Nam bộ gọi con đầu là thứ hai. Vì gia đình khá giả, quyền thế trong xã hội lúc bấy giờ nên Nguyễn Thành Nam được gọi là “cậu Hai”. Được cha mẹ cưng chiều đến mức khi đi học gặp lúc trời mưa thì có người theo cõng nên từ nhỏ cậu Hai đã bộc lộ bản tính ham chơi, phóng túng, lúc chưa thành niên đã đàn đúm ăn nhậu, hút thuốc lá. Cậu Hai, người nhỏ con, đẹp trai, thông minh và nói chuyện có duyên.
Lúc nhỏ Hai Nam học ở trường làng, lên trung học được cha cho lên Sài Gòn vào trường Tabert. Trong sáu năm ăn học chốn thị thành, Hai Nam được song thân cho biết có ý định cho xuất ngoại sang Pháp du học. Lúc bấy giờ là năm 1928, Hai Nam tròn 18 tuổi.
Ngày lên đường, nào vali, rương, tráp được gia đình, bà con, bạn bè thuê hẳn một cỗ xe đưa lên tận Sài Gòn. Người tiễn đưa bùi ngùi vẫy tay lia lịa. Dưới tàu, Hai Nam cũng lau nước mắt lưu luyến.
Ngã rẽ cuộc đời
Do tàu ghé qua nhiều địa danh khác nhau nên mất một tháng trời mới đến Pháp. Khi đến Lyon, ông học tại Trường trung học Pensi Nat Des Lazanstes, sau đó chuyển sang Rouen học 3 năm ở Trường cao đẳng hóa học Institut Chimique De Rouen.
Trong những năm tháng du học tại đây, Hai Nam gần như không bỏ sót bất kỳ danh lam thắng cảnh nào trên đất Pháp, lại vướng vào mối tình đơn phương với tiểu thư Paulette de C., con gái của Công tước Henri de C. thuộc dòng dõi vua Luois thứ XVI. Thất tình đành mượn rượu tìm quên, bao nhiêu tiền gia đình chu cấp, chàng sinh viên đều nướng hết vào các hộp đêm, sòng bạc dẫn đến “cháy túi”.
Sau tám năm ở xứ người, năm 1935 Hai Nam hồi hương, với ngần ấy thời gian du học mặc nhiên được người thân truy tặng là “Bác vật” Nam, được rất nhiều tổ chức kinh tế trong nước đón nhận, song Hai Nam từ chối, ở nhà làm ăn riêng.
Với kiến thức hóa học tiếp thu được, Hai Nam thử thời vận bằng cách mở hãng sản xuất xà bông và thu mua dừa khô bên bờ sông Ba Lai trù phú. Thời điểm này, nước ta đã có hãng của ông Trương Văn Bền ở quận 5, sản xuất loại xà bông thơm lừng danh thương hiệu “Cô Ba”. Hãng của Hai Nam hoạt động được một thời gian thì đóng cửa, sau đó cậu Hai chuyển sang trông coi việc bán giấy cho nhà máy xay xát lúa gạo ở Gò Công.
Được ít lâu, vốn tính phóng túng, cậu Hai tiếp tục trở thành khách “Vip” của sòng bạc Đại Thế Giới ở Chợ Lớn. Có lần bị ông bà Cai tổng la rầy, Hai Nam đã thề rằng: “Chừng nào Chánh phủ cấm chơi tài xỉu con sẽ đi tu”.
Cũng trong thời gian này, Hai Nam cưới vợ. Người nâng khăn sửa túi cho ông là bà Lộ Thị Nga, con gái rượu của một nghiệp chủ có tiếng vùng đất Yên Luông, Gò Công (Tiền Giang). Về sau, vợ chồng Hai Nam có một người con gái tên là Nguyễn Thị Loan Anh (còn gọi là Khiêm), hiện đã ngoài 60 tuổi.
