Hiển thị các bài đăng có nhãn nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2024

Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất bưởi đỏ Mê Linh

 

Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất bưởi đỏ Mê Linh

Thu Hằng • dvnien copy từ https://hanoimoi.vn/..., trang web này đăng ngày 13/01/2024 - 17:26

Ngày 13-1-24, tại xã Tráng Việt (huyện Mê Linh), Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội phối hợp với Công ty New AG Technologies Việt Nam tổ chức hội nghị tập huấn với chủ đề “Ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất bưởi đỏ đặc sản”.

5-1-.jpg
Phó Chủ tịch UBND xã Tráng Việt Đàm Văn Thìn phát biểu tại hội nghị.

Phó Chủ tịch UBND xã Tráng Việt Đàm Văn Thìn cho biết, giống bưởi đỏ Mê Linh phân bố chủ yếu tại xã Tráng Việt. Đây là giống cây trồng đặc sản, không chỉ có giá trị dinh dưỡng và hương vị đặc trưng mà còn mang ý nghĩa đem sự lại may mắn vào dịp Tết.

Trước năm 2015, giống bưởi đỏ Mê Linh có năng suất thấp, cây sinh trưởng kém, dễ bị sâu bệnh, kích thước quả nhỏ, vị chua gắt, khó tiêu thụ, người dân không muốn phát triển và hầu như không có diện tích trồng mới. Thời gian gần đây, với sự quan tâm của thành phố Hà Nội và sự đồng thuận của người dân, giống bưởi đỏ đã tăng diện tích trồng, sản phẩm được đánh giá sản phẩm OCOP 4 sao, được lựa chọn tham gia trưng bày tại các hội chợ xúc tiến thương mại.

6(1).jpg
Ông Lương Văn Phương, Giám đốc HTX sản xuất bưởi đỏ Đông Cao giới thiệu sản phẩm tại triển lãm Kết quả phát triển tài sản trí tuệ thành phố Hà Nội tháng 12-2023.

Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế như: Tại các vườn bưởi khác nhau có sự khác biệt đáng kể về năng suất; kích thước và màu sắc quả bưởi cũng không đồng đều giữa các vườn trồng, giữa các cây... Điều đó chứng tỏ việc chăm sóc không thống nhất theo quy trình chung.

Tại buổi tập huấn, TS Ngô Hồng Bình - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu rau quả và TS Nguyễn Hữu Hải - chuyên gia Trung tâm Tài nguyên thực vật đã giới thiệu cácbiện  pháp kỹ thuật chăm sóc bưởi đỏ sau thu hoạch; kỹ thuật trồng và chăm sóc bưởi theo hướng hữu cơ cũng như công tác bảo tồn, phát triển nguồn gen bưởi trên địa bàn huyện Mê Linh.

Cũng tại buổi tập huấn, ông Lương Văn Phương, Giám đốc HTX sản xuất bưởi đỏ Đông Cao bày tỏ hy vọng các biện pháp kỹ thuật sẽ được ứng dụng rộng rãi nhằm bảo tồn và phát triển giống bưởi quý.

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2019

Nông nghiệp chọn hướng đi khác biệt để phát triển

Nông nghiệp chọn hướng đi khác biệt để phát triển

dvnien copy từ "http://baoninhthuan.com.vn/news/104583p25c151/..."

(NTO) Năm 2018 đi qua, ngành Nông nghiệp gặp những khó khăn, thách thức bởi ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sâu sắc. Đầu năm hạn hán, cuối năm lũ lụt, thế nhưng tăng trưởng ngành Nông nghiệp vẫn đạt 6,6%, mức cao nhất kể từ năm 2010 đến nay. Và đáng nói hơn, chính trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt ấy, nông nghiệp đã chọn được hướng đi riêng, tạo sự khác biệt để phát triển.

Ninh Phước là vùng trọng điểm nông nghiệp của cả tỉnh với những cánh đồng lúa trải dài, thế nhưng sẽ chẳng có gì thay đổi nếu như huyện không tiên phong thực hiện những mô hình chuyển giao khoa học - công nghệ. Tôi là phóng viên theo dõi mảng nông nghiệp, dự nhiều cuộc họp triển khai kế hoạch nhân rộng các mô hình sản xuất mới do UBND tỉnh tổ chức, chứng kiến đợt nào lãnh đạo huyện Ninh Phước cũng xung phong làm trước, với quyết tâm cao. Thành công từ mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa, tạo niềm tin vững chắc để huyện đăng ký với tỉnh tiếp tục triển khai mô hình trồng măng tây xanh ứng dụng công nghệ cao quy mô 20 ha ở xã An Hải trong năm 2018. Ninh Phước thực sự đã tìm được hướng đi khác biệt làm thay đổi hình thức tổ chức sản xuất, chuyển từ canh tác nhỏ lẻ sang tập trung có sự liên kết với doanh nghiệp trong đầu tư chuyển giao kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Đồng chí Nguyễn Hữu Đức, Phó Chủ tịch UBND huyện, cho biết: Thực hiện Đề án Cơ cấu lại ngành Nông nghiệp, bên cạnh phát triển các loại cây trồng chủ lực như nho, táo, gần đây huyện tập trung chỉ đạo khai thác tiềm năng, lợi thế mở rộng diện tích măng tây xanh, tạo đột phá trong nâng cao giá trị đơn vị diện tích. Ngày xuân, về xã An Hải, nghe nông dân kể chuyện trồng măng tây xanh ứng dụng công nghệ cao cho thu nhập trên dưới 1 tỷ đồng/ha/năm mới biết ngành Nông nghiệp tỉnh ta nói chung, huyện Ninh Phước nói riêng đã bức phá vươn lên tầm cao mới.
Nông dân xã Phước Hậu (Ninh Phước) áp dụng biện pháp Endophyte Nano
canh tác cây táo đạt năng suất, chất lượng cao. Ảnh: S.N
Cũng đi tìm sự khác biệt trong sản xuất nông nghiệp, nhưng huyện Ninh Hải lại có cách làm riêng, đó là chú trọng đưa giống mới vào sản xuất để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Giống nho NH01-152 có ưu điểm vượt trội về năng suất, màu sắc thay đổi theo chu kỳ phát triển, được trồng nhiều ở xã Vĩnh Hy đã làm “đổi đời” không ít nông dân nơi vùng đất thiếu nước. Những chùm nho “ba màu” (theo cách gọi của khách du lịch) ngày thường có giá đã cao, đến Tết tăng lên gấp nhiều lần nhưng sản xuất vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu người tiêu dùng. Theo ghi nhận của chúng tôi, thành tích đáng kể trong sản xuất nông nghiệp năm 2018 của huyện là do sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo huyện Ninh Hải đối với vùng trồng nho tập trung ứng dụng công nghệ cao kết hợp du lịch tham quan vườn cây ăn trái, thu hút nhiều du khách, góp phần giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập cho nông dân. Trước đây sản xuất 1 ha nho, hộ trồng thu lời khoảng 200-300 triệu đồng/ha/năm, nhưng hiện nay tăng lên trên dưới 1 tỷ đồng. Cùng với cây nho, nghề trồng táo, tỏi cũng có sự thay đổi toàn diện trong ứng dụng giống mới, áp dụng quy trình VietGAP để tạo ra sản phẩm chất lượng cao.
Nông dân xã Nhị Hà (Thuận Nam) trồng thanh long ruột đỏ trên đất lúa kém hiệu quả cho thu nhập cao.
Năm 2018, đánh dấu mốc quan trọng của ngành Nông nghiệp là tỉnh đã lựa chọn 12 sản phẩm đặc thù công bố rộng rãi trên toàn quốc; trong đó, đáng kể là thương hiệu Tôm giống Ninh Thuận đã khẳng định được vị thế trên thị trường. Để tiếp tục giữ vững lợi thế cạnh tranh, nâng cao tầm thương hiệu và ngôi vị số 1 về tôm giống, tỉnh đã ban hành các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, mở rộng những trại sản xuất tôm giống sạch bệnh có sự liên doanh, liên kết với nước ngoài. Góp phần vào nâng tầm thương hiệu Tôm giống Ninh Thuận, Tập đoàn Việt Úc đã hoàn thành Trung tâm sản xuất tôm giống bố mẹ tại thôn Sơn Hải 2, xã Phước Dinh (Thuận Nam) với công suất 300.000 cặp/năm; Công ty TNHH Moana Ninh thuận cũng mở rộng khu sản xuất tôm sú bố mẹ, nâng sản lượng từ 18.000 cặp lên 30.000 cặp/năm.
Cán bộ kỹ thuật Công ty TNHH Giống thủy sản GROBEST, xã An Hải (Ninh Phước)
kiểm tra chất lượng tôm giống tại bể nuôi. Ảnh: H.P
Đồng chí Trần Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cho biết: Tỉnh ta là địa phương khô hạn nhất cả nước, chính trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt đã tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc thù, chất lượng cao. Khi diện tích đất canh tác không thể mở rộng, việc lựa chọn những loại cây trồng phù hợp với thổ nhưỡng ở từng khu vực, cũng như chú trọng tăng hàm lượng khoa học vào các sản phẩm là hướng đi tất yếu để gia tăng giá trị sản xuất và thu nhập cho nông dân. Qua thực tế chỉ đạo thực hiện Chương trình đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu của tỉnh, cho thấy có một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao không cần nhiều quỹ đất, nhưng doanh thu lớn. Những mô hình trồng hoa lan trong nhà kính, trồng nho, táo, măng tây xanh ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước triển khai gần đây đã biến nhiều vùng đất khô hạn trở thành những cánh đồng chuyên canh cây trồng đặc thù có giá trị kinh tế cao.
Thêm một mùa xuân trên những cánh đồng công nghệ cao, đem đến cho nông dân cuộc sống no đủ. Với khát vọng vươn lên, chủ động biến những khó khăn, thách thức thành lợi thế so sánh, kỳ vọng ngành Nông nghiệp sẽ tiếp tục làm hồi sinh thêm những vùng đất bạc màu bằng những cây trồng đặc thù của xứ sở “đầy nắng và gió”.

