Thứ Tư, 28 tháng 5, 2025

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 5: Rùng rợn khám ngục giam sọ vua

 Thời sự Phóng sự

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 28/05/2025 13:05

Chuyện lạ kinh thành Huế - Kỳ 5: Rùng rợn khám ngục giam sọ vua

Khám ngục triều Nguyễn được quan tâm đặc biệt, vì là nơi giam cầm xương sọ của Hoàng đế Quang Trung suốt mấy mươi năm.

kinh thành Huế - Ảnh 1.

Khám ngục triều Nguyễn ngày xưa, nay chỉ còn là mặt nước xanh rì - Ảnh: THÁI LỘC

"Ai đã qua một lần cửa ải đó thì không hy vọng bước qua ngưỡng cửa lần thứ hai hòng tránh chiếc áo quan hoặc sự dẫn dắt của kẻ đao phủ tiến về giá treo cổ" - linh mục M. Miche, người từng bị giam tại khám ngục triều Nguyễn từ tháng 12-1842 đến tháng 3-1843, viết thư gửi anh trai như thế.

Soi trong mặt nước xanh rì

Khám ngục triều Nguyễn được quan tâm đặc biệt, vì là nơi giam cầm xương sọ của Hoàng đế Quang Trung suốt mấy mươi năm. Điều kỳ lạ là cả giám ngục lẫn tù nhân xem phần hài cốt nhà Tây Sơn là những thần linh để cúng xin phò trợ mỗi ngày.

Tại góc tây Kinh thành, chúng tôi đi hết con hẻm cuối đường Trần Quốc Toản là đến con đê khá cao ngăn cách giữa hai cái hồ. Phía bắc là hồ Bèo, tên chữ là hồ Hữu Bảo. Còn bên trái chính là hồ Khám - tức khám ngục dành cho tử tù của triều Nguyễn xưa. Hồ Khám hình chữ nhật, rộng khoảng 2ha, nước hiện sâu hơn 2m. Khả năng ngày xưa, khám ngục nằm ngay giữa lòng hồ xanh thẳm này.

Năm 1914, linh mục J. B. Roux, nhà truyền giáo đến từ Paris, cho rằng quần thể khám ngục này được xây từ cùng lúc với Kinh thành Huế năm 1804, và chấm dứt hoạt động kể từ sự biến kinh đô thất thủ 1885. 

Ông diễn tả: "Khám đường có hình chữ nhật và có chiều dài 100m, chiều rộng 60m và có tường ngoài cao 4m. Các hướng đều theo hướng của kinh thành: chiều dài là hướng tây bắc - đông nam, chiều rộng hướng đông bắc - tây nam. Xung quanh có hào ngập nước và hàng rào tre không vào được. Muốn đi vào trong thành chỉ có một con đường có một cầu tre vắt sang hào".

Khá nhiều nhà truyền giáo phương Tây đã miêu tả sự khủng khiếp của khám đường triều Nguyễn. Linh mục Miche kể mình "bị xiềng xích và phải nằm trên đất ẩm ướt, trần truồng như thú vật bị lãng quên chờ chết". 

Thậm chí có người ví câu thơ khắc trên cửa vào địa ngục trong Thần khúc của Dante "Hãy vứt lại mọi niềm hy vọng" đáng để đặt trên cửa của khám ngục. 

Theo lời diễn tả, ngục thất là những cái lán lợp ngói. 

"Mỗi cái lán ấy chia làm 2 gian, trên và dưới. Phần trên cao hơn mặt đất độ 1,3m là một phòng rộng có bít ván và chỉ có 1 cửa chính. Không bao giờ có ánh sáng lọt vào vì cửa thông độc nhất này luôn đóng kín khi tù nhân bị nhốt vào. 

Ban ngày, những người bị giam gian dưới, trên đất, mỗi người chỉ có một manh chiếu và chẳng có gì để chống chọi với thời tiết khắc nghiệt cả trong bốn mùa"...

Thực địa đầu thập niên 1980, chúng tôi còn thấy hòn đảo hình vuông nằm giữa hồ Khám. Hồi đó, những đợt hè khô hanh, đảo nổi lên so với mặt nước trong khoảng gang tay. Còn lại thì nằm lấp xấp. 

Ông Lê Văn Huế, nhà sống cạnh hồ Khám, cho hay khoảng giữa thập niên 1980, Nhà nước đã cho nạo vét hồ Khám để làm ao cá giống cho Vườn ươm Tây Lộc. 

"Hồi nớ Nhà nước đã huy động quân đội, công an, sinh viên và nhân dân đến đào đất trong lòng hồ để đắp bờ xung quanh lên cao để làm hồ nuôi cá. Khi đào đất (giữa hồ) lên, có sắt, có gỗ, nhiều lắm, có những trái bi sắt to như quả tạ rứa đó!"...

kinh thành Huế - Ảnh 2.

Hồ Khám nằm ở góc phía tây Kinh thành Huế nhìn từ trên cao - Ảnh: NHẬT LINH

Nơi giam phần cốt nhà Tây Sơn

Một số ghi chép và lời kể của người dân sống lân cận cho rằng khu vực phía đông của hồ Khám, nay là Trường tiểu học Tây Lộc, chính là ngục thất giam giữ xương sọ các hoàng đế nhà Tây Sơn. Gắn liền với ngục thất này là nơi cúng bái của cả cai ngục lẫn tử tù bị giam cầm. 