Cuộc sống gia đình đang đầm ấm thì đột nhiên Hai Nam đòi đi tu. Nếu xuất phát từ lời thề thì không hợp lý vì thời điểm đó chính quyền Pháp không cấm trò đỏ đen. Vậy thì việc xuất gia của cậu Hai có phải do căn số tu hành nhiều kiếp trước? Nhiều người cho rằng sau thời gian ăn chơi sa đọa, Hai Nam kịp nhận ra mình chỉ là kẻ thân bại danh liệt.
Tấm bằng kỹ sư mua được (sau này ông đã úp mở thừa nhận) không thể đáp ứng mưu cầu địa vị hằng mong ước, do đó Nguyễn Thành Nam đành chọn con đường tôn giáo để tiến thân. Điều này hoàn toàn có cơ sở, vì về sau cho rằng mình là người tu hành nhưng “tu sĩ” Nguyễn Thành Nam lại ôm mộng và muốn tham gia tranh cử tổng thống chế độ ngụy quyền Sài Gòn.
Như trong truyền thuyết
Khoảng tám năm sau ngày du học trở về, trong lần giận dỗi gia đình, Hai Nam bỏ ra tận Nha Trang nói là đi tìm minh sư để tu học, nhưng sau đó lại quay về. Ông Nguyễn Văn Kh., nhà ở xã Tân Thạnh, huyện Châu Thành, Bến Tre, trước năm 1975 từng là đệ tử của cậu Hai, kể về quyết tâm tầm sư học đạo của sư phụ nghe chẳng khác gì truyền thuyết.
Bỏ ngoài tai mọi lời can ngăn xuất gia, Hai Nam nói dối vợ con là qua Mỹ Tho để lên sài Gòn họp mặt bạn bè, nhưng thực chất là đi Châu Đốc (An Giang) vì nghe thiên hạ kháo nhau trên núi Tượng thuộc dãy Thất Sơn có một ngôi chùa rất linh ứng. Hai Nam cũng thừa biết có giáo chủ của một đạo giáo ở nước ta cũng từng đến đây lưu trú nhiều năm mới hạ sơn lập đạo nên càng thôi thúc cậu Hai quyết tâm thực hiện ý định.
Trở lại cuộc hành trình, khi đến nơi thì xe đã xuất bến (thời đó mỗi ngày chỉ có một chuyến xe đò chạy tuyến này và ngược lại), buồn tình cậu Hai thả bộ ra hướng sông Tiền suy ngẫm về đường tu thì bất chợt gặp một ông già đeo kính đen ngồi bên vệ đường, trước mặt trải tấm vải màu đỏ đề dòng chữ “Nơi đây xem chỉ tay, tướng số đại tài; biết những việc vị lai, quá khứ”. Lạ một điều là thầy vẫn bình chân như vại chẳng nói năng gì nên Hai Nam đành quay về.
Qua Tết Quý Mùi (1943), Hai Nam lại nói với gia đình đi Gò Công thăm gia đình vợ nhưng kỳ thực qua Mỹ Tho rồi xuống bến tàu tiếp tục đi Châu Đốc. Tranh thủ lúc tàu chưa xuất bến, Hai Nam đi dạo thì gặp lại thầy tướng số hôm nọ.
Bất chợt nhìn thấy cậu Hai, lần này ông thầy tướng chủ động đưa ra ba ngón tay rồi chỉ xuống đất, ngụ ý đã chờ ở đây ba ngày rồi và cất tiếng: “Đáng khen cho cậu cất công đi tìm núi non để tu tập và chắc chắn sẽ đắc đạo”.
Để chứng minh cho những lời tiên đoán không sai, thầy khẳng định trong vali của cậu Hai chỉ có xâu chuỗi hạt và bộ đồ tăng sĩ rồi bảo Hai Nam mở ra cho mọi người kiểm tra. Khách chứng kiến đều sửng sốt, tấm tắc khen ông thầy đoán chẳng khác nào quỷ cốc tiên sinh, còn Hai Nam thì đổ mồ hôi hột.
