Hiển thị các bài đăng có nhãn di tích. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn di tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2025

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 3: Pháo đài cầu

 Thời sự Phóng sự

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 26/05/2025 10:16

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 3: Pháo đài cầu

Vừa là cầu vừa là pháo đài, Đông - Tây Thành Thủy Quan là hai cụm kiến trúc đặc biệt nằm hai đầu sông Vua băng ngang Kinh thành. Chúng đều nằm trung tâm của hai cụm phòng thủ trọng yếu của triều đình xưa.

Kinh thành Huế - Ảnh 1.

Cầu Đông Thành Thủy Quan, còn gọi là cầu Lương Y, với 13 pháo nhãn đặt đại bác trên thành cầu - Ảnh: THÁI LỘC

Pháo đài cầu

Tháng 6-2020, khi các nhà dân xây trên thượng thành được giải tỏa, hai cửa vòm nhỏ trên hai bức tường thành hai bên cầu Đông Thành Thủy Quan đã lộ ra, giới quan tâm mới chú ý đến sự đặc biệt về cụm công trình quân sự quan yếu này. Nằm ở trung tâm của cả cụm công trình là "pháo đài cầu" Đông Thành Thủy Quan.

Cầu vòm Đông Thành Thủy Quan bắc qua đoạn cuối sông Ngự Hà, dài gần 68m, thân xây bằng gạch, vòm thông thủy bằng đá thanh. Hai lan can xây gạch trát vữa chênh lệch nhau: lan can phía ngoài thành cao 1,5m và trên mình nó có 13 pháo nhãn để đặt đại bác; còn lan can phía trong thành cao 1,05m. 

Mặt trong thân cầu là hai trụ đá thanh xếp chồng nằm hai bên lối thông thủy, có gờ âm và bên trên khoét lõm dùng để đặt đòn quay đóng mở cánh cửa thủy lộ bên dưới.

Theo văn bia về Ngự Hà - ngự chế của hoàng đế Minh Mạng, cầu vốn làm bằng gỗ vào năm 1808, có tên là Thanh Long. Đến năm 1831, vua cho xây bằng gạch đá, đặt tên Đông Thành Thủy Quan: "Tháng tư năm Minh Mạng thứ 11 lại thấy ở chỗ Ngự Hà chảy về phía đông ra ngoài Kinh thành, nguyên có chiếc cầu gỗ tên là cầu Thanh Long, cũng sai thay bằng đá. 

Dưới cầu đặt cánh cửa làm cửa quan. Trên cầu, ở lan can bảo vệ trổ ra 13 cửa dùng để bắn súng đại bác. Cầu được đổi tên Đông Thành Thủy Quan".

Sử liệu triều Nguyễn cho biết ngày xưa cây cầu với 13 khẩu đại bác đặt trên thành cầu phía đông. Cùng với pháo đài Đông Vĩnh lẫn đoạn tường thành tiếp giáp pháo đài Đông Phụ là do vệ Tiền Bảo nhị của Tiền Quân và vệ Hậu Bảo nhất của Hậu Quân canh giữ. 

Theo điển chế nhà Nguyễn, vào khoảng 9h tối, sau hai phát súng hiệu, cánh cổng gỗ sẽ được hạ xuống đóng kín. Đến gần 5h sáng, cũng sau hai phát súng hiệu, cánh cổng thủy quan được kéo lên để thuyền bè lưu thông.

Thực địa tại khu vực này khoảng năm 1924, trung tá Ardant Du Picq cho rằng cùng với 13 khẩu đại bác trên cầu, hai cửa vòm hai bên cầu (xuất lộ 2020) khả năng cũng là nơi đặt hai khẩu đại bác. 

Gần đó là hai pháo đài Đông Vĩnh và Đông Phụ cũng được thiết kế bố trí rất nhiều pháo nhãn đặt đại bác, để phối hợp hỗ trợ pháo đài trung tâm là cầu Đông Thành Thủy Quan, đúng với tính chất phòng thủ đặc biệt trọng yếu tại cổng thủy lộ vào ra Kinh thành.

Kiến trúc độc đáo

Nằm giữa đoạn Kinh thành phía tây và ngay trên thủy lộ Ngự Hà chảy vào Kinh thành là "pháo đài cầu" Tây Thành Thủy Quan, một kiến trúc đặc biệt của hệ thống phòng thủ Huế xưa. Mặc dù cái lô cốt xây từ thời chống Mỹ đen sì, nằm án ngữ ngay giữa trên của cầu. 

Song vẻ đẹp và sự độc độc đáo của kiến trúc này vẫn đáng được khách xa chiêm ngưỡng. Bên dưới là lối thông thủy là một vòm đá. Bên trên, đường đi và lan can của thân cầu được thiết kế rất đặc biệt: vừa lên dốc vừa uốn cong vào phía thân thành rồi mềm mại xuôi xuống. Mặt trong vẫn còn hệ thống để đặt đòn quay đóng mở thủy lộ. Tấm biển "Thủy Quan" bằng đá thanh áp ngay giữa tường cầu. Tường thành trên cao có ba pháo nhãn đặt đại bác.

Trên phần tường gạch vừa cao dần vừa uốn cong ép vào tường thành còn bốn trụ đá táng mặt trên có lỗ. Điều ít ai ngờ đây là phần chống đỡ một ngôi cổ lâu có mái lợp, vừa là vọng lâu của cổng thành đường thủy vừa là pháo đài đặt ba cỗ đại bác, vừa là nơi trú náu của binh lính canh giữ, vừa là nơi có thể nghỉ ngơi của quân đội trên đường vận binh dọc Kinh thành...

Sách Đại Nam nhất thống chí ghi cầu xây dựng năm 1826 và "trên cầu đặt xưởng đại bác". Sách Đại Nam thực lục, phần định lệ canh giữ Kinh thành vào tháng 3 năm Minh Mạng thứ 8 (1827) ghi: "2 vệ Long võ hậu, Hổ oai trung quân thị nội giữ đài Tây An đến giáp đài Tây Dực, cùng lầu cửa Thủy Quan". 

Phần Quy chế thành đài ở Kinh sư trong sách Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, chép thêm: "phía tây có một thủy