Sử Nguyễn ghi rằng sau khi giành được vương quyền, vua Gia Long sai áp dẫn Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Duy và Nguyễn Quang Thiệu ra cửa thành, xử án lăng trì. Dùng 5 con voi, 1 con buộc vào đầu, 4 con buộc vào 4 tay chân rồi điều khiển voi đi 5 hướng để xé xác. 

Phần đầu của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Quang Toản cùng thần chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ bị giam vào Nhà Đồ Ngoại phía nam Kinh thành. Đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821) thì chuyển về giam lâu dài tại khám ngục.

Tác giả Nguyễn Đình Hòe, phó hiệu trưởng Trường Hậu Bổ triều Nguyễn đầu thế kỷ 20, viết: "Lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long, đến lễ tại Hoàng cung, đại lễ này gọi là "hiến phù". Trong lễ này chúa ra lệnh đào mả của các vua Tây Sơn: Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ. Thi hài còn lại đem giã và phân tán trong gió. Còn ba sọ của hai "loạn quân" này để lại và đem nhốt vào ngục thất giấu vào trong các lọ. 

Theo người kể lại câu chuyện xưa thì lúc ấy ở khám đường có ba lọ. Hai lọ đầu là đựng sọ của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ. Còn lọ thứ ba thì đựng thi hài của Nguyễn Văn Lữ hay là của Nguyễn Quang Toản, người ta không biết chắc. Ba lọ này đề đặt trong ba lồng khác nhau trong khám đường. Ba lọ bị xích xiềng và cửa của các lồng ấy đều niêm phong. Và mỗi tháng có một lần kiểm tra khóa do một đoàn kiểm tra đặc biệt".

Tù nhân cũng là thần linh

Điều hết sức lạ lùng, xương sọ của Hoàng đế Quang Trung vốn là "tù binh", tội nhân đặc biệt của triều đình, lại được cả giám ngục lẫn tử tù coi là đấng linh thiêng, cúng bái, cầu khấn mỗi ngày. 

Tác giả Nguyễn Đình Hòe viết: "Các lọ ấy đều cúng riêng đặc biệt để lính cầu khẩn được giúp đỡ một cách có hiệu quả công việc cai quản khám đường, cũng như tìm kiếm các tù nhân trốn ngục thất. Về phía tù nhân, họ cho rằng linh hồn các tướng lĩnh Tây Sơn (mà hài cốt bỏ trong các lọ và cũng bị xiềng xích như họ) là những vong hồn và những thần linh được họ thờ cúng để phù hộ cho họ bớt khổ trong lao tù. Những vò ấy được gọi là "Ông Vò" hay "Chúa Ngụy". Các vò ấy biến mất khi thất thủ Huế, bị tù nhân vượt ngục đem theo".

Ngay trong nội cung triều Nguyễn cũng tin và đồn thổi sự linh thiêng của phần hài cốt nhà Tây Sơn. 

Ông Nguyễn Đình Hòe cũng ghi chép lời kể của các bà nội cung triều Nguyễn rằng: vua Đồng Khánh từng bị hài cốt nhà Tây Sơn hiện ra hăm dọa và trở thành nguyên nhân lâm bệnh và băng hà của nhà vua. 

Sự việc tương tự với vua Thành Thái: "Lúc còn thơ ấu, khám phá vò ấy (có thể ở khám đường hoặc trong hoàng cung) cũng bị thất đảm vì bóng ma của Tây Sơn muốn báo thù, đã làm cho sức khỏe của vị vua trẻ bị mòn mỏi và tàn tạ dần".

Tác giả J. B. Roux, chứng kiến khám ngục tử tù lẫn nơi giam giữ phần cốt Tây Sơn đã đổ nát nhưng "giữa đám cỏ hoang ấy còn lại một cái nền cao độ 80cm. Người ta nói đó là bàn thờ trong thời kỳ khám đường còn sử dụng. 

Đây có phải là nơi mà tù nhân cầu nguyện các đấng linh thiêng phù hộ cho họ lúc lâm nguy chăng? Nhưng chắc là của quân lính dựng lên để cầu mong thần thánh giúp cho họ giữ tù". 

Ông Lê Văn Huế cho biết cái "bệ thờ cổ" ấy tồn tại đến khoảng cuối thập niên 1980, sau đó bị phá dỡ đi khi Nhà nước cho mở rộng xây dựng Trường tiểu học Tây Lộc...

"Xưa kia, lính canh gác lao tù cũng có những vị thần linh của họ. Đó là các tù nhân quan trọng: ba anh em phiến loạn nhà Tây Sơn suýt đã tiêu diệt nhà Nguyễn và đã bị Gia Long, sau khi chiến thắng, đào thi hài lấy ba đầu nhốt vào ba cái hũ, được khóa chốt cẩn thận và đặt vào trong lao nhà nước. Các vong linh bất hạnh này cũng được các cai ngục và tù nhân cầu nguyện và cúng bái. Tù thì mong các thần phò hộ để bớt phần đau khổ, và để làm hiền dịu bớt những người cai ngục. Cai ngục thì cầu thần gác tù giùm cho họ, và cần đến thần hơn nữa khi có tù bỏ trốn" - L. Cadière, B.A.V.H. 1916.