Dốc Cầu Quay, nơi “cậu Hai” gặp thầy tướng số
Tái ngộ "tiên tri"
Sáng sớm hôm sau tàu chạy tới bến Châu Đốc, Hai Nam xách vali lên bến xe vô Bảy Núi. Vừa đến bến, cậu Hai đã thấy ông thầy tướng ngồi sẵn trên chiếc xe tự lúc nào. Một điều lạ nữa là “bệnh” cũ của thầy tái phát vì chẳng màng tiếp chuyện Hai Nam.
Đường vô Thất Sơn không có bóng người lai vãng. Phải mất nhiều giờ xe mới chạy tới ngã ba dưới triền núi. Vừa tới đây, ông thầy tướng số bỗng dưng buột miệng “Đây là núi Tượng, trên có An Sơn Tự, cậu lên đó thì bảo xe dừng”. Khi Hai Nam bước xuống xe, thầy tướng số nói với theo “Chúc cậu đi đường bình an vô sự, nhưng tôi xin nói trước, kỳ này chỉ để dọ đường đi nước bước rồi về chứ chưa tu được đâu”.
Núi Tượng còn có tên là Liên Hoa Sơn, một trong bảy ngọn núi chính nằm trong dãy Thất Sơn, cao 145 mét, dài 600 mét, rộng 400 mét, thuộc thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn. Trụ trì An Sơn Tự lúc ấy là Hòa thượng Thích Hồng Tôi, sau khi tiếp đãi ân cần, biết Hai Nam chưa thông qua ý kiến gia đình, thầy bảo “chưa được, nợ duyên chưa mãn phần, về thu xếp xong rồi lên đây thầy mới dám nhận”.
Lúc xuống núi, bất giác cậu Hai nhớ tới ông thầy tướng số nói cách đây mấy hôm, nay sự thể linh ứng, âu cũng là lẽ trời...
(Còn tiếp)
Theo Báo Công An TP HCM.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Thơm thảo hương dừa

Thơm thảo hương dừa
Ghi lại từ https://www.youtube.com/watch?v=oYr0LxE9amU,video clip của THTPCT(Truyền hình Thành phố Cần Thơ) thời lượng 17'26'' ,đăng ngày 06-06-2014 , mục Tư Liệu.
Không biết từ thưở nào, cây dừa đã có phổ biến khắp vùng nhiệt đới châu Á, đặc biệt là các quốc gia ven biển. Sự khuyếch tán của cây dừa có lẻ cũng có sự trợ giúp của những người đi biển xưa kia trong nhiều trường hợp, hoặc do quả dừa nhẹ và nổi trên mặt nước nên đã theo biển đi khắp nơi nhờ những dòng hải lưu.
Tên gọi của dừa trong tiếng Phạn là Kalpa Vrisksha có thể dịch thành "cây đem lại mọi thứ cần thiết cho cuộc sống" , trong tiếng Mã Lai dừa được gọi là Pokok Serybu Guna tức là "cây có cả ngàn công dụng", tại Philippines dừa được gọi là Tree of life (Cây của sự sống) . Chính vì vậy mà ông Tám Thưởng (Đỗ Thành Thưởng) ở xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre - người được nhan dân trong vùng gọi là Vua Dừa - đã nhận được danh hiệu "Người trồng cây của cuộc sống" do Hiệp hội trồng dừa châu Á-Thái Bình Dương trao tặng.
Dừa Việt Nam có rất nhiều loại, nếu chia theo công dụng, có thể chia ra 3 nhóm chính: * Nhóm dừa để uống giải khát, gồm dừa xiêm xanh,xiêm lục, xiêm lửa, dừa ẻo nâu, ẻo xanh,dừa ba khoanh,... các giống này thường lùn, cho trái sớm , năng suất cao, nước ngọt có vị thanh , có loại chưa đầy 2 năm đã cho trái , mỗi cây có thể cho thu hoạch hơn 150 trái /nưm; *Nhóm dừa lấy dầu và làm đẻo gọt (?) gồm dừa ba xanh, ba dày, dừa dâu xanh, dừa đâu vàng, dừa lửa, dừa bung và nhiều giống mới khác. Dừa ở Bến Tre phổ biến thường có thân cao, trái to, cơm dày;* Nhóm dừa đặc sản có giá trị kinh tế cao như dừa dứa, sáp,sọc... Dừa dứa thuộc giống lùn, chủ yếu dùng để uống nước, vị ngọt thơm đặc trưng, từ nước đến cơm,vỏ,hoa,lá đều thơm mùi dứa .