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2019

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: 'Nông dân chúng ta ngày càng sáng tạo'

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: 'Nông dân chúng ta ngày càng sáng tạo'

Copy từ "https://nongnghiep.vn/bo-truong-nguyen-xuan-cuong-nong-dan-chung-ta-ngay-cang-sang-tao-post235442.html" , tác giả: Kế Toại, đã đăng ngày 20/01/2019, 19:51.(GMT+7)
Ngày 20/1/19, Bộ trưởng NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường cùng đoàn công tác đã về thăm người dân vùng trồng, chế biến cà rốt các xã Đức Chính, Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
18-24-58_1
Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường thăm cánh đồng cà rốt xã Đức Chính
Tại đây, ông Hoàng Văn Chư, Chủ tịch UBND xã Đức Chính cho biết, tổng diện tích trồng cà rốt của địa phương đạt 360ha. Sản lượng cà rốt hằng năm ước đạt từ 15 – 20 nghìn tấn. Do thực hiện tốt việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào SX, năng suất cà rốt trung bình khoảng 40 – 45 tấn/ha. Thu nhập bình quân đầu người xã Đức Chính năm 2018 đạt 45 triệu/người/năm. Trong đó, giá trị từ cây cà rốt chiếm 30% tổng thu nhập của người dân. Cà rốt Đức Chính ngoài tiêu thụ nội địa còn xuất khẩu đi nhiều thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia và các nước Trung Đông.
Bí thư tỉnh ủy Hải Dương, ông Nguyễn Mạnh Hiển cho biết, cách đây 10 năm, địa phương đã có cơ chế hỗ trợ người dân làm thủy lợi, giao thông nội đồng để SX cà rốt. Từ năm 2003, người dân được hỗ trợ giống cà rốt Nhật Bản, năng suất, chất lượng cao để SX. Riêng huyện Cẩm Giàng có 750ha cà rốt. Về khâu chế biến, ông Hiển khẳng định, Hải Dương luôn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư chế biến. Hải Dương đang cố gắng hình thành nhiều nhà máy chế biến công suất cao, hiện đại, đưa mặt hàng cà rốt tới nhiều thị trường trên thế giới.
Tại xã Cẩm Văn, Bộ trưởng NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường thăm nhà máy chế biến cà rốt xuất khẩu Tân Hương. Chủ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Mệnh cho biết, đơn vị đã có truyền thống 30 năm thu mua cà rốt cho người dân trong vùng. Mỗi ngày, doanh nghiệp này thu mua hàng chục tấn cà rốt, sơ chế, đóng gói. Thị trường doanh nghiệp này nhắm tới là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc…
Đánh giá công tác SXNN tại Hải Dương, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, việc chuyển cả 1 vùng sang 1 đối tượng cây cà rốt thấy rằng, nông dân chúng ta ngày càng sáng tạo. Các doanh nghiệp, hợp tác xã nếu tổ chức thật tốt thì người dân sẽ tin tưởng. Mặc dù quy mô ruộng nhỏ, nhưng tổng hợp lại vẫn thành những ruộng lớn. Và khi liên kết lớn từ khâu sản xuất đến khâu chế biến đến thương mại, chắc chắn chúng ta thành công.
18-24-58_3
Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường tham quan nhà xưởng chế biến cà rốt tại xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng
Theo Bộ trưởng Cường, yếu tố đầu tiên của SX là phải liên kết rất chặt chẽ chứ không để rời rạc, ai muốn làm gì thì làm, dễ dẫn đến tình trạng được mùa mất giá. Khi rời rạc cái gì cũng có nhưng bán rất rẻ không ai mua, hiệu quả rất kém. Phải ứng dụng khoa học kỹ thuật thật tốt tất cả các khâu. Ngoài các doanh nghiệp vào cuộc, các cơ quan quản lý của nông nghiệp, các nhà khoa học phải hướng dẫn tất cả các khâu về giống, quy trình tổ chức các khâu đầu vào đầu ra phải áp dụng triệt để để làm sao năng suất cao nhất, tiết kiệm nhất đầu vào để giá thành hạ. Trên hết là tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng cao.
KẾ TOẠI

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

Giống dưa bở vàng thơm số 1, thành công ở nhiều địa phương

Giống dưa bở vàng thơm số 1, thành công ở nhiều địa phương
Copy từ http://nongnghiep.vn/giong-dua-bo-vang-thom-so-1-thanh-cong-o-nhieu-dia-phuong-post214364.html ;tác giả: Phương Nguyên ; đã đăng ngày 12/03/2018, 14:05.
Đây là giống dưa thuần được chọn tạo từ một mẫu giống dưa bở nhập nội (mã số MDL-212/17) do ThS. Đoàn Xuân Cảnh, KS. Ngô Thị Mai (Viện Cây lương thực và cây thực phẩm) là tác giả.
Nguồn gốc
Giống được công nhận là giống khu vực hóa theo quyết định của Cục Trồng trọt, Bộ NN-PTNT.
Giống dưa bở vàng thơm cho năng suất chất lượng cao
Đặc điểm chính
- Giống thích hợp trồng trong vụ xuân hè, vụ hè tại các tỉnh phía Bắc. Thời gian sinh trưởng trong khoảng 70 - 75 ngày.
- Dạng hình khỏe, thân, lá xanh đậm, khả năng phân nhánh trung bình. Quả có dạng tròn cao, khối lượng quả đạt 1,2 - 1,3kg, khi chín vỏ có màu vàng sẫm, cùi dày, màu trắng ngà.
- Giống dưa bở vàng thơm số 1 cho năng suất ổn, đạt 30 - 35 tấn/ha.
- Hàm lượng chất khô 5,35%, hàm lượng tinh bột 2,58%, độ Brix = 4,8%, rất thơm.
Kỹ thuật gieo/canh tác/sản xuất
Đây là loại dưa thơm, thích cho ăn tươi, chế biến nước giải khát tốt.
Thời vụ gieo trồng tốt nhất gieo hạt từ 20/3 - 5/5
Lượng hạt cần khoảng 0,4 - 0,5kg cho 1ha.
Gieo cây giống trong bầu, giá thể dùng để gieo hạt là: 40% đất phù sa + 45% (xơ dừa, trấu hun) + 15% (mùn mục) + (5 gram đạm + 15 gram supe lân)/100kg hỗn hợp (giá thể này đang được sử dụng để sản xuất cây giống dưa hấu, dưa lê).
Đất trồng: Tốt nhất nên chọn chân đất tơi xốp, dễ thoát nước, đất có độ pH 5,5 - 6,0. Lên luống 2,0 - 2,5m, trồng 1 hàng giữa, mật độ trồng: 1,6 - 2,0 vạn cây, khoảng cách cây x cây = 25cm.
Phân bón cho 1ha: 5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 260kg đạm urê + 240kg kali clorua + 500-600kg supe lân/1ha. Bón lót toàn bộ phân hữu cơ vi sinh + lân supe + 1/8 đạm + 1/8 kali. Bón vào hốc, rạch trồng, lấp đầy và san phẳng luống trước khi trồng. Bón thúc lần 1: Sau trồng 10 - 12 ngày, lần 2 sau trồng 18 - 20 ngày và lần 3 khi đậu quả rộ.
Phủ luống trồng bằng màng phủ nông nghiệp hoặc rơm/rạ sau bón thúc lần 1. Bấm ngọn thân chính khi cây có từ 4 - 5 lá, mỗi cây chỉ nên để 2 - 3 nhánh cấp 1.
Cần đảm bảo đủ ẩm cho cây sinh trưởng phát triển bình thường. Đặc biệt giai đoạn ra hoa, đậu quả và lớn của quả.
Phòng trừ sâu bệnh
Bệnh lở cổ rễ và bệnh héo rũ ở cây con: Dùng Viben C. 50 BTN nồng độ 0,2%, Ridomil 72WP nồng độ 0,15% hoặc Validacin, nồng độ 0,2%.
Bệnh sương mai (Pseudoperospora cubensis berk, and curt): Dùng các loại thuốc như: Ridomil MZ 72 WP nồng độ 0,2 - 0,25%, Zineb 80WP nồng độ 0,25 - 0,3%, Daconil 72WP...
Bệnh phấn trắng (Eryshiphe Cichoracearum D.C): Dùng Anvil 5SC, Bavistyl 50 FL, Bayferan nồng độ 0,1% phun vào buổi chiều mát, không mưa.
Thu hoạch
Sau khi quả đậu 25 - 30 ngày, vỏ quả màu vàng sẫm, cuống quả nhỏ. Tiến hành thu hoạch, thu quả vào buổi sáng hoặc chiều mát, cắt cuống, xếp quả nhẹ nhàng. Quả được bảo quản trong mát sau 1 - 2 ngày khi vỏ quả chuyển màu vàng sẫm, vỏ nứt nhẹ, mềm, mùi thơm đậm.
Đối tượng và phạm vi áp dụng:
Tổ chức và cá nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giống dưa bở vàng thơm số 1 tại các tỉnh phía Bắc và miền Trung.
Trên đất vàn cao, chế độ luân canh 2 lúa 1 màu hoặc chuyên màu. Đất thịt nhẹ, phù sa, tầng canh tác dày, dinh dưỡng tốt, chế độ tươi tiêu tốt.
Điển hình đã áp dụng thành công:
Hải Dương: Tứ Kỳ, Kim Thành, Chí Linh, Gia Lộc.
Ninh Bình: Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn.
Hà Nội: Thạch Thất, Sóc Sơn.
Phương Nguyên