**************

Hai pho tượng cổ quý được cho là của Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành, được gắn với bao chuyện linh thiêng, thần kỳ. Tượng thờ ở miếu Đá Hờn, số 2 đường Nhật Lệ, gần trung tâm Kinh thành Huế.

>> Kỳ tới: Đá Hờn linh thiêng

Chuyện lạ kinh thành Huế - Kỳ 5: Rùng rợn khám ngục giam sọ vua - Ảnh 3.Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 1: Đất thiêng giữa Kinh thành

Những người phương Tây khi đến Huế xưa đã ngỡ ngàng ngợi ca về một kinh đô tuyệt đẹp với biết bao câu chuyện thần thánh, thiêng liêng, diệu kỳ. Những chuyện độc lạ trong Kinh thành Huế ngày nay vẫn còn vang vọng…

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2025

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 4: Đàn Xã Tắc - biểu tượng đất nước thống nhất


dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 27/05/2025 12:00

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 4: Đàn Xã Tắc - biểu tượng đất nước thống nhất

Có một nơi trong Kinh thành Huế được đắp bằng đất sạch của cả nước: 100 khiêng của Huế, 50 khiêng của Sài Gòn, 50 khiêng của Hà Nội, 50 khiêng của Biên Hòa, 50 khiêng của Thanh Hóa, 2 khiêng của Hà Tiên...

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 4: Đàn Xã Tắc - biểu tượng đất nước thống nhất - Ảnh 1.

Đàn Xã Tắc triều Nguyễn ngày nay - Ảnh: NHẬT LINH

Đó là đàn Xã Tắc, nơi cúng tế thần Đất và thần Lúa, một hoạt động thiêng liêng và quan trọng bậc nhất của hoàng triều Huế xưa.

Cảm xúc thiêng liêng

Đầu tháng 3-2008, khi hay tin việc khai quật khảo cổ học ở đàn Xã Tắc đã đến đoạn đất nhiều màu, tôi đến ngay công trường trong một trạng thái cảm xúc đặc biệt khó tả.

Trên diện tích 2.500m2 được khai quật lúc ấy xuất lộ phần bó của tầng một - tầng đàn chính, làm bằng gạch vồ dày 0,8m, hình vuông, mỗi cạnh dài hơn 30m, giữa bốn cạnh là bốn bậc cấp đi lên. Kết cấu móng cũng xuất lộ với khoảng 12 lớp vật liệu như vôi, cát, đất sét và gạch ngói vỡ nén chặt.

Điều đặc biệt hơn cả, tại một hố khai quật là sự xuất lộ nhiều lớp đất khác màu nhau. Trưởng đoàn khai quật lúc ấy là nhà khảo cổ Nguyễn Tuấn Lâm, nói trong trạng thái xúc động: "Từ đây chúng tôi xác định nền tầng một được cấu tạo bằng nhiều lớp đất khác nhau được đầm một cách rất công phu, mỗi lớp dày khoảng 15cm.

Đây quả thật là điều gây xúc động cho chúng tôi vì đã xác định rõ từng phần đất sạch trên nhiều miền của Tổ quốc đóng góp về đây để lập nên đàn này; và cũng từ đây mới thấy tầm quan trọng của ngôi đàn đối với đất nước như thế nào...".

Tầng hai cũng hình vuông mỗi cạnh dài 74m, phần bó tạo bởi lớp đá gan gà chồng lên nhau dày 1,7-1,8m. Nền tầng hai gồm sáu tầng đất khác loại nằm chồng lên nhau theo chiều ngang.

Cùng với bia "Thái xã chi thần" đang tồn tại, một chân bia đá thanh lớn cũng được phát hiện kèm theo rất nhiều hiện vật là chân tảng đá thanh và đá gan gà dùng để cắm tàn, lọng, cờ... nằm rải rác trong khu vực...

Gần 20 năm đã qua, nhưng kiến trúc sư Phùng Phu, lúc ấy là giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, vẫn nhớ như in: "Hồi đó, tôi tới đàn Xã Tắc thấy sự xuất lộ phần đất của cả nước rất rõ.

Ngoài các tầng đất các màu khác nhau nén chặt, bề mặt của đàn cũng thể hiện rất rõ cả 5 màu theo các hướng đông, tây, nam, bắc và trung tâm đúng theo ghi chép của sử liệu. Lúc đó tôi thấy xúc động lắm, thấy nó linh thiêng lắm.

Sự xúc động, cảm giác giống như vững bền của đất nước, của dân tộc. Đúng là cảm xúc thiêng liêng thực sự!".

Đất của cả nước

Đàn Xã Tắc được khởi xây tháng 3 năm Gia Long thứ 5 (1806), để thờ cúng thần Đất (Xã) và thần Lúa (Tắc).

Sách Đại Nam thực lục ghi: "(vua) sai các thành và dinh trấn đều phải cống đất địa phương để đắp. Đàn làm hai tầng (tầng thứ nhất cao 2 thước, vuông mỗi chiều 15 trượng; tầng thứ 2 cao 1 thước 5 tấc, vuông mỗi chiều 29 trượng. Chu vi hai tầng đều có lan can, ngoài trồng cây, xây tường chung quanh).

Tầng thứ nhất để tế thần Thái Xã, Thái Tắc (đều hướng về bắc), bên hữu phối thờ thần Hậu Thổ Câu Long thị, bên tả phối thờ Hậu Tắc thị (đông tây hướng vào nhau); tầng thứ hai thì phía tây bắc đặt sở Ế Khảm.