Ngoài ra còn có dừa sáp (hoặc dừa kem, dừa đặc ruột) có giá trị kinh tế cao, cơm dày, nước sền sệt.
Cây dừa có rất nhiều công dụng với đời sống con người. Thân làm cầu, cột, ván, bàn ghế, giường, tủ, vật dụng bếp, đồ thủ công mỹ nghệ. Mụn cưa dừa dùng làm ván ép, trồng cây, lá dừa làm chổi, vách, mái, đồ thủ công và chất đốt. Gân lá làm que xiên thịt, giỏ đựng hoa trang trí và trái cây; Trái dừa non để uống nước, dừa già để lấy cơm làm nước cốt dừa, kẹo dừa, mứt dừa, ép dầu, làm mỹ phẩm; gáo dừa làm than hoạt tính, hàng thủ công mỹ nghệ.
Ở Bến Tre dường như mọi quan hệ trong cuộc sống đều liên quan đến dừa , nhiều người gọi Bến Tre là xứ mà ăn cũng dừa, uống cũng dừa, ngũ cũng dừa... Nói chung dừa hiện diện mọi lúc mọi nơi.
Với đặc thù như thế nên cây dừa được người dân Bến Tre sử dụng triệt để tất cả các thành phần của nó để tạo thành những sản phẩm có giá trị sử dụng. Trước tiên chúng tôi muốn tìm hiểu phần giá trị nhất của cây dừa đó là cái dừa, nguồn gốc tạo nên hương vị danh tiếng cho kẹo dừa vang xa trên thế giới. Nói đến kẹo dừa người Bến Tre ai cũng biết kẹo dừa có xuất xứ từ kẹo Mõ Cày, về sau nhiều người biết cách làm nên kẹo phổ biến dần và có tên là kẹo dừa vì kẹo được làm từ nước cốt dừa là chính.
Theo hướng dẫn của Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Bến Tre, chúng tôi về huyện Mõ Cày Nam để tìm thăm cơ sở sản xuất kẹo dừa Tuyết Phụng. Đây là xưởng chế biến của cơ sở xuất kẹo dừa Tuyết Phụng của chị Phạm Thị Tuyết Trang. Có thể thấy dựa trên phương pháp làm kẹo dừa dân gian mà chúng tôi đã có dịp xem người Bến Tre giới thiệu với khách du lịch cái nghề đậm nét dân gian của mình thì ở đây các tiêu chuẩn về vệ sinh, an toàn thực phẩm để sản xuất hàng loạt được chú trọng. Tất cả công nhân đều làm việc trong phòng cách ly và phải đeo khẩu trang, găng tay cẩn thận.
Để kẹo dừa Bến Tre sánh ngang với nhiều loại kẹo bánh trong nước và quốc tế nhiều cơ sở đã không ngần ngại đầu tư bạc tỷ để có những chiếc máy đóng gói tự động.
Muốn làm kẹo dừa ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to, chín đều. Để nẩy mầm, thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu thành mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề, điêu luyện. Mua dừa khô lựa trái rám vàng mới vừa hái xuống được người thợ lột vỏ ngay để nạo dừa. Chúng tôi thật sự ái ngại khi nhìn cảnh lột dừa bằng cách thủ công này - bên dưới tay họ là mũi giáo bén ngót nhưng lột dừa kiểu này lại là một nghề phổ biến ở Bến Tre, họ bảo là không có gì nguy hiểm. Dừa mới lột có hương vị đặc trưng, nước có độ ngọt thanh được đem nạo ra, cho vào cối vắt lấy nước cốt rồi phối trộn với mạch nha và đường cát trắng. Tiếp đó cho hỗn hợp vào chão nấu - dân gian gọi là sên kẹo - sau quá trình cô đặc là kỹ thuật viên phối trộn màu và mùi. Đa phần người tiêu dùng thích kẹo dừa đậu phọng và sầu riêng nên cơ sở Tuyết Phụng phải trữ sầu riêng trong hàng chục chiếc tủ trữ đông để có nguyên liệu khi trái mùa.