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

Mô hình trồng chuối già Nam Mỹ xuất khẩu đầu tiên ở huyện Long Hồ

Mô hình trồng chuối già Nam Mỹ xuất khẩu đầu tiên ở huyện Long Hồ

Copy từ http://nongnghiep.vn/mo-hinh-trong-chuoi-gia-nam-my-xuat-khau-dau-tien-o-huyen-long-ho-post203452.html , tác giả: Thành Hiệp , đã đăng ngày 30/09/2017, 07:15.
Hiện nhiều bà con nông dân ở Vĩnh Long trồng giống chuối già Nam Mỹ để xuất khẩu, bước đầu mang lại hiệu quả phấn khởi.
Tuy nhiên cũng có một số nhà vườn chưa tìm được đầu ra, khiến sản phẩm bị ứ đọng, thậm chí phải nhờ “giải cứu”. Nguyên nhân chính là do trồng tự phát, không theo quy hoạch và không có hợp đồng bao tiêu sản phẩm.
Rút kinh nghiệm từ thực tế cay đắng đó, ông Đặng Văn Nho (Hai Tuấn) ở ấp Phước Trinh B, xã Long Phước, huyện Long Hồ đã xây dựng mô hình trồng chuối già xuất khẩu một cách bài bản và có hợp đồng bao tiêu sản phẩm.
10-30-30_1_ong_dng_vn_nho_hi_tun_gioi_thieu_buong_chuoi_gi_sp_su_bo_tri
Ông Đặng Văn Nho (Hai Tuấn) giới thiệu buồng chuối già sắp sửa bao trái
Hiện ông đang mở rộng diện tích được 3ha với khoảng 4.500 cây. Đất chia làm 8 lô, giữa mỗi lô đều có mương thoát nước. Sau hai năm chăm sóc, vườn chuối đã phát triển sum suê, hầu hết đều trỗ buồng, cho năng suất tốt.
Ông Nguyễn Văn Tánh, người phụ trách kỹ thuật cho biết, chuối già rất dễ trồng nhưng trồng để xuất khẩu đòi hỏi nhà vườn phải nắm vững các quy trình kỹ thuật từ lúc xuống giống cho đến lúc thu hoạch. Người trồng phải thường xuyên theo dõi, ghi chép kỹ lưỡng thời gian trổ buồng của từng cây để xử lý từng công đoạn như: Cắt bỏ lá vàng úa; soi nụ (bẻ nụ); tỉa trái (đối với nải nào quá sai hoặc không đạt chất lượng, bình quân mỗi nải chỉ giữ lại khoảng 25 trái); sau khi bẻ nụ phải che nải chuối bằng lá hoặc bằng giấy để giữ cho chuối không bị dính mũ); cắt bắp; bao nải; bao buồng… Mỗi công đoạn đều được chăm chút kỹ lưỡng nhằm bảo đảm cho trái chuối sau khi thu hoạch phải sạch, đẹp, bóng, không bị tì vết.
Muốn cho trái chuối đạt tiêu chuẩn, chất lượng bảo đảm trước khi đóng gói, người trồng còn phải thường xuyên cắt lá già, dùng cây chống hoặc buộc dây chằng cho cây không nghiêng ngả và các buồng chuối không bị va chạm.
10-30-30_2_ong_nguyen_vn_tnh_nguoi_phu_trch_ky_thut_dng_bo_chuoi
Ông Nguyễn Văn Tánh, người phụ trách kỹ thuật đang bao chuối
Ông Tánh cho biết công đoạn tỉa trái rất quan trọng, chính nhờ tỉa bỏ bớt những nải trái dầy, khít sẽ giúp cho những trái còn lại lớn đều, lớn nhanh và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Nếu tiếc chừa lại sẽ ảnh hưởng cả buồng chuối, công ty sẽ từ chối không nhận.
Ngoài ra, chuối xuất khẩu cũng hạn chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật, tuyệt đối không dùng chất kích thích, nhất là các loại hóa chất độc hại. Toàn bộ vườn chuối của ông Hai Tuấn đều sử dụng phân hữu cơ làm từ phân bò.
Trồng đã khó, thu hoạch lại càng vất vả hơn vì trước khi đóng thùng phải xả nải tại gốc, tiếp theo là xếp chuối vô sọt rồi vận chuyển, đưa vào bồn rửa cho thật sạch. Mỗi công đoạn đều được tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ để tránh trái bị trày trụa.
Ông Hai Tuấn chia sẻ, lúc đầu đối với ông cái gì cũng mới nên ông cử người đến Long An và Tiền Giang học hỏi cách trồng và các quy trình kỹ thuật, đặc biệt là cách bảo quản trước khi xuất sang Trung Quốc thông qua các công ty trung gian ở Long An và Tiền Giang.
Năm 2016 là năm đầu tiên, ông thu hoạch trên 70 tấn trái (bình quân mỗi buồng từ 20 - 22kg), tổng thu nhập trên 600 triệu đồng, nhưng do chi phí đầu tư ban đầu quá cao nên lợi nhuận chưa nhiều. Theo tính toán của ông, năm nay sản lượng sẽ đạt trên 90 tấn, giá bán từ 8.000 - 10.000 đồng/kg, chất lượng cao hơn nên lợi nhuận cũng sẽ tăng lên.
10-30-30_3_chm_soc_tung_gii_don_khi_chuoi_tro_buong
Chăm sóc từng giai đoạn khi chuối trỗ buồng
Đây là một mô hình trồng chuối xuất khẩu đầu tiên và cũng là mô hình mới nhất ở huyện Long Hồ góp phần chuyển đổi cây trồng kém hiệu quả sang cây có giá trị kinh tế cao. Bà Nguyễn Thị Loan, Phó trưởng ấp Phước Trinh B đánh giá, mô hình có nhiều triển vọng. Hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều người nhân rộng để phát triển kinh tế gia đình và góp phần xây dựng nông thôn mới.
THÀNH HIỆP

Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2017

“Lão nông” Chín Phấn

“Lão nông” Chín Phấn
Copy từ http://baobinhduong.vn/lao-nong-chin-phan-a162399.html , tác giả: Kiến Giang - Đình Hậu, đã đăng ngày 09-06-2017 | 10:10.
Đầu tháng 6, như mọi năm, đất miền Đông đã hứng những cơn mưa dầm, nhưng thay vào đó là cái nắng hanh hao vẫn đổ xuống hừng hực. Xế trưa, chúng tôi mới đến được trang trại của ông Lê Văn Phấn (Chín Phấn), xã Trừ Văn Thố, huyện Bàu Bàng. Thật ngạc nhiên, “lão nông” từ lâu có biệt danh “tỷ phú giữa đồng bưng” xuất hiện với phong thái hào sảng, không chỉ là nông dân miệt vườn mà còn phảng phất tố chất của một doanh nhân, thậm chí là một nhà khoa học làm nông nghiệp. Mới gặp gỡ ông Chín Phấn đã rất cuốn hút mọi người.
Lão nông Chín Phấn khẳng định: Muốn làm nông nghiệp hiệu quả thì phải học . Ảnh: Đình Hậu
Trong triết lý của người phương Đông có câu, “hạ trữ áo bông, đông trữ áo hè”. Mùa hạ sao phải mua áo ấm - nghe có vẻ vô lý nhưng ngẫm thật chí lý. Bởi thế, người giỏi kinh doanh bao giờ cũng đi trước, đón đầu, biết nắm bắt thời cơ nên thành công. Ông Chín Phấn quả là một con người như vậy.
Ông Phấn sinh ra và lớn lên ở Long An, vùng ven Đồng Tháp Mười trù phú nông sản. Ông kể rằng, lúc lớn lên ông đã say mê với nghề nông. Ban đầu là cuốc đất trồng lúa kiếm sống qua ngày. Quanh năm lam lũ nhưng đói nghèo vẫn bám riết. Thế rồi, trong một lần ông được nghe cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: Việt Nam phải sản xuất được mỗi năm một triệu tấn đường. Chính câu nói của cố Thủ tướng đã làm thay đổi cuộc đời ông Chín Phấn. “Được lời như cởi tấm lòng”, không một chút do dự, ông lập tức bỏ lúa chuyển qua trồng mía và trồng bạt ngàn. Thấy ông “làm liều” nhiều người tặc lưỡi, “cha này khùng”! Thế nhưng sự đầu tư đúng hướng bao giờ cũng mang lại hiệu quả. Từ cây mía phát triển tốt ở đất Long An, Chín Phấn đã nghĩ ngay đến việc chế biến đường và đã mang lại thành công ngoài mong đợi. Đầu thập niên 80, mỗi ngày ông Phấn đã sản xuất được 2 tấn đường. Từ đây, người ta không còn gọi ông là “khùng” nữa mà thay vào câu từ rất kiêu hãnh: “tỷ phú giữa đồng bưng”.
Ông Lê Văn Phấn (bìa trái): Có kiến thức, có kỹ thuật thì sẽ cho những mùa sai quả... Ảnh: Đình Hậu.
Luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi cách làm mới có lẽ là phẩm chất thường trực ở người nông dân. Trong căn nhà ông treo nhiều bằng khen nhưng nhiều hơn vẫn là sách vở. Chúng tôi thán phục ông, khi tuổi đã cao, sự nghiệp đã thành nhưng không lúc nào ông ngơi nghỉ tìm hiểu các kiến thức khoa học nông nghiệp. Ông nói: Muốn làm giàu bằng nghề nông thì phải học. Đó là chìa khóa đầu tiên trước khi đụng vào đất đai. Không học tập kiến thức, thấy ai trồng gì trồng theo để rồi cứ lẩn quẩn hết chặt rồi trồng, trồng rồi lại chặt. Cây điều, cây tiêu một thời đã diễn ra như vậy, gây bao khốn đốn cho nông dân.
Cuối thập niên 90, nhận thấy lĩnh vực mía đường không còn “hot” như trước đây, sau nhiều lần tìm hiểu, năm 1998 ông Phấn đã lên Bình Dương lập nghiệp, vẫn bằng nghề nông. Thời điểm đó, vùng đất Trừ Văn Thố còn vắng người, đất đai thì rộng. Nhiều người khi đến đây đã bỏ về, bởi hoang vu quá, cây cối rậm rạp, ở làm chi nơi đèo heo gió hú này. Nhưng Chín Phấn thì suy nghĩ hoàn toàn khác. Họ về còn ông thì dấn vô. Việc đầu tiên ông “tậu” ngay 4 ha đất và trồng đủ loại cây xoài, nhãn… Chúng tôi hỏi, người ta chê đất Trừ Văn Thố không ở, còn ông suy nghĩ khác vì lý do gì? Thật bất ngờ, ông Phấn đã phân tích cho chúng tôi những thông tin rất thuyết phục và đầy trí tuệ. Ông nói: “So với đồng bằng sông Cửu Long thì đất miền Đông không nhiều phù sa bằng. Nhưng đất miền Đông là đất phù sa cổ. Gần đồi núi thì có đất bazan pha sỏi, gần sông nhiều phù sa, nước lại ngọt, mạch nước ngầm rất tốt nên phù hợp trồng các cây đặc sản. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà các loại cây có múi ở Bình Dương ngon hơn vùng khác”. Vậy là ông này đã nghiên cứu rất kỹ rồi - chúng tôi nghĩ thầm! Vậy tại sao ban đầu ông lại trồng “tùm lum” loại cây, điều này không hợp lý lắm? Trồng như vậy để thử nghiệm - ông Phấn trả lời dứt khoát.
Sau những năm đầu say sưa với công cuộc mở đất ở vùng quê mới, ông Phấn đã đi đến kết luận: Chỉ có trồng cây có múi mới thắng được, đặc biệt là cây quýt đường. Vậy là, ông lập tức chặt bỏ tất cả các cây trồng thử nghiệm như xoài, nhãn, sầu riêng… để trồng bưởi và quýt. Một lần nữa người dân Trừ Văn Thố lại đồn thổi “cha miền Tây này lạ quá”. Rồi người ta lại ngạc nhiên hơn, không hiểu vì sao mà sinh viên nông nghiệp lại kéo về trang trại của ông để cùng trồng quýt. Thì ra, mọi người không thể biết sau khi đã chọn cây quýt đường, ông Phấn đã đến các trường đại học mời sinh viên về thực tập. Sinh viên nông lâm về tức là mang theo cả kiến thức về. Sự thành công của ông Chín Phấn sau này cũng xuất phát từ những suy nghĩ rất trí tuệ đó.
Hôm nay đến Bàu Bàng, nhắc tên Chín Phấn ai cũng trầm trồ thán phục. Từ 4 ha ban đầu, hiện nay, Chín Phấn là chủ của trang trại rộng hơn 70 ha trồng cây có múi, trong đó chủ yếu là cây quýt đường. Mỗi năm doanh thu lên đến 15 tỷ đồng. Ban đầu người ta gọi ông là “khùng”, “lạ quá” thì nay tên tuổi của ông đã nổi tiếng khắp nơi, với biệt danh “vua quýt Bình Dương”. Qua câu chuyện của ông Chín Phấn, chúng tôi lại nhớ đến một câu thơ: Con sông xưa vẫn bến cũ con đò/ mà cuộc đời đã bao lần thay đổi. Cuộc đời vốn công bằng nhưng cũng lắm thị phi, âu đó cũng là lẽ thường ở đời.
Đi giữa vườn quýt sum suê trĩu quả, chúng tôi từ ngạc nhiên đến thán phục lão nông Chín Phấn. Mùa quýt đang chín, thương lái từ Hà Nội đã vào tận nơi gom hết. Mùa thu hoạch trang trại rộn ràng tiếng cười vui của những công nhân lao động, chúng tôi cũng cảm thấy vui mừng khi được ông cho biết, trang trại đã tạo công ăn việc làm cho hơn trăm người với tổng chi phí tiền lương mỗi tháng lên đến 500 triệu đồng. Một câu chuyện vượt sức tưởng tượng ở vùng đất miền xa.
Tiễn chúng tôi ra về, ông Chín Phấn tâm sự rằng, kinh doanh là để tạo ra lợi nhuận và sản phẩm nhưng suy cho đến tận cùng, kinh doanh cũng là để tạo ra con người. Chúng tôi hiểu ông đang nói câu này ở phạm vi nghĩa rộng trong xã hội và cả của gia đình ông. Hôm nay thế hệ thứ hai, các con cháu trong gia đình của ông cũng đang kế thừa nghề nông nhưng họ không phải chỉ là những nông dân cần cù, hăng say lao động mà là những kỹ sư có bằng cấp, có kiến thức khoa học hẳn hoi. Chúng tôi biết rằng, ước vọng của gia đình ông Chín Phấn không chỉ là những vườn cây trái cung cấp cho thị trường trong nước mà còn ấp ủ những ước mơ hoài bão đưa hàng nông sản Việt Nam vượt đại dương ra thế giới.
Kinh doanh là để tạo ra con người. Trên đường về, chúng tôi cứ suy nghĩ mãi về câu nói đầy triết lý của ông Chín Phấn. Chúng tôi biết rằng, đây là câu nói được đúc kết trong tác phẩm truyền hình trứ danh mang tên “Thương gia” của điện ảnh Hàn Quốc. Quả thật, Chín Phấn không chỉ là một lão nông chất phác, một doanh nhân năng động mà còn là một con người rất thú vị, trí thức. Tạm biệt lão nông Chín Phấn, chúng tôi hẹn sẽ trở lại thăm trang trại ông khi những khát vọng, hoài bão mà ông đang ấp ủ sẽ thành hiện thực.
Kiến Giang - Đình Hậu