Sai Chưởng quân Phạm Văn Nhân trông coi công việc. Rồi sai Bộ Lễ bàn định về phép thờ tự, mỗi năm cứ ngày mậu về tháng trọng xuân và trọng thu thì tế. (Tháng trọng xuân thì ngày mậu sau ngày tế Nam giao, tháng trọng thu thì ngày mậu đầu tháng)".

Điển chế nhà Nguyễn cho biết các dinh trấn được lệnh chọn và lấy một lượng đất cụ thể. Triều đình cho thuyền chở về kinh đô để đắp lên đàn: "Các dinh trấn đều cống hiến đất sạch và chắc. Dinh Quảng Đức (nay là phủ Thừa Thiên) 100 khiêng.

Các dinh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Bình Hòa, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa mỗi dinh 50 khiêng. Trấn Thuận Thành 1 khiêng. Bốn dinh Phiên An (nay là tỉnh Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (nay là tỉnh Vĩnh Long) mỗi dinh 50 khiêng.

Trấn Hà Tiên 2 khiêng. Đối với Bắc Thành: năm trấn ở trong mỗi trấn 50 khiêng; sáu trấn ở ngoài mỗi trấn 1 khiêng, phái thuyền ra giải về Kinh xây đắp".

Cũng theo sử liệu triều Nguyễn, đất sạch của từng địa phương được chở về cũng được phân ra thành 5 (nhóm) màu rồi đắp lên đàn từng lớp theo Ngũ hành.

Sách Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức ghi: "Đất đắp đàn dùng đất ngũ sắc, sắc đất theo từng phương (ở giữa đàn đắp đất sắc vàng, phương đông đắp đất sắc xanh, phương tây sắc trắng, phương nam sắc đỏ, phương bắc sắc đen". Sách này ghi thêm việc trồng cây: "Chung quanh xây lan can, khu đất vuông ngoài đàn trồng cây thông, cây xoài và cây mù u".

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 4: Đàn Xã Tắc - biểu tượng đất nước thống nhất - Ảnh 2.

Lễ tế Xã Tắc được tổ chức đều đặn tháng 2 âm lịch hàng năm - Ảnh: Trung tâm BTDTCĐ Huế cung cấp

Biểu tượng thống nhất

Thời Nguyễn, lễ tế Xã Tắc được tổ chức mỗi năm 2 lần, vào mùa xuân và mùa thu. Lễ tế này được xếp hàng đại tự, cách 3 năm, vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, nhà vua đích thân đến làm lễ. Sau khi nhà Nguyễn cáo chung, tế lễ không còn, đàn Xã Tắc rơi vào cảnh hoang phế.

Chính quyền Sài Gòn đã lấy gần trọn tầng 2 của khu đàn để dựng khu gia binh là những dãy nhà gỗ lợp tôn làm nơi ở cho vợ con quân nhân chế độ cũ. Chiến trận Mậu Thân - 1968 làm khu gia binh hư hại nặng nề.

Người ta xây lại 50 dãy nhà bằng bờ lô, mỗi dãy 10 căn theo lối "tập thể". Trong suốt hàng chục năm trời, khu vực đàn Xã Tắc trong cảnh một khu dân cư với hàng trăm hộ dân sống chật chội, nhếch nhác, nổi danh với nhiều "ổ tệ nạn"...

Đầu năm 2008, dự án phục hồi đàn Xã Tắc giai đoạn 1 được tiến hành. Cùng với giải tỏa một phần các hộ dân, công tác khai quật khảo cổ học ở khu vực tầng thứ nhất được tiến hành như đã đề cập.

Để phục hồi tầng đàn thứ nhất, những người có chức trách định gửi văn bản đến tất cả tỉnh thành đề nghị lựa chọn đất sạch để đưa về đắp lại đàn Xã Tắc. Công việc này xem ra khó thực hiện được, nên cơ quan chức năng đã "lệnh" cho chính quyền 8 huyện và TP Huế (cũ) chọn đất sạch mỗi địa phương chở về đắp đàn.

Vào tháng 6-2008, trong khuôn khổ Festival Huế 2008, lễ tế Xã Tắc đã được cử hành trọng thể tại đàn Xã Tắc. Từ đó đến nay, lễ tế Xã Tắc gần như được ấn định tổ chức định kỳ vào tháng 2 âm lịch hằng năm, cơ bản dựa theo nghi lễ được ghi chép trong điển chế triều Nguyễn. Lễ tế ngày nay, ngoài là "một sản phẩm du lịch", nhà tổ chức luôn cho rằng để cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, dân chúng ấm no...

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh, thời nay hoàn toàn không nên tổ chức tế Xã Tắc: "Thời ấy nông nghiệp kém cỏi, người ta cầu thần đất và thần lúa phù hộ cho mùa màng tốt tươi. Ngày nay, nông nghiệp đã chịu sự tác động của khoa học hiện đại, đâu còn phụ thuộc vào mấy trò cúng tế.

Đó là chưa nói đến việc biến nhân dân tin vào những điều hoang đường. Đến nay mà vẫn còn đi cầu cúng là hoang đường. Theo tôi, chỉ nên bảo vệ, tôn tạo nó như là một di tích, trong đó ý nghĩa tượng trưng cho ý niệm thống nhất, chứ không nên cúng tế theo hình thức mê tín như hiện nay".