Chị Tuyết Trang còn giới thiệu với chúng tôi món kẹo mới rất được thị trường ưa chuộng hiện nay là kẹo chuối cuốn với bánh tráng Mỹ Lồng rồi cắt lát ra. Vậy là bánh tráng Mỹ Lồng - đặc sản Bến Tre - lại có cơ hội đồng hành cùng kẹo chuối và kẹo dừa Bến Tre chu du khắp nơi phục vụ người tiêu dùng.
Mỹ Lồng là tên địa danh có làng nghề bánh tráng nổi tiếng lâu đời ở Bến Tre. Bột gạo pha với nước cốt dừa ở làng quê Mỹ Lồng này mới thực sự bí quyết làm nên tên tuổi bánh tráng Mỹ Lồng Giồng Trôm. Gạo được chọn không hẳn là gạo dẻo, mịn, tròn mà là gạo cơm vừa nở nang không quá khô là được. Đường, muối,mè cũng được cân định lượng, nhưng với người làm bánh lâu năm chỉ cần đong bằng mắt, bằng tay là không sai tí nào. Nhưng bí quyết chính có lẻ nằm trong phần nước cốt dừa béo ngậy của quê hương Bến Tre. Hai món đặc sản này phối hợp có lẻ sẽ làm nên một thương hiệu mới cho bánh kẹo Bến Tre.
Nễu có dịp về thăm Bến Tre, trong chúng ta chắc chắn cũng muốn có vài bọc kẹo dừa về làm quà cho người thân, để biết được thế nào là hương vị kẹo dừa Bến Tre. Chính vì vậy mà thế giới đã công nhạn rằng vài quốc gia châu Á gần đây đã sản xuát kẹo dừa nhưng đó chỉ là hàng nhái vì kẹo dừa chính hiệu chỉ có ở Việt Nam. Điều này nhiều nước đã công nhận khi mà chủ một doanh nghiệp kẹo dừa - Bà Hai Tỏ - đã mang đơn kiện sang tận đảo Hải Nam- Trung Quốc để đòi lại thương hiệu kẹo dừa Bến Tre bị họ làm giả mạo, và bà đã thắng kiện. Thương hiệu kẹo dừa Bến Tre, Việt Nam đã được trả lại cho Việt Nam hơn 10 năm nay.
Cây dừa - như nhiều quốc gia đã gọi - là "cây của cuộc sống" bỡi sự cống hiến của nó cho cuộc sống con người thật toàn diện, không phần nào là không có ích cho con người, như vỏ trái dừa làm bình giữ ấm, thố đựng nước, thân dừa làm đồ gia dụng như muỗng, nĩa,đủa... hoặc nhàng lưu niệm. Gáo dừa làm bình hoa, tạo hình vài động vật như khỉ,rùa,chó ... Cọng lá dừa thì đan thành những chiếc giỏ, lẳng hoa ; và cả những ngôi làm toàn bằng vật liệu từ dừa: cột, cửa, vách,mái, bàn ghế trong nhà.
Theo Đài Truyền hình Thành phố Cần Thơ

Chuyện chưa kể về cây cà chua ghép

Chuyện chưa kể về cây cà chua ghép
Copy từ http://nongnghiep.vn/chuyen-chua-ke-ve-cay-ca-chua-ghep-post141710.html ,đăng ngày 01/05/15, mục Kỹ thuật nghề nông.
Chính nhờ sử dụng ống thun và hạt giống SX trong nước, giá thành cây cà chua ghép tại Việt Nam luôn rẻ nhất thế giới.