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Bí thư Thăng: “Đừng thành câu chuyện phân bổ trẻ em uống sữa!”

Bí thư Thăng: “Đừng thành câu chuyện phân bổ trẻ em uống sữa!”

(Copy từ http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/319573/bi-thu-thang-dung-thanh-cau-chuyen-phan-bo-tre-em-uong-sua.html ;  đăng ngày  05/08/16, mục Thời sự.)

- Liên quan đến vấn đề nóng nâng cấp đàn bò sữa và tìm đầu ra cho nông dân, Bí thư Thành uỷ Đinh La Thăng đã có những chỉ đạo quyết liệt, yêu cầu Sở NNPTNT đưa ra những biện pháp cụ thể hơn.
Tại buổi tiếp xúc cử tri huyện Củ Chi sáng 5/8/16, ông Trần Văn Hợp, ấp 1 xã Xuân Thới Thượng, kiến nghị, nên có chính sách hỗ trợ những hộ nhỏ lẻ nuôi quy mô nhỏ 3-4 con. “Chỉ cần ngưng mua sữa 2-3 tuần là công sức bà con coi như đem đổ bỏ hết”, cử tri Hợp cho biết.
Bí thư Thăng, cử tri, tiếp xúc, bò sữa, tỉnh lộ 15, sửa đường
Bí thư Thành ủy TPHCM tiếp xúc cử tri huyện Củ Chi, TPHCM
Cử tri Võ Thành Long, huyện Củ Chi kiến nghị, về vấn đề nuôi bò sữa năng suất cao. “Cái gì dân làm được thì tự làm, nhưng cái gì nhà nước giúp đỡ được, như con giống, thì nhà nước phải vào cuộc. Chứ dân cứ loay hoay chuyện trồng cây này chặt cây kia, không biết phải làm như thế nào”.
Trả lời cử tri, bà Đỗ Thị Thanh Tuyền, Phó Chủ tịch UBND Huyện Hóc Môn cho biết, về vấn đề thu mua sữa, huyện đã có văn bản kiến nghị Vinamilk. “Vinamilk đã có phúc đáp nhưng vẫn chưa thoả đáng. Sắp tới, huyện sẽ tổ chức đối thoại để bà con kiến nghị và công ty giải đáp”.
Ngay sau khi có ý kiến cử tri, Bí thư Thành uỷ Đinh La Thăng đã trao đổi với đại diện lãnh đạo Vinamilk. “Vinamilk cho biết bà con đã ký với HTX sữa nào đó, họ chỉ thu mua và không đầu tư, nên không ổn định. Còn tất cả những hợp đồng đã ký với Vinamilk thì đều được tiêu thụ 100%”, Bí thư Thăng thông báo với bà con.
Bà Huỳnh Thị Kim Cúc, Phó Giám đốc sở NNPTNT, trả lời đề nghị của cử tri, rằng giá sữa hiện đang xuống thấp, bà con nên loại thải những con có năng suất sữa dưới 12-15 ký. “Bà con phải quen với việc sản xuất theo hợp đồng, phải liên kết với nhau thành các tổ, hợp tác xã, tránh phát sinh thêm những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ”.
Bí thư Thăng cắt ngang câu trả lời của Sở NNPTNT, chất vấn “Chị trả lời bà con, khuyên bà con thì đúng. Nhưng làm cách nào để giúp bà con đổi được giống hiện nay? Tiền hỗ trợ chính sách chuyển đổi cho bà con như thế nào? Triển khai như thế nào? Nguồn giống ở đâu, Sở NNPTNT có cung cấp cho bà con? Chị phải có đề xuất cụ thể chứ. Chị trả lời như thế thì bà con biết trông ở đâu?
“Chị hướng dẫn bà con thanh lý toàn bộ giống hiện nay có được không? Giúp giống mới có được không? Giúp cho tiêu thụ sản phẩm có được không?”, Bí thư nhấn mạnh.
“Sắp tới Sở đang chuẩn bị trình UBND đề án chăn nuôi bò sữa, phối hợp với Sở GD-ĐT về chương trình sữa học đường, hy vọng đầu ra cho bà con sẽ có”, đại diện Sở trả lời.
“Tốt nhất là chị cứ giúp bà con sản xuất lớn, đầu vào đầu ra ổn định, và cứ ký trực tiếp với Vinamilk. Còn cái chương trình sữa học đường thì tốt thôi, nhưng cách triển khai thì phải phù hợp, đúng nguyện vọng của phụ huynh, đúng yêu cầu của các em học sinh, chứ không cẩn thận là sau này thành chuyện phân bổ bắt trẻ em ngày uống bao nhiêu sữa thì mệt lắm đấy”, Bí thư Thăng thẳng thắn.
Yêu cầu sửa ngay con đường "xấu nhất" Sài Gòn 
Cử tri Hồ Ngọc Hạnh, ấp 1 xã Tân Thạnh Tây, bức xúc: “Tôi đi hết 11 quận mà không thấy đoạn đường nào xấu như Tỉnh lộ 15. Bỏ tiền xây cầu dân không đi, xây chợ dân không họp, mà có những cái cần thiết sát đời sống dân lại không làm?”.
Đồng quan điểm, cử tri Đỗ Văn Cư, xã Tân Thạnh Đông kiến nghị: “Lúc nào thành phố để ý dùm. Tại hội trường này, Thủ tướng Phan Văn Khải đã tiếp xúc cử tri, xem xét để làm. Bí thư Lê Thanh Hải cũng hứa làm, đến nay cũng về hưu rồi. Yêu cầu TP mở rộng Tỉnh lộ 15”.
Đại diện Sở GT-VT TPHCM cho biết, trước đây đã có kế hoạch đầu tư nâng cấp Tỉnh lộ 15 bằng vốn ngân sách. Nhưng ngân sách thành phố không cân đối được vốn, nên kêu gọi chủ trương theo hình thức đầu tư công. Khắc phục tình trạng xuống cấp hiện nay, Sở đã giao Khu quản lý đường bộ 3 đảm bảo giao thông, phối hợp Trung tâm chống ngập để đề xuất phương án cải thiện.
Bí thư Đinh La Thăng yêu cầu: “Đã đưa kế hoạch nhiều năm mà chưa thực hiện. Nếu đã khẳng định là phải dung quỹ bảo trì sửa chữa thì bao giờ triển khai. Có thể làm được ngay, đảm bảo sự đi lại êm thấm của người dân, thì có gì to tát thế?”
Sau khi Bí thư Thành uỷ có ý kiến, đại diện Sở GT-VT hứa, sở sẽ yêu cầu Khu 3 đảm bảo giao thông toàn bộ tuyến đường ngay trong tháng 8 này.
Trong tiếng vỗ tay của bà con, bí thư Thăng chia sẻ: “Mong bà con hết sức chia sẻ, HĐND đang họp, các Giám đốc Sở đang trả lời chất vấn. Các Phó giám đốc Sở đi trả lời chất vấn phải giải quyết những kiến nghị không thuộc thẩm quyền mình phụ trách, cũng rất khó. Các Phó giám đốc sở cần về báo cáo Giám đốc để ra văn bản trả lời dân”.
Việt Đông (Ảnh: Quang Thắng)

    Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

    Cong tu tho

    Công tử thỏ
    Copy từ http://nongnghiep.vn/cong-tu-tho-post141714.html ,đăng ngày 29/04/15, mục Nông nghiệp Việt Nam > Khuyến nông.
    Từ chối công việc vào cơ quan nhà nước được "rải thảm đỏ", Hiếu tìm về quê người yêu, vùng cát trắng xã Bình Nam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam mở trang trại nuôi thỏ.
    Giám đốc, kiêm bác sĩ thu ý Vương Đình Hiếu.
    Vương Đình Hiếu (SN 1990 ở đường Trưng Nữ Vương, phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng) đang ngồi trên ghế giảng đường đại học đã được gia đình “rải thảm đỏ” đưa vào một cơ quan nhà nước làm việc sau khi tốt nghiệp. Thế nhưng, Hiếu từ bỏ tất cả, tìm về quê người yêu, vùng cát trắng xã Bình Nam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam mở trang trại nuôi thỏ.
    Tìm lối đi riêng
    Hẹn hò mãi, cuối cùng tôi được gặp Vương Đình Hiếu tại trang trại nuôi thỏ mới thành lập tại xã Điện Nam Trung (Điện Bàn, Quảng Nam). Đấy là trại thỏ thứ 3 vừa được hoàn thành, tổng tiền đầu tư hết 700 triệu đồng.
    Hiếu phân bua: “Anh thông cảm, đợt này em nhiều việc quá, nên không có thời gian rảnh. Sau chuyến đi Lào dài ngày tìm kiếm thị trường xuất khẩu, về lại Quảng Nam liền đi vào Quảng Ngãi xong thì ra Thừa Thiên - Huế… gặp bạn hàng và dạy bà con nông dân phát triển mô hình nuôi thỏ”.
    Dẫn tôi tham quan trại thỏ, Hiếu kể, anh xuất thân trong một gia đình 6 người con, trước Hiếu là 5 chị gái. Hiếu là con trai một nên được gia đình nuông chiều. Mẹ Hiếu làm chủ xưởng đồ thủ công mỹ nghệ, sau chuyển qua buôn bán. Cha làm cán bộ nhà nước, cuộc sống gia đình thuộc diện khá giả. 5 người chị gái, tốt nghiệp đại học đều làm kế toán ở các Cty, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước.
    Tuổi nhỏ, Hiếu không thiếu thốn một thứ gì, thích gì là được đáp ứng ngay. Cuộc sống chỉ biết ăn học, không đụng tay, đụng chân đến một công việc nào. Năm 2012, Hiếu tốt nghiệp ngành Quản trị Kinh doanh, ĐH Kiến trúc Đà Nẵng. Lúc này, cha mẹ và các chị đã nhắm xin việc vào một cơ quan nhà nước. Thế nhưng, Hiếu không chịu.
    Hiếu tìm về quê người yêu là Mai Thị Lê (SN 1990, ở thôn Đông Trác, xã Bình Nam, Thăng Bình, Quảng Nam). Lê học ngành Tài chính - Ngân hàng, cùng trường với Hiếu.
    Đôi bạn trẻ ngỏ lời với ông Mai Thanh Chiến, cha của Lê về ý định mở trang trại nuôi thỏ. Lời nói chưa dứt, Hiếu - Lê đã “ăn” ngay “một gáo nước lạnh”. Ông Mai khứơc từ lời đề nghị và bảo: “Ba đầu tư tiền của cho ăn học, mong con có việc làm ở thành phố, ai lại học xong trở về quê nuôi thỏ. Thôi xin hai đứa dừng ngay ý tưởng điên rồ này lại”. Cũng chẳng khác gì gia đình Lê, gia đình Hiếu kịch liệt phản đối. Còn đám bạn nghi ngờ Hiếu bị điên, bị khùng, cuộc sống “công tử” không chịu hưởng thụ, ai lại đi làm nông.
    Đôi bạn trẻ Vương Đình Hiếu - Mai Thị Lê
    Mặc kệ mọi người dèm pha, Hiếu - Lê vay mượn được 300 triệu đồng. Tất vả số tiền nay đầu tư vào trang trại, còn dư được 50 triệu đồng, hai người ra Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây (Viện Chăn nuôi, Bộ NN-PTNT) để mua 50 con thỏ giống New Zeland.
    Trên đường vận chuyển bằng xe khách, gần một nửa thỏ bị chết, số thỏ còn lại nuôi được chừng 15 ngày lại chết gần hết. Không nản chí, Hiếu ra Đà Nẵng vay nóng 30 triệu đồng, với lãi suất tới 20%/tháng. Lần này, Hiếu mua 50 con thỏ loại nhỏ hơn ban đầu. Hết tiền mua thức ăn, Hiếu tìm đến các đại lý ký cam kết mua chịu và thanh toán dần.
    Tưởng đã thuận đường, ai ngờ đợt nắng lịch sử năm 2013, chỉ trong một tuần đàn thỏ lăn đùng ra chết vì bệnh cầu trùng. Cha mẹ và 5 người chị của Hiếu vào thuyết phục: Nếu Hiếu bỏ nuôi thỏ về Đà Nẵng làm việc thì thích cái gì, các chị chiều cái đó. Xe máy đắt tiền, điện thoại xin, máy tính tốt… sẽ mua cho.
    Đặc biệt không những Hiếu có việc làm, mà Lê cũng vậy. Nhưng Hiếu lắc đầu, quyết tâm bám trụ vùng đất cát để nuôi thỏ. Hết đường vay mượn, hai người lên kế hoạch, Hiếu tiếp tục chăm sóc 15 con thỏ còn sống sót, còn Lê rời trại ra Đà Nẵng làm gia sư kiếm tiền. Số tiền của Lê làm ra thì tiếp tục đổ vào nuôi thỏ.
    Thu hơn 1 tỷ đồng / năm
    Gắn bó gần 3 năm với thỏ, Hiếu “công tử bột” ngày nào có làn da trắng như trứng gà bóc, ăn chơi cùng đám bạn nay đã lột xác hoàn toàn. Hiếu trở thành giám đốc, thầy dạy nuôi thỏ cho bà con nông dân, kiêm bác sĩ thú y với làn da đen sạm.
    Từ trang trại thỏ ban đầu tại xã Bình Nam nuôi 150 thỏ mẹ, nay Hiếu thêm 2 trại thỏ khác. Trong đó, trại thỏ tại huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi có tổng diện tích gần 4.000 m2, nuôi 500 con thỏ mẹ và trang tại ở xã Điện Nam Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam với diện tích 2.500 m2, nuôi 300 con thỏ mẹ.
    Mạnh dạn nuôi thỏ, mỗi năm Hiếu thu lợi nhuận hơn 1 tỷ đồng
    Cả 3 trang trại thu hút hơn 10 lao động, với mức thu nhập 3,5 - 4 triệu đ/tháng. Hiếu hạch toán một cách dễ hiểu: Một con thỏ mẹ đẻ 5 - 7 lứa/năm, mỗi lứa 4 - 9 con. Thỏ 3 tháng tuổi nặng khoảng 2,3 - 3 kg và có thể giết thịt. Thức ăn của thỏ đơn giản là rau, cỏ và bột.
    Với giá thỏ hiện nay là 80.000 - 140.000 đ/kg, mỗi năm, trừ chi phí một thỏ mẹ có thể mang về lợi nhuận cho người nuôi từ 1,1 - 1,5 triệu đồng. Tính ra, 950 con thỏ mẹ, đôi bạn trẻ Hiếu - Lê thu về hơn 1 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, với phương thức lấy ngắn, nuôi dài nên có được khoản thu nhập nào, Hiếu tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô nuôi thỏ.
    Đã làm chủ 3 trại thỏ, nhưng Hiếu vẫn chưa hài lòng, mới đây Hiếu đã thuê được 4 ha đất ở xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng mở trang trại nuôi thỏ kết hợp phát triển du lịch sinh thái. “Ở nước ngoài, mô hình này phát triển nhiều, bởi càng ngày, con người thích gần gũi với thiên nhiên”, Hiếu đánh giá.
    Theo tính toán của Hiếu, việc mở rộng nuôi thỏ chắc chắn sẽ phát triển. Tôi ngắt lời, nhưng đầu tư vào nông nghiệp, đầu ra rất khó khăn. Nghe tôi nói vậy, Hiếu khẳng định: “Em đã có định hướng thì mới dám làm, số thỏ em nuôi, chắc chắn sẽ có chỗ tiêu thụ. Trước đây, thỏ chủ yếu cung cấp cho siêu thị, nhưng nguồn này chẳng được bao nhiêu. Mới đây, em mở rộng thị trường cung cấp cho các khách sạn, resort.
    Đơn cử như một khách sạn 4 sao tại Đà Nẵng, mỗi ngày tiêu thụ khoảng 100 con thỏ, trong khi đó, TP này có đến hàng chục khách sạn. Ngoài ra, TP Hội An, Huế, Quảng Ngãi nhiều lắm.
    Mới đây em qua nước bạn Lào tìm kiếm thị trường và có nhiều nơi đặt hàng với số lượng lớn, sẽ có hàng ngàn con thỏ được xuất khẩu. Chưa kể đến việc đã không ít lần Cty Nippon Zoki Nhật Bản đặt vấn đề cung cấp thỏ để sản xuất thuốc với số lượng lớn, tuy nhiên số thỏ mấy trang trại của em còn ít nên từ chối”.
    Không chỉ làm giàu cho riêng mình, trong những năm qua, Hiếu liên kết với bà con phát triển chăn nuôi. Có thời điểm, Hiếu bắt tay với 100 hộ từ Quảng Ngãi ra đến Thừa Thiên- Huế. Người dân nuôi, Hiếu lo đầu ra cho bà con.
    Tuy nhiên, cách làm này cũng đã cho Hiếu nếm phải “trái đắng”. Có thời điểm, giá thỏ lên cao, trong khi ký hợp đồng với siêu thị vẫn giữ nguyên. Thấy vậy, bà con bán cho thương lái, khiến Hiếu không có thỏ cung cấp cho siêu thị, hợp đồng đổ vỡ.
    Đắc Thành

    Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

    Câu hỏi khó cho nông nghiệp

    Câu hỏi khó cho nông nghiệp
    Copy từ http://canhtranhquocgia.vn/Box-canh-tranh/Cau-hoi-kho-cho-nong-nghiep/226053.vgp ,đăng ngày 28/04/15, mục Trang chủ > Kinh tế.
    (Chinhphu.vn) - Qua 40 năm hòa bình thống nhất, nông nghiệp Việt Nam đã làm nên những kỳ tích khiến thế giới phải thán phục. Nhưng vẫn còn đó câu hỏi về tương lai lợi nhuận của nông dân nếu cứ tiếp tục cách làm cũ trong một thế giới hội nhập. Đó là nỗi trăn trở đau đáu của một người nặng lòng với nông nghiệp, nông dân- GS.TS Võ Tòng Xuân (Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ).
    Muốn nông nghiệp phát triển toàn diện, quan trọng nhất là cần chấm dứt cách làm manh mún, cục bộ, đơn ngành; phải có sự cộng tác và điều phối đa ngành. Ảnh minh họa
    Các số liệu thống kê cho thấy, sau 40 năm, sản lượng lúa miền Tây Nam Bộ tăng gấp 4,9 lần so với 1975, thủy sản tăng vượt bậc, lợi tức nông dân cũng tăng từ 5-7 lần. Thế nhưng, đại bộ phận những người làm ra hạt lúa và con cá vẫn không có tích lũy, đến khi thu hoạch là phải lo bán ngay nông sản để thanh toán nợ nần.
    Năm nào cũng thế, khi lúa đầy đồng thì giá lúa lại rớt thê thảm khiến Nhà nước phải hỗ trợ lãi suất để mua lúa "tạm trữ" cho nông dân đỡ khổ. Nhiều nông dân đã thoát nghèo, nhưng vẫn còn đứng trên bờ cận nghèo, cứ gặp sự cố nhỏ thì rớt xuống vùng nghèo trở lại.
    Nghị quyết số 26-NQ/TW (Khóa X) năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành cũng nhằm mục đích trả lời câu hỏi khó nói trên, nhưng việc thực hiện hoàn toàn không đơn giản.
    Sự nghèo nàn của nông dân, trong một quốc gia luôn tự hào đánh thắng mọi thứ giặc nhưng vẫn chưa thắng giặc nghèo, xuất phát từ tiềm thức và tư duy của mọi thành phần có liên quan, từ bản thân người nông dân, đến các doanh nghiệp và cả Nhà nước.
    Tư duy “lão nông tri điền” và hội chứng an ninh lương thực
    Đầu ra tiêu thụ sản phẩm của nông dân luôn bấp bênh vì cả Nhà nước và doanh nghiệp đều chưa bảo đảm tìm được hoặc mở được thị trường nông sản. Khi sản xuất, nông dân tự quyết định một cách phiêu lưu, không biết ai sẽ mua, mua bao nhiêu. Tuy đã có Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, nhưng chẳng mấy khi bên mua giữ đúng hợp đồng mà mạnh ai nấy bán, nấy mua.
    Không chỉ các công ty và doanh nghiệp tư nhân, mà ngay cả những công ty lớn của Nhà nước cũng mua nguyên liệu nông sản qua thương lái là chính, hiếm khi mua trực tiếp của nông dân. Nông dân được “hô hào” nên trồng lúa giống này, không được trồng giống kia... nhưng khi thu hoạch thì bán chẳng được, vì thế họ phải tự quyết định nuôi con gì, trồng cây gì, kỹ thuật nào để dễ bán, ít bị rủi ro nhất.
    Đội quân thương lái đến tận ruộng vườn, ao cá, vuông tôm mua hàng của nông dân để sơ chế rồi bán lại cho doanh nghiệp, thế nên chất lượng không đồng đều, nguồn gốc không bảo đảm. Nhất là mặt hàng lúa gạo, trên cùng một cánh đồng có nhiều giống lúa, thương lái mua về rồi trộn chung lại để sơ chế, sau đó bán cho doanh nghiệp. Vì vậy, đến nay Việt Nam vẫn chưa có gạo thương hiệu mạnh.
    Sự nghèo nàn của đa số nông dân ta không những vì Nhà nước và doanh nghiệp chưa làm tốt vai trò như đã nói trên đây, còn do chính bản thân người nông dân. Với kinh nghiệm “lão nông tri điền”, rất nhiều bà con nông dân không nghiêm túc tuân thủ qui trình GAP khi sản xuất. Thực tiễn cho thấy nông dân nào theo đúng qui trình GAP sản xuất lúa chỉ tốn 1.800-2.300 đồng/kg lúa trong khi nông dân làm theo kinh nghiệm của chính mình thì phải tốn ít nhất 3.500-3.800 đồng/kg lúa.
    Mặt khác, nông dân ta vì học thức kém nên hay bắt chước người khác mà không tính toán kỹ lưỡng, thấy ai trồng gì bán được giá thì hùa nhau trồng theo, không biết thị trường như thế nào. Đến khi cung vượt quá cầu thì rớt giá, bán không được, phải chịu lỗ, nên càng nghèo thêm.
    Một nguyên nhân quan trọng khác là tư duy về an ninh lương thực. Nhiều chuyên gia cho rằng chính sách an ninh lương thực đã đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn mới chấm dứt chiến tranh, cả nước thiếu thốn mọi thứ. Nhưng khi lương thực trở nên thặng dư và kỹ thuật sản xuất lương thực với khối lượng lớn trong thời gian ngắn đã trở thành một kỹ năng của mọi nông dân, việc duy trì chính sách an ninh lương thực một cách quá máy móc đã làm triệt tiêu những sáng kiến giúp nông dân có lợi tức cao, vì ai cũng nhận thức là trồng lương thực chỉ giúp "no cái bụng mà không làm nở túi tiền".
    Từ Quyết định của Thủ tướng, thử phác thảo một mô hình
    Giữa năm 2013, Thủ tướng ban hành Quyết định 899 phê duyệt Đề án tái cơ cấu nông nghiệp. Đây là một quyết định rất phù hợp trước tình hình như đã phân tích ở trên.
    Tuy nhiên, vấn đề khó khăn nhất trong chương trình tái cơ cấu nông nghiệp là thị trường đầu ra, sau đó là làm thế nào tổ chức sản xuất sản phẩm mà thị trường đang cần.
    Nguyên tắc chung của một chương trình tái cấu trúc là phải kiểm soát được lượng cung của mỗi mặt hàng nông sản, qui hoạch vùng sản xuất mỗi loại nông sản đã xác định thị trường, có dây chuyền công nghệ chế biến tăng giá trị của thành phẩm đầu ra. Mục tiêu sau cùng là làm tăng giá trị sản phẩm và tăng lợi tức của nông dân. Tuy nhiên, chúng ta thường nghe và thấy nông dân tự phát “trồng rồi chặt” từ năm này sang năm khác. Cách làm ăn riêng lẻ, tự phát dường như không mấy thay đổi.
    Nghị quyết 26 của Trung ương và Quyết định 899 của Thủ tướng tạo hành lang pháp lý để tổ chức sản xuất và chế biến sản phẩm có đầu ra ổn định. Nhưng ai là người đứng ra tổ chức? Vai trò đó phải là của các doanh nghiệp có tâm huyết và kỹ thuật chuyên môn kết hợp với chương trình công nghiệp hóa nông nghiệp của Bộ NN&PTNT và Bộ Công Thương.
    Xin phân tích một thí dụ điển hình áp dụng Quyết định 899 tái cấu trúc vùng lúa đồng bằng sông Hồng để làm giàu cho nông dân miền Bắc.
    Có thể phác họa như sau: Trong khi doanh nghiệp đi tìm thị trường, thì chúng ta rất mừng với tin Hoa Kỳ đã chấp nhận nhập vải thiều của Việt Nam. Những người có trách nhiệm phải làm gì?
    Tại Việt Nam, vải thiều chỉ trồng được ở miền Bắc, và cũng chỉ trên một số vùng đất thích hợp nhất, quả vải mới có hương vị thơm ngon và hạt nhỏ. Ta đều biết trồng lúa ở miền Bắc chỉ đủ ăn, không mong gì làm giàu được. Vì vậy, đây là một dịp may để tái cấu trúc nông nghiệp đồng bằng sông Hồng một cách vững chắc.
    Nhưng chúng ta không thể để cho mạnh ai nấy trồng vải thiều rồi thu hoạch ào ạt mấy ngày là xong như hiện nay. Bộ NN&PTNT cần qui hoạch lại các vùng đất ở miền Bắc thích hợp nhất với vải thiều, mạnh dạn chuyển trồng lúa sang trồng vải thiều trong những khu công nông nghiệp chế biến và bảo quản vải thiều.
    Đồng thời, Bộ NN&PTNT cần nghiên cứu toàn bộ qui trình trồng vải thiều, từ sản xuất cây giống, trồng, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu nước... đúng theo kỹ thuật nông nghiệp cao theo qui định của Bộ Nông nghiệp Mỹ để có được logo chứng nhận của cơ quan này.
    Chính quyền địa phương vùng có qui hoạch khu công- nông nghiệp vải thiều sẽ tổ chức cho nông dân xây dựng lại đồng ruộng lúa của mình trở thành vườn vải thiều, nhân cây giống và tài liệu hướng dẫn canh tác. Mỗi khu do một doanh nghiệp tư nhân quản lý điều hành với sự hỗ trợ của Bộ Công Thương, được xây dựng và trang bị đầy đủ thiết bị đạt tiêu chuẩn Hoa Kỳ từ nhà máy sơ chế, khử khuẩn bám trên vỏ từng trái vải, bộ phận phục hồi màu đỏ vỏ trái vải, đến phòng sấy lạnh sơ khởi và phòng bảo quản dài hạn. Trong khi đó, bộ phận ngoại thương của khu công nông nghiệp sang Mỹ, nắm bắt các chuỗi siêu thị Mỹ, chuỗi siêu thị của người Mỹ gốc Việt để chào hàng và ký hợp đồng xuất khẩu.
    Tương tự, chúng ta có thể đề cập đến những thí dụ khác về tái cấu trúc nông nghiệp tại các điều kiện sinh thái của từng vùng miền trong nước.
    Tại ĐBSCL, hướng chuyển đổi cơ cấu có thể nhằm vào các loại trái cây nhiệt đới vốn đã được nhiều quốc gia phương Tây ưa thích. Rất mong các tỉnh miền Tây sớm xây dựng một số khu công nông nghiệp chế biến xoài, vú sữa, bưởi, chôm chôm, mãng cầu xiêm... đạt tiêu chuẩn quốc tế.
    Tương lai nông nghiệp ĐBSCL
    ĐBSCL qua 40 năm phát triển trong hòa bình đã góp phần cung cấp đầy đủ nguồn lương thực và thực phẩm cho cả nước, đưa nước ta đứng vào hàng thứ 2 các nước xuất khẩu gạo trong thế giới. Tuy nhiên cả nước vẫn công nhận ĐBSCL cũng là vùng trũng của cả nước về giáo dục, cấu trúc hạ tầng nông thôn và nhiều phương diện khác.
    Trước thách thức của hội nhập, nhất là trong khu vực nông nghiệp, chúng ta có thể chọn những hướng đi tắt có thể nhanh hơn và vững chắc hơn. Chủ yếu là phát triển bền vững, theo khuynh hướng quốc tế tuyên bố trong Hội nghị toàn cầu về nông nghiệp bền vững tại Johannesburg năm 2002. Đó là khắc phục 3 thách thức lớn nhất đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam: Đổi mới giáo dục, thi hành chính sách vĩ mô và vi mô về pháp trị hữu hiệu, và đổi mới chính sách nông nghiệp.
    Nhà nước phải tính đến vấn đề trợ nông và phải khéo léo bảo vệ quyền lợi của nông dân và các doanh nghiệp Việt Nam trong các thương thuyết quốc tế (AEC, TPP...). Chúng ta nên nhìn kinh nghiệm của Hàn Quốc và Đài Loan (TQ) để thiết kế kế hoạch công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam.
    Quan trọng nhất, chúng ta cần chấm dứt cách làm manh mún, cục bộ, đơn ngành; cần phải có sự cộng tác và điều phối đa ngành mới có thể phát triển nông thôn toàn diện được, nếu không thì chúng ta sẽ trở lại đường cũ, mạnh ai nấy làm, không phối hợp được mà có nhiều khi còn triệt tiêu kết quả của nhau. Tới đây, việc qui hoạch hướng phát triển cần có những phối hợp giữa các ngành, lấy nông dân và doanh nghiệp có đầu ra ổn định làm trung tâm.
    Trong một đất nước mà đại bộ phận dân chúng phải bám lấy nông nghiệp để sống, ngày nào người nông dân còn nghèo thì lúc đó đất nước chưa phồn thịnh được.
    Chính phủ ta và các cơ quan tài trợ quốc tế đã và đang cố gắng thực hiện những chương trình xoá đói giảm nghèo, nhưng so tiêu chuẩn quốc tế, nông dân vẫn còn là tầng lớp có nhiều người nghèo nhất trong cả nước. Dĩ nhiên ai cũng muốn cho đất nước mau giàu - nhưng trình độ khác nhau đưa đến suy nghĩ và cách làm khác nhau.
    Có một điều chắc chắn là cách làm hiện tại của chúng ta vẫn còn phải chỉnh sửa một cách toàn diện hơn nữa mới có thể nhanh chóng thay đổi bộ mặt của nông thôn Việt Nam. Làm được như vậy, chúng ta hy vọng sẽ khắc phục hết những nguyên nhân đã khiến nông dân ĐBSCL bấy lâu nay tuy sản xuất nhiều nhưng vẫn chưa giàu.
    GS.TS. Võ Tòng Xuân
    Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ

    Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

    Ngô biến đổi gene: Lo thành nền nông nghiệp gia công

    Ngô biến đổi gene: Lo thành nền nông nghiệp gia công
    Copy từ http://www.tienphong.vn/xa-hoi/ngo-bien-doi-gene-lo-thanh-nen-nong-nghiep-gia-cong-791990.tpo, đăng lúc 06:41 ngày 04 tháng 12 năm 2014, mục Xã hội.
    TP - Một số chuyên gia di truyền nông nghiệp cho rằng, ngô biến đổi gene hiệu quả, an toàn, có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, chuyên gia giống cây trồng nhận định, ngô biến đổi gene không có các tính trạng Việt Nam đang cần như năng suất cao, chịu hạn tốt. Việc phụ thuộc nhập khẩu sẽ biến nước ta thành nền nông nghiệp gia công.
    Trồng khảo nghiệm ngô biến đổi gene tại Việt Nam.
    Hôm qua tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, báo Nông thôn Ngày nay tổ chức hội thảo “Nông dân trước cơ hội ứng dụng cây trồng biến đổi gene tại Việt Nam”. Nhiều vấn đề được dư luận quan tâm như cây biến đổi gene (BĐG) có an toàn, có hiệu quả hay không được một số chuyên gia giải đáp.
    Hội thảo được tổ chức sau khi Bộ NN&PTNT cấp phép năm giống ngô BĐG đủ điều kiện sử dụng làm thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam. Bộ TN&MT phê duyệt và cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học cho ba giống ngô BĐG, tạo cơ sở pháp lý cho việc thương mại hóa và sản xuất đại trà ngô BĐG ở nước ta từ năm 2015.
    Ủng hộ
    Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam cho hay, vấn đề an toàn và hiệu quả của trồng BĐG vẫn là vấn đề gây tranh cãi. Có một cuộc thảo luận xuyên thế kỷ giữa hai phe ủng hộ và phe chống. Phe ủng hộ nói cây BĐG làm tăng hiệu quả kinh tế, giảm chi phí, giảm ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng sức khỏe. Phe chống nói cây BĐG gây ung thư, cỏ, sâu bệnh kháng gene, lệ thuộc vào các công ty đa quốc gia. Theo ông Hàm, để biết có nên áp dụng một công nghệ hay không, cần trả lời các câu hỏi: Công nghệ có hiệu quả không? Có an toàn không? Tác dụng phụ là gì? Có kiểm soát được không?
    Ông Hàm lấy Philippines làm ví dụ. So với việc trồng ngô thường, ngô BĐG giúp tăng năng suất 34%, giảm sử dụng thuốc trừ sâu 60% và gia tăng thu nhập của nông dân 75%. Năm 2006 có khoảng 10 vạn nông dân Philippines trồng ngô BĐG, con số tăng lên 40 vạn năm 2013. Theo ông Hàm, đã có 500 nhóm nghiên cứu độc lập an toàn sinh học của cây trồng BĐG, 610 bài báo đã được công bố. Tuy nhiên, không có bằng chứng khoa học là cây trồng BĐG có rủi ro cao hơn đối với môi trường, đa dạng sinh học và sức khỏe con người, vật nuôi. Về việc một bài báo từng công bố một kết quả thí nghiệm cho thấy chuột ăn ngô BĐG bị u, bài báo này sau bị rút khỏi danh sách tạp chí, ông Hàm nói. Về tác dụng phụ và khả năng kiểm soát, cây trồng BĐG có thể phát tán gây ô nhiễm nguồn gene, siêu cỏ, sâu kháng gene có thể xuất hiện, tuy nhiên các nguy cơ này hiện có biện pháp ngăn ngừa, ông nói.
    Theo ông Hàm, báo cáo công bố năm 2008 của Viện Nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế (có trụ sở tại Washington) cho thấy không có bằng chứng nào khẳng định số ca nông dân Ấn Độ tự tử tăng có liên quan tới việc giống bông BĐG của Monsanto (hãng từng sản xuất chất độc da cam/dioxin) được phép đưa vào gieo trồng tại Ấn Độ năm 2002.
    Về việc có phụ thuộc nguồn giống vào doanh nghiệp nước ngoài hay không, ông Hàm nói hiện nay tất cả giống ngô lai chúng ta đều phải mua của các công ty, trừ một số giống thuần nông dân tự để giống. Bên cạnh đó, Viện Nghiên cứu ngô mới tạo ra được hơn 7,2% sản lượng giống ngô, còn lại đều phải phụ thuộc vào các doanh nghiệp, công ty nước ngoài. Tương tự, chúng ta cũng mới sản xuất được 2% sản lượng lúa lai, còn lại phụ thuộc vào nước ngoài. Đó là chưa kể các giống cây trồng khác như bắp cải, cà chua… hiện chúng ta mua 100% từ nước ngoài. “Vậy nếu dân mình không muốn dùng giống của Mosanto nữa thì có thể chuyển sang mua của hãng khác không? Hoàn toàn có thể”, ông Hàm nói.
    Theo GS Lê Đình Lương, Chủ tịch Hội Di truyền học Việt Nam, thông tin khiến nhiều người lo ngại nhất hiện nay là sinh vật BĐG có an toàn hay không? Châu Âu đã thử nghiệm cây trồng BĐG và đi đến tổng kết, sinh vật BĐG an toàn tương tự như những sinh vật được tạo ra bằng công nghệ truyền thống.
    Theo PGS.TS Phạm Văn Toản, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, trước nhu cầu sử dụng và khả năng sản xuất thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, Chính phủ và Bộ NN&PTNT đều quyết tâm đưa cây trồng BĐG vào ứng dụng thực tế. “Kết quả khảo nghiệm ở Việt Nam đều cho thấy khả năng kiểm soát sâu trên ngô lên tới hơn 45%, trong khi các giống ngô thường khả năng kiểm soát chỉ đạt hơn 5%. Tương tự, hiệu quả kiểm soát cỏ dại của ngô BĐG sau khi phun thuốc trừ cỏ cũng cao hơn nhiều so với ngô thường được phun thuốc trừ cỏ”, ông Toản nói.
    Phản biện
    Tuy nhiên, theo GS.VS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng, cần cân nhắc việc đưa ngô BĐG vào trồng đại trà. Việc cấp giấy chỉ mới là công bố về mặt kết quả, đánh giá rủi ro về an toàn sinh học, sẽ đưa ra trồng đại trà sau. GS Long cho biết, trước khi đưa ngô BĐG ra trồng đại trà, theo Pháp lệnh Giống cây trồng, phải qua các bước khảo nghiệm nữa, nếu loại giống đó có tốt hơn giống của Việt Nam thì mới đưa vào danh mục giống quốc gia.
    GS Long nói: “Quan điểm của tôi và nhiều nhà khoa học, những giống ngô BĐG của Mosanto cung cấp cũng chỉ là giống ngô kháng thuốc trừ cỏ. Tức có tính trạng là khi phun thuốc trừ cỏ, ngô không chết mà cỏ chết”. Theo ông Long giống ngô đó lại không có các tính trạng khác như năng suất cao hơn, chịu hạn tốt hơn…, điều mà Việt Nam đang cần. “Do vậy, khi sử dụng loại giống trên, phải mua thuốc trừ cỏ để phun, lại ảnh hưởng đến đất. Một năm mấy vụ trồng, nên cần nghiên cứu kỹ, thận trọng. Mặt khác, nếu dùng giống ngô của Mosanto, nông dân sẽ phụ thuộc vào Cty đó, giá giống lại đắt gấp 2-3 lần giống bình thường”, GS Long cảnh báo.
    Theo vị chuyên gia về giống, hiện các Cty, tập đoàn nước ngoài chiếm khoảng 60% thị trường giống ngô. Nếu dùng thêm giống BĐG nữa, mức độ phụ thuộc lại càng cao. Chưa kể, hằng năm, Việt Nam mất 4 tỷ USD để nhập nguyên liệu thức ăn chăn nuôi (ngô, đậu tương…); ngoài ra, còn nhập thuốc bảo vệ thực vật, phân bón… Như vậy, Việt Nam sẽ trở thành nền nông nghiệp gia công.
    GS Long cho biết, hiện giống ngô của Việt Nam cũng có giống cho năng suất 8-10 tấn/ha. Hiện nay, 85% diện tích trồng ngô của nước ta phải nhờ vào “nước trời”, nên cần giống ngô chịu hạn. Năng suất ngô trung bình cả nước hiện chỉ 4,3-4,4 tấn/ha, như vậy không hẳn là do giống, mà do tổ chức sản xuất, tưới, vật tư, cơ giới hóa... “Do đó, nếu chạy theo giống của nước ngoài, mình sẽ bị phụ thuộc, dù chưa bàn tới chuyện giống BĐG có hại hay không”, GS Long nói.
    Nguyễn Hoài - Nam Khánh

    Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

    Cây trồng biến đổi gen giúp nâng cao thu nhập cho người nông dân

    Cây trồng biến đổi gen giúp nâng cao thu nhập cho người nông dân
    Copy từ http://www.tin247.com/cay_trong_bien_doi_gen_giup_nang_cao_thu_nhap_cho_nguoi_nong_dan-3-23221158.html, đăng ngày 03 th 12/14, mục Kinh tế .
    Hiện nay, sản xuất ngô ở Việt Nam mới chỉ đạt năng suất 4 tấn/ha, nếu muốn đạt 6 tấn đến 8 tấn/ha cần có sự thay đổi giống mới.
    Thu hoạch ngô ở Lai Châu. (Ảnh: Thanh Hà/TTXVN)
    Các cây trồng biến đổi gen là những nguồn giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, ổn định lâu dài, thích nghi được với biến đổi khí hậu và khả năng sinh thái của Việt Nam. Như vậy, nếu nhân rộng và phát triển cây trồng biến đổi gen sẽ góp phần gia tăng sản lượng cũng như thu nhập cho người nông dân.
    Đó là nhận định của tiến sỹ Nguyễn Duy Lượng, Phó Chủ tịch thường trực Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tại Hội thảo khoa học với chủ đề “Nông dân trước cơ hội ứng dụng cây trồng biến đổi gen tại Việt Nam,” do Hội nông dân phối hợp với Báo Nông thôn ngày nay tổ chức sáng nay (3/12), tại Hà Nội.
    Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hiện nước ta đang phụ thuộc tới 70% nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi từ nước ngoài. Chỉ tính riêng trong 11 tháng qua, Việt Nam đã phải chi ra 3,03 tỷ USD để nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, trong đó riêng nhập khẩu ngô đã chiếm 1,05 tỷ USD với khối lượng lên tới 4,07 triệu tấn.
    Đồng quan điểm, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam cho biết, cây trồng biến đổi gen là một thành tựu khoa học hiện đại và cây trồng biến đổi gen cũng chứng minh được vai trò quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho người nông dân, tiết kiệm thời gian và công sức lao động trên đồng ruộng và từ đó giúp họ cải thiện cuộc sống, đặc biệt đối với nông dân ở các nước đang phát triển.
    Cụ thể, báo cáo của viện PG Economics cũng cho biết, cây trồng biến đổi gen đã mang lại mức tăng trưởng về năng suất và lợi nhuận cho nông dân. Năm 2012, ở các nước đang phát triển, trung bình mỗi 1USD người nông dân đầu tư vào hạt giống biến đổi gen, thì lợi nhuận thu được tăng gấp 4 lần tương đương 4,37 USD.
    Bên cạnh đó, phó giáo sư-tiến Sỹ Phạm Văn Toản, Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam cũng cho biết, trước nhu cầu sử dụng và khả năng sản xuất thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã quyết tâm đưa cây trồng biến đổi gen vào ứng dụng thực tế.
    Kết quả khảo nghiệm ở Việt Nam cho thấy khả năng kiểm soát sâu trên ngô biến đổi gen lên tới hơn 45%, trong khi các giống ngô thường khả năng kiểm soát chỉ đạt hơn 5%. Tương tự, hiệu quả kiểm soát cỏ dại của ngô biến đổi gen sau khi phun thuốc trừ cỏ cũng cao hơn nhiều so với ngô thường được phun thuốc trừ cỏ.
    Tại Việt Nam, từ đầu năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã cấp giấy phép khảo nghiệm diện hẹp, tiếp theo khảo nghiệm diện rộng cho 5 sản phẩm ngô biến đổi gen. Cuối tháng Tám vừa qua, Bộ này cũng đã chính thức có các quyết định về việc công nhận các sản phẩm ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.
    Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã có các quyết định phê duyệt và cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học cho 3 sản phẩm ngô biến đổi gen đầu tiên. Đây là một bước phát triển pháp lý quan trọng và cụ thể nhằm tiến tới mục tiêu thương mại hóa và chính thức ứng dụng vào sản xuất đại trà cây ngô biến đổi gen tại nước ta đến năm 2015./.
    Theo thống kê của Tổ chức quốc tế về tiếp thu các ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp (ISAAA), năm 2013, hơn 18 triệu nông dân tại 27 quốc gia canh tác các loại cây trồng biến đổi gen trên tổng diện tích khoảng 170 triệu ha. Bên cạnh đó cây trồng biến đổi gen đang được trồng, nhập khẩu và sử dụng trong nghiên cứu thử nghiệm đồng ruộng tại 70 quốc gia trên thế giới.“Chính vì thế, với ưu điểm có khả năng kháng sâu bệnh, thuốc trừ cỏ, cây ngô biến đổi gen là một trong những giải pháp thích hợp nhằm gia tăng năng suất cây trồng, tăng thu nhập cho nông dân, đặc biệt là tiến tới giảm lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài,” tiến sỹ Nguyễn Duy Lượng nêu rõ.

    Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

    Hồ Quang Cua, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới

    Hồ Quang Cua, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới
    (Copy từ http://www.sonoivu.soctrang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gLR1dvZ09LYwOL4GAnA08TRwsfvxDDQEcjQ_2CbEdFAP9aGwg!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sonoivu/congthongtinsnv/tintuc/sukiennb/hoquangcua , đăng ngày (07/01/2014 , mục Sự kiện nổi bật.)
    Kỹ sư Hồ Quang Cua, một nhà khoa học tâm huyết với ngành nông nghiệp với cây lúa của quê hương Sóc Trăng. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
    Với niềm đam mê nghiên cứu khoa học và tình yêu đối với cây lúa nên từ năm 1992 (năm tái lập tỉnh) ông đã tìm và cung cấp cho bà con nông dân các giống lúa thơm: Khao daw mali, Jasmin, VĐ 20,... để nâng cao chất lượng cây lúa, nhưng không dừng lại ở đó, chính niềm đam mê luôn thôi thúc ông suy nghĩ tìm tòi để tìm ra một giống lúa thơm có những ưu điểm vượt trội của vùng quê hương Sóc Trăng.
    Sau một thời gian tập trung nghiên cứu đến năm 2001 giống lúa ST3 ra đời và trở thành một trong những giống lúa thơm chủ lực được nhân rộng đồng bằng sông Cửu Long và đến nay sau hơn 10 năm thực nghiệm đã có gần 30 giống lúa thơm mang thương hiệu ST được nghiên cứu thành công và được trồng rộng rãi tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long mang lại hiệu quả kinh tế cho địa phương và góp phần nâng cao đời sống cho người nông dân.
    Với sự tận tụy và những đóng góp to lớn cho ngành nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng nói riêng và ngành nông nghiệp của cả nước nói chúng, vào tháng 12 năm 2013, ông đã vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới để biểu dương tinh thần làm việc tận tụy và sự cống hiến hết mình của ông cho sự phát triển của quê hương.
    (Kèm theo QĐKT số 2365/QĐ-CTN, ngày 13/12/2013 của Chủ tịch nước).
    Ban Thi đua Khen thưởng