"Đối với đàn Xã Tắc, theo tôi, chỉ nên khai thác khái niệm thống nhất, biến thành điểm tham quan đặc biệt cho người dân cả nước, làm sao để người dân biết rằng đất sạch của quê hương họ đã được đưa về đây xây dựng một nền đàn tượng trưng cho đất nước.

Rất nên lái chữ Xã Tắc theo nghĩa mở rộng, chuyển ra khái niệm đất nước, gắn với Sơn Hà Xã Tắc. Chúng ta có thể khai thác góc độ cổ vũ tính thống nhất ấy" - nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh.

-----------------------

"Ai đã qua một lần cửa ải đó thì không hy vọng bước qua ngưỡng cửa lần thứ hai hòng tránh chiếc áo quan hoặc sự dẫn dắt của kẻ đao phủ tiến về giá treo cổ". Linh mục M. Miche, người từng bị giam tại khám ngục triều Nguyễn từ tháng 12-1842 đến tháng 3-1843, viết thư gửi anh trai như thế.

Kỳ tới: Khám ngục giam vua

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 4: Đàn Xã Tắc - biểu tượng đất nước thống nhất - Ảnh 3.Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 3: Pháo đài cầu

Vừa là cầu vừa là pháo đài, Đông - Tây Thành Thủy Quan là hai cụm kiến trúc đặc biệt nằm hai đầu sông Vua băng ngang Kinh thành. Chúng đều nằm trung tâm của hai cụm phòng thủ trọng yếu của triều đình xưa.

Quy định trái luật quốc tế của Trung Quốc

 

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 27/05/2024 08:07; Ngày 27/05/24 bài nầy đã đăng trên blogspotcủa dvnien, nay đăng lại !

Quy định trái luật quốc tế của Trung Quốc

Ngày 15-5-2024, Trung Quốc công bố thủ tục thực thi Luật Hành chính của Lực lượng bảo vệ bờ biển (CGALEP). Đây là nỗ lực trong thế khó của Bắc Kinh nhằm cứu vãn "thế trận vùng xám" đang dần thất bại trên Biển Đông.

Tàu hải cảnh Trung Quốc theo dõi các ngư dân Philippines trên một chiếc tàu gỗ trong lúc nhóm Atin Ito tiếp tế nhiên liệu và thực phẩm cho ngư dân trên Biển Đông hôm 16-5-2024 - Ảnh: AFP

Tàu hải cảnh Trung Quốc theo dõi các ngư dân Philippines trên một chiếc tàu gỗ trong lúc nhóm Atin Ito tiếp tế nhiên liệu và thực phẩm cho ngư dân trên Biển Đông hôm 16-5-2024 - Ảnh: AFP

Gói CGALEP lần này là động thái tiếp nối sau khi Cục Hải cảnh Trung Quốc ban hành hai quy tắc tố tụng hình sự liên tiếp vào năm 2023, nhằm làm rõ quy trình thực thi Luật Hải cảnh được thông qua vào năm 2021.

Hành vi như vậy không chỉ vi phạm UNCLOS mà còn vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, trong đó quy định mỗi quốc gia có trách nhiệm phải kiềm chế sử dụng vũ lực hoặc gây hấn để thực thi, đặc biệt trong trường hợp này, các yêu sách lãnh thổ bất hợp pháp trên biển.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines GILBERTO TEODORO phát biểu ngày 24-5-24

Tiếp tục mập mờ pháp lý

Bao gồm tổng cộng 16 chương và 281 điều khoản, CGALEP đang hứng chịu sự chỉ trích từ dư luận khu vực khi tiếp tục dựa trên diễn giải của Luật Hải cảnh công nhận Trung Quốc có chủ quyền đối với các khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa trên biển.

Điều này hoàn toàn trái với quy định ở điều 56 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 chỉ cho phép quốc gia ven biển có quyền chủ quyền trong việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và phi sinh vật và các hoạt động thăm dò năng lượng, khai thác kinh tế khác ở EEZ.

Không chỉ tự ý áp đặt khái niệm chủ quyền đối với khu vực EEZ trái với luật pháp quốc tế, Trung Quốc còn tự quy định phạm vi về quyền tài phán ở điều 257 của CGALEP khi cho phép CCG được tạm giữ từ 30 - 60 ngày đối với người nước ngoài vi phạm luật xuất nhập cảnh, gây nguy hiểm cho an ninh và lợi ích quốc gia hoặc có hành vi hỗ trợ người khác vi phạm luật xuất nhập cảnh Trung Quốc trong khu vực EEZ do nước này tự quy định. Phạm vi này đi quá giới hạn về quyền tài phán của quốc gia ven biển được quy định ở điều 56 của UNCLOS và cũng không phù hợp với đặc thù của khu vực EEZ là một lãnh thổ hỗn hợp.

Sự cân bằng về quyền giữa quốc gia ven biển và các quốc gia khác đòi hỏi một sự phân chia thẩm quyền tùy trường hợp cụ thể để giải quyết xung đột ở các lĩnh vực mới trong khu vực EEZ theo quy định của điều 59 UNCLOS, chứ không thể tự ý áp đặt từ một phía quốc gia ven biển như trong CGALEP.