Chăm sóc cà chua sau ghép tại vườn ươm của Cty TNHH sản xuất thương mại Phong Thúy - thị trấn Liên Nghĩa, Lâm Đồng
Từng 2 lần đoạt giải hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc và giải Nhất hội thi Sáng tạo kỹ thuật TP.HCM các năm 2004, 2009, TS. Ngô Quang Vinh (nguyên Phó Viện trưởng phụ trách Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam) là một trong những chuyên gia có uy tín về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Ông còn được biết đến với tư cách là “người khai sinh” kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn tại Việt Nam. Kỹ thuật này được ứng dụng vào SX đại trà tại tỉnh Lâm Đồng - vùng cà chua lớn nhất cả nước, giải quyết dứt điểm vấn nạn cà chua chết do vi khuẩn gây hại.
Trong suốt 10 năm qua, trồng cà chua bằng cây ghép ngày càng khẳng định hiệu quả, được nông dân nhiều tỉnh trong cả nước ứng dụng với diện tích khoảng 8.000 - 9.000 ha/năm. Với diện tích này, Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới về trồng cà chua ghép, sau Trung Quốc (10.000 ha/năm).
Tại Lâm Đồng hiện có gần 7.000 ha cà chua ghép cho năng suất bình quân 60 - 80 tấn/ha, cao gấp đôi so với cà chua không ghép, trồng trong nhà kính đạt 100 - 120 tấn/ha, thậm chí lên tới 250 tấn/ha.
Từ lời thách đố của một lão nông.
Theo TS Ngô Quang Vinh, người nông dân luôn đặt niềm tin rất lớn vào nhà khoa học.
Ông không bao giờ quên lời thách đố của một lão nông ở huyện Củ Chi (TPHCM) về cách phòng chống bệnh chết rũ ở cây cà chua: “Chú nào giúp tôi chống được bệnh này tôi tặng nửa cây vàng (tương đương với giá một chiếc xe máy Babeta thời điểm đó) và mỗi vụ sau tôi chia một phần tư sản phẩm”.
Đó là thời gian đầu những năm 1990, nông nghiệp ngoại thành TP.HCM khá phát triển. Rau được coi là cây trồng đem lại thu nhập cao cho nông dân. Trong đó, cà chua được nông dân trồng nhiều, tập trung ở các huyện Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh.
Tuy nhiên, người trồng luôn phải đối mặt với nguy cơ thất thu vì cây cà chua bị bệnh héo rũ gây hại nghiêm trọng. Một số tỉnh tại miền Nam cũng có chung tình trạng này.
Diện tích cà chua thất thu của cả nước khi đó lên đến hàng ngàn héc ta mỗi năm. Bệnh dễ phát tán qua môi trường, lây lan rất nhanh, gây chết hàng loạt, có nhiều diện tích chết 100%, nhất là ở những ruộng thường trồng cà chua nhiều vụ liên tục.
Trên thế giới, héo rũ vi khuẩn (tên khoa học là Ralstonia solanacearum) cũng là vấn nạn ở nhiều nước trồng cà chua nhưng không có biện pháp phòng trừ hữu hiệu. Các nhà khoa học bấy giờ khuyến cáo dùng giống kháng bệnh hoặc luân canh.
Tuy nhiên, trên thực tế không có giống kháng và luân canh cũng không hạn chế được vì vi khuẩn này có thể tồn tại nhiều năm trong đất, khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng thường xâm nhập lên cây qua vết thương ở rễ.
Lúc này, TS Vinh là Trưởng Bộ môn nghiên cứu rau của Viện. Tắm nắng gội mưa trên đồng ruộng, đồng hành cùng nông dân, ông càng trăn trở tìm cách cứu cây cà chua.
Đến bước đột phá từ cái ống tí hon
TS Vinh kể: Tia hy vọng đầu tiên xuất hiện vào khoảng năm 1995, trong một dịp nói chuyện với TS Nguyễn Quốc Vọng, Việt kiều Úc, anh cho biết, ở Nhật dùng một giống cà kháng bệnh làm gốc để ghép.
Trên nguyên tắc, biện pháp này khả thi bởi lẽ khi cây cà chua được thay phần gốc bằng gốc của cây kháng bệnh thì vi khuẩn không xâm nhập gây hại được.
Hồi đó chưa có Internet, việc tìm kiếm thông tin vô cùng khó khăn. May thay, trong một dịp làm việc với Viện, Công ty Takii của Nhật cho xem một đoạn video nói về máy ghép cà chua của họ.
Cà chua gieo trong vỉ, đưa vào máy ghép, mỗi phút ghép được hàng trăm cây, sau đó các vỉ cây ghép được cho vào vào một “cái tủ”.
Nôm na như là cái tủ lạnh 200 lít, trong đó cài đặt chế độ nhiệt, ẩm, ánh sáng phù hợp để cây liền vết thương, sau khoảng 15 - 17 ngày thì đem trồng. Mỗi cái tủ này ươm được khoảng 600 cây.
Nhưng khi nghĩ đến chuyện áp dụng công nghệ này vào thực tế Việt Nam, mỗi héc ta cà chua cần 23.000 - 24.000 cây; chỉ riêng tiền mua tủ cũng đã quá lớn, không khả thi.
Nung nấu quyết tâm tìm giải pháp phù hợp, TS Vinh đã xác định từng bước tiếp cận, đầu tiên là tự mình ghép thử xem có thành công không. Cứ thử cắt những cây giống ra làm 2 phần, ghép lại xem có sống nổi không đã.
Đấy là vào năm 1997, trên những cây cà chua non, 25 - 30 ngày sau gieo, vẫn để trên luống, dùng dao lam cắt xéo thành 2 phần, dùng băng dính quấn lại, sau 1 tuần, rồi 2 tuần, 3 tuần được che nắng, tưới ẩm thường xuyên, cây liền vết thương và sống tốt.
Đến đây, thách thức chính chỉ còn là làm sao tìm được vật liệu thích hợp nối 2 phần ghép.
“Người khai sinh” kỹ thuật ghép cà chua Việt Nam và vườn cà chua ghép tại huyện Đức Trọng - Lâm Đồng.
Một dịp vô cùng may mắn là vào tháng 10/1998, ông được cử tham dự một lớp tập huấn tại Trung tâm Nghiên cứu, phát triển rau đậu châu Á. Trong nội dung tập huấn có phần ghép cà chua, có mô hình để học viên ghép thử, dụng cụ để ghép là kẹp nhựa chuyên dùng.
Kẹp có phần ôm cây vừa với đường kính và lực căng của lò xo đủ mạnh để vừa ôm chặt mà cũng đủ yếu để nhả bớt ra khi thân cây lớn lên. Mỗi thành viên sau đó được cấp cho mấy trăm cái kẹp như vậy và kèm theo một số hạt giống có thể làm gốc ghép.
Giải pháp dùng kẹp để ghép tuy thành công, cây sống tốt, nhưng lại phát sinh vấn đề khi SX cây giống bán cho dân, các vườn ươm phải gỡ, thu hồi kẹp để làm lứa sau. Nếu gỡ kẹp sớm, vết ghép rất dễ bung rời ra vì cây bị lay động trong quá trình xếp khay, vận chuyển và nhất là khi mới trồng cây dễ bị gió lay, lắc ngọn.
Nếu để liền thật chắc vết ghép thì thời gian ở vườn ươm quá lâu, khi đó cây cũng quá cao lớn, trồng dễ chết. Ngoài ra giá kẹp cũng khá cao, sẽ đội giá thành cây giống lên.
Khóa tập huấn còn giới thiệu mô hình nhà dưỡng cây sau ghép, có diện tích 8 m2, trong đó dùng đèn nê-on để tạo ánh sáng, dùng nước để làm mát và nâng cao độ ẩm.
Trên bước đường tìm tòi vật liệu nối 2 đoạn thân từ gốc ghép và ngọn ghép, khá nhiều vật liệu đã được đem thử nghiệm, thôi thì từ tăm tre, ghim sắt, băng dính, ống nhựa, ống thân cây thủy trúc, cọng rơm.