Tuy nhiên, dường như Trung Quốc vẫn muốn duy trì cách diễn giải đơn phương về khái niệm "chủ quyền" đối với khu vực EEZ của họ để có thể tiếp tục mở rộng lập trường diễn giải pháp lý "mập mờ" có lợi cho năng lực "lưỡng dụng" của CCG.

Trong khi luật pháp quốc tế quy định tàu hải quân "vỏ xám" được phép triển khai để "sử dụng vũ lực" bảo vệ chủ quyền quốc gia, thì tàu chấp pháp "vỏ trắng" được "sử dụng vũ khí" để đảm bảo quyền chủ quyền hợp pháp. Sự chuyển giao quyền kiểm soát CCG từ cơ quan quản lý dân sự trong Bộ Công an và Cục Hải dương nhà nước sang Quân ủy Trung ương (CMC) vào năm 2018 đã chính thức tích hợp khả năng "sử dụng vũ lực" cho CCG.

Vì vậy, điều 22 của Luật Hải cảnh cho phép CCG được cân nhắc sử dụng vũ khí khi phát hiện có nguy cơ bị xâm phạm cả về chủ quyền lẫn quyền chủ quyền trên các vùng biển quy định. Đây có thể xem chính là cốt lõi của "thế trận vùng xám" mà Trung Quốc đang dày công củng cố cả trên Biển Đông lẫn biển Hoa Đông.

Càng kiểm soát, càng mất kiểm soát

Sự gia tăng quyền lực pháp lý cho lực lượng CCG lúc này lại là một động thái có thể mang đến tổn hại về uy tín cho Trung Quốc nhiều hơn là mục tiêu áp chế đối thủ trên thực địa. Đặc biệt nhất là khi quyết định công bố thủ tục CGALEP lại trùng với thời điểm một đoàn thuyền dân sự có khẩu hiệu "Atin Ito (Đó là của chúng tôi)" vượt qua được sự phong tỏa của CCG ở bãi cạn Scarborough để tiếp tế thực phẩm và nhiên liệu cho ngư dân Philippines.

Sự đột phá vòng vây của đoàn thuyền Atin Ito bị phía Trung Quốc cáo buộc được hậu thuẫn bởi Chính phủ Philippines khi phía CCG xác nhận có tàu cảnh sát biển Philippines BRP Bacagay theo sát hộ tống, bất chấp phía Trung Quốc triển khai đợt phong tỏa Scarborough được xem là lớn nhất bao gồm 1 tàu hải quân, 8 tàu hải cảnh và 34 tàu dân binh. Đây là "lỗ hổng" mới nhất trong "thế trận vùng xám" của Trung Quốc.

Tuy nhiên, động thái "vá lỗ hổng" bằng cách ban hành CGALEP chứa đầy các diễn giải xung đột với UNCLOS trên thực tế lại khiến cho không chỉ chính giới Philippines được công khai tăng cường chỉ trích, mà còn kết hợp với làn sóng quan ngại về sự mở rộng quyền lực phi pháp của CCG trước đó từ cả chính giới Nhật Bản và Hàn Quốc, góp phần làm suy giảm kỳ vọng cho Thượng đỉnh Trung - Nhật - Hàn hiếm hoi đang diễn ra tại Seoul.

Do đó, Trung Quốc không chỉ càng mất đi uy tín mà còn khó có khả năng tiếp tục tham gia cuộc đua kiến tạo các kiến trúc đa phương đảm bảo an ninh hàng hải ở khu vực Biển Đông nói riêng và Tây Thái Bình Dương nói chung.

Tựu trung lại, Trung Quốc dường như vẫn đang lún sâu vào các lối mòn về tư duy vốn đang tạo nên những "lỗ hổng" ngày càng lớn của họ trên mặt trận pháp lý. Nếu không kịp chuyển hướng sang đối thoại, "thế trận vùng xám" cũng như uy tín của Bắc Kinh sẽ ngày càng gặp nhiều thách thức đến nỗi không thể quay đầu.

Khó khăn nội tại buộc lãnh đạo Nhật Bản và Hàn Quốc tìm đến Trung Quốc?Khó khăn nội tại buộc lãnh đạo Nhật Bản và Hàn Quốc tìm đến Trung Quốc?

Hội nghị ba bên Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc sắp khai mạc đánh dấu lần hiếm hoi lãnh đạo ba nước ngồi lại với nhau, với những toan tính riêng trước sự kiện.

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2025

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 3: Pháo đài cầu

 Thời sự Phóng sự

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 26/05/2025 10:16

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 3: Pháo đài cầu

Vừa là cầu vừa là pháo đài, Đông - Tây Thành Thủy Quan là hai cụm kiến trúc đặc biệt nằm hai đầu sông Vua băng ngang Kinh thành. Chúng đều nằm trung tâm của hai cụm phòng thủ trọng yếu của triều đình xưa.

Kinh thành Huế - Ảnh 1.

Cầu Đông Thành Thủy Quan, còn gọi là cầu Lương Y, với 13 pháo nhãn đặt đại bác trên thành cầu - Ảnh: THÁI LỘC

Pháo đài cầu

Tháng 6-2020, khi các nhà dân xây trên thượng thành được giải tỏa, hai cửa vòm nhỏ trên hai bức tường thành hai bên cầu Đông Thành Thủy Quan đã lộ ra, giới quan tâm mới chú ý đến sự đặc biệt về cụm công trình quân sự quan yếu này. Nằm ở trung tâm của cả cụm công trình là "pháo đài cầu" Đông Thành Thủy Quan.