Cuối cùng thì các vật hình ống tỏ ra có triển vọng, trong đó ống ghép bằng cọng rơm tỏ ra khá phù hợp, vết ghép được giữ chắc, sau khi lành cây có thể tự “phá vòng ôm” để lớn được..
Vì vậy, ý tưởng về một loại ống mà thân cây ghép biết tự phá vòng ôm xuất hiện. Mặt khác làm thế nào để tạo môi trường mát và ẩm cho một nhà ghép diện tích lớn hàng trăm mét vuông là những câu hỏi thường trực trong đầu. Đến năm 2001 thì ông tìm ra lời giải.
Ông chân thành chia sẻ:
- Trong phương pháp tư duy tìm lời giải cho các vấn đề thực tế, tôi hay liên hệ để tìm trong cuộc sống. Lục tìm trong kỷ niệm thời thơ ấu, tôi nhớ những ngày trời nắng đổ lửa ở miền Bắc, bọn trẻ con chúng tôi thường vào hầm trú ẩn máy bay nằm. Hơi mát rượi từ nền đất tỏa ra, từ trên mái tỏa xuống. Thời đó mái hầm được đổ cát dày gần 1 m.
Giải pháp đây rồi. Cát quả là vật liệu phù hợp đang tìm kiếm, cát sạch và giữ ẩm tốt, dễ thực hiện được trên diện tích lớn, lại sẵn có ở mọi nơi. Chính từ phát hiện này, những nhà chăm sóc cây sau ghép tại Lâm Đồng đã dùng cát ẩm để làm tầng giữ ẩm và làm mát cây.
Khi thăm, các nhà khoa học quốc tế đã ngỡ ngàng và xác nhận “rất Việt Nam” nhưng vẫn rất tiên tiến và chưa từng gặp ở nơi nào khác.
Cũng trong dòng suy nghĩ miên man về hầm hào, chiến tranh, gian khổ, tôi gặp lại những vất vả khó khăn tuổi học trò. Khi đó chúng tôi thiếu thốn đến độ không có một cái xe đạp để đi. Rất ít trong số bạn bè có xe đạp.
Và thật bất ngờ, xe đạp Trung Quốc với cái van có chi tiết 1 cái ống cao su, giãn nở được khi bơm đã bất ngờ hiện rõ trong tôi. Tôi mừng rỡ khi nhận thấy cái ống cao su van xe đạp có độ giãn nở tốt, có khả năng phù hợp để làm ống nối vết ghép cây.
Năm 2002, TS Vinh khởi động đề tài nghiên cứu ghép cà chua. Cùng lúc giải quyết nhiều yếu tố kỹ thuật, việc dùng ống thun van xe đạp để ghép đã thành công. Ban đầu ống thun được gửi mua từ Trung Quốc, theo đường bưu điện vào TP.HCM.
Tuy nhiên dùng ống thun van xe đạp trở ngại là chất lượng không ổn định, do ống lâu lão hóa nên dễ làm cây bị thắt cổ chai tại gốc, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.
Kể từ năm 2004, kết quả nghiên cứu ghép và trồng cà chua ghép tại Lâm Đồng thành công, được ứng dụng vào SX trên diện rộng, việc mua ống thun từ Trung Quốc không đáp ứng được nên ông đã tìm đến các chuyên gia SX dụng cụ cao su màng mỏng nhằm tự SX lấy ống ghép có thời gian lão hóa, tự hủy theo nhu cầu.
Ống ghép và hạt giống cà chua làm gốc ghép do Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam tự SX đã chính thức cung cấp đủ cho hàng ngàn ha cà chua ghép mỗi năm. Chỉ riêng ống thun mỗi năm đã hàng tấn, đủ ghép 150 - 200 triệu cây cà chua. Chính nhờ sử dụng ống thun và hạt giống SX trong nước, giá thành cây cà chua ghép tại Việt Nam luôn rẻ nhất thế giới.
Văn Thưởng - Bạch Liễu