Cầu vòm Đông Thành Thủy Quan bắc qua đoạn cuối sông Ngự Hà, dài gần 68m, thân xây bằng gạch, vòm thông thủy bằng đá thanh. Hai lan can xây gạch trát vữa chênh lệch nhau: lan can phía ngoài thành cao 1,5m và trên mình nó có 13 pháo nhãn để đặt đại bác; còn lan can phía trong thành cao 1,05m. 

Mặt trong thân cầu là hai trụ đá thanh xếp chồng nằm hai bên lối thông thủy, có gờ âm và bên trên khoét lõm dùng để đặt đòn quay đóng mở cánh cửa thủy lộ bên dưới.

Theo văn bia về Ngự Hà - ngự chế của hoàng đế Minh Mạng, cầu vốn làm bằng gỗ vào năm 1808, có tên là Thanh Long. Đến năm 1831, vua cho xây bằng gạch đá, đặt tên Đông Thành Thủy Quan: "Tháng tư năm Minh Mạng thứ 11 lại thấy ở chỗ Ngự Hà chảy về phía đông ra ngoài Kinh thành, nguyên có chiếc cầu gỗ tên là cầu Thanh Long, cũng sai thay bằng đá. 

Dưới cầu đặt cánh cửa làm cửa quan. Trên cầu, ở lan can bảo vệ trổ ra 13 cửa dùng để bắn súng đại bác. Cầu được đổi tên Đông Thành Thủy Quan".

Sử liệu triều Nguyễn cho biết ngày xưa cây cầu với 13 khẩu đại bác đặt trên thành cầu phía đông. Cùng với pháo đài Đông Vĩnh lẫn đoạn tường thành tiếp giáp pháo đài Đông Phụ là do vệ Tiền Bảo nhị của Tiền Quân và vệ Hậu Bảo nhất của Hậu Quân canh giữ. 

Theo điển chế nhà Nguyễn, vào khoảng 9h tối, sau hai phát súng hiệu, cánh cổng gỗ sẽ được hạ xuống đóng kín. Đến gần 5h sáng, cũng sau hai phát súng hiệu, cánh cổng thủy quan được kéo lên để thuyền bè lưu thông.

Thực địa tại khu vực này khoảng năm 1924, trung tá Ardant Du Picq cho rằng cùng với 13 khẩu đại bác trên cầu, hai cửa vòm hai bên cầu (xuất lộ 2020) khả năng cũng là nơi đặt hai khẩu đại bác. 

Gần đó là hai pháo đài Đông Vĩnh và Đông Phụ cũng được thiết kế bố trí rất nhiều pháo nhãn đặt đại bác, để phối hợp hỗ trợ pháo đài trung tâm là cầu Đông Thành Thủy Quan, đúng với tính chất phòng thủ đặc biệt trọng yếu tại cổng thủy lộ vào ra Kinh thành.

Kiến trúc độc đáo

Nằm giữa đoạn Kinh thành phía tây và ngay trên thủy lộ Ngự Hà chảy vào Kinh thành là "pháo đài cầu" Tây Thành Thủy Quan, một kiến trúc đặc biệt của hệ thống phòng thủ Huế xưa. Mặc dù cái lô cốt xây từ thời chống Mỹ đen sì, nằm án ngữ ngay giữa trên của cầu. 

Song vẻ đẹp và sự độc độc đáo của kiến trúc này vẫn đáng được khách xa chiêm ngưỡng. Bên dưới là lối thông thủy là một vòm đá. Bên trên, đường đi và lan can của thân cầu được thiết kế rất đặc biệt: vừa lên dốc vừa uốn cong vào phía thân thành rồi mềm mại xuôi xuống. Mặt trong vẫn còn hệ thống để đặt đòn quay đóng mở thủy lộ. Tấm biển "Thủy Quan" bằng đá thanh áp ngay giữa tường cầu. Tường thành trên cao có ba pháo nhãn đặt đại bác.

Trên phần tường gạch vừa cao dần vừa uốn cong ép vào tường thành còn bốn trụ đá táng mặt trên có lỗ. Điều ít ai ngờ đây là phần chống đỡ một ngôi cổ lâu có mái lợp, vừa là vọng lâu của cổng thành đường thủy vừa là pháo đài đặt ba cỗ đại bác, vừa là nơi trú náu của binh lính canh giữ, vừa là nơi có thể nghỉ ngơi của quân đội trên đường vận binh dọc Kinh thành...

Sách Đại Nam nhất thống chí ghi cầu xây dựng năm 1826 và "trên cầu đặt xưởng đại bác". Sách Đại Nam thực lục, phần định lệ canh giữ Kinh thành vào tháng 3 năm Minh Mạng thứ 8 (1827) ghi: "2 vệ Long võ hậu, Hổ oai trung quân thị nội giữ đài Tây An đến giáp đài Tây Dực, cùng lầu cửa Thủy Quan". 

Phần Quy chế thành đài ở Kinh sư trong sách Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, chép thêm: "phía tây có một thủy quan, trên đặt một lầu và một xưởng súng, mặt ngoài dài 10 trượng, mặt trong dài 20 trượng"... Sử Nguyễn cũng cho hay nguyên xưa nơi đây luôn có 20 lính túc trực canh phòng.

Hiện chưa tìm thấy hình vẽ cũng như ảnh chụp về ngôi lầu này và chưa thấy ghi chép về thời điểm lẫn nguyên do biến mất trong lịch sử. Song nó bị biến mất từ khá sớm, khoảng từ nửa cuối thế kỷ 19. Bởi lẽ mãi đến năm 1924, dấu vết còn lại cũng không rõ ràng. 

Trung tá Ardant Du Picq, trong công trình khảo cứu Những đồn lũy của Kinh thành Huế đăng trên tập san B.A.V.H. của Hội Đô thành hiếu cổ (A.A.V.H) năm 1924 đã diễn tả kỹ lưỡng về kỹ thuật xây dựng, hình dáng kiến trúc với lời khen ngợi về sự tuyệt đẹp của công trình này. Song tác giả không hề nhắc tới ngôi lầu mà sử sách nhà Nguyễn từng đề cập.

Kinh thành Huế - Ảnh 2.

Cầu Tây Thành Thủy Quan nhìn từ trên cao - Ảnh: NHẬT LINH

Chốn linh thiêng

Ngày nay người dân xa gần vẫn coi cầu Tây Thành Thủy Quan là chốn linh thiêng, thường chọn để "gửi gắm" nhiều lễ vật cúng bái. Nhiều hôm nơi đây bày rất nhiều "mâm cúng", có cau trầu, nhang đèn, hương hoa, cơm nắm, trứng luộc... 

Lẫn trong đám cỏ bụi là nhiều tự khí cũ có, mới có, gồm cả bát nhang, tranh tượng thờ, ông Địa, ông Táo..., cho dù chúng được đơn vị vệ sinh dọn dẹp liên tục. Vào những dịp sóc, vọng, những ngày vía hoặc lễ cúng cô hồn..., người đi đường dễ bắt gặp cảnh người dân đến đây thắp nhang, cúng vái.

Thực ra ngay thời xa xưa người ta vẫn xem Tây Thành Thủy Quan là chốn linh thiêng. Người phụ trách tiểu học của chính quyền thuộc Pháp tại Việt Nam H. Délétie cũng kể lại câu chuyện khó tin liên quan đến chiếc cầu Tây thành Thủy Quan, đăng trong B.A.V.H.1922: 

"Người ta kể chuyện rằng trước đây dân chúng xung quanh nửa đêm thường thấy từ trên trời có những vầng mây đỏ tuôn xuống che khuất cây cầu, họ cho đó là phúc thần giáng hạ. Do đó lễ vật dâng cúng được mang đến tấp nập từ khắp nơi để cầu của, cầu con trai, cầu sức khỏe. Sĩ tử của các kỳ thi hương không quên mang hương, đèn, hoa quả đến cúng cầu thi đỗ...".

Linh mục L.Cadière, trong bài viết về kinh đô Huế năm 1916 cũng diễn tả rất cụ thể việc cúng bái thường xuyên ở cây cầu này, do đội lính canh phòng tổ chức. Ông diễn tả: "Họ đặt trước mặt tấm đá có đề tên cầu, được xem như chỗ quy tụ âm đức thần linh một nải chuối và thắp vài cây hương. 

Người chủ lễ lạy bốn lạy rồi đứng dậy hơi cúi về phía trước, chắp hai tay, lim dim mắt, trong tư thế vô cùng kính trọng và cầu khấn tha thiết với ngài "quận công trông coi các dòng sông và cầu Thủy Quan"... Người ta rót rượu nhiều lần trong chén tích đặt vào giữa khung đá và tiếp theo lại rót trà. Người ta đốt vàng bạc cho vị thần".

"Đông Thành Thủy Quan vào đầu đời Gia Long bắc cầu gỗ gọi là Thanh Long. Năm Minh Mạng thứ 17 xây cầu gạch, dưới cầu đặt cánh cửa để tiện mở đóng, trên cầu xây lan can, cửa xưởng đại bác và đổi tên như hiện nay. Tây Thành Thủy Quan xây năm Minh Mạng thứ 7, cũng đặt cánh cửa ở dưới, trên cầu đặt xưởng đại bác và cho tên như hiện nay" - sách Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức.

----------------------

Có một nơi trong Kinh thành Huế được đắp bằng đất sạch của cả nước: 100 khiêng của Huế, 50 khiêng của Sài Gòn, 50 khiêng của Hà Nội, 50 khiêng của Biên Hòa, 50 khiêng của Thanh Hóa, 2 khiêng của Hà Tiên... Đó là đàn Xã Tắc, nơi cúng tế thần đất và thần lúa, một hoạt động thiêng liêng và quan trọng bậc nhất của hoàng triều Huế xưa.

Kỳ tới: Một biểu tượng của đất nước thống nhất

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 3: Pháo đài cầu - Ảnh 3.Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 2: Tham vọng Kinh thành phồn hoa đô hội

Khơi sông, xây cầu và xây dựng hàng trăm nhà phố, lệnh cho dân kinh doanh khắp xứ về Kinh thành buôn bán. Vua Minh Mạng có tham vọng biến sông Vua thành nơi tấp nập ghe thuyền, Kinh thành là nơi phố thị sầm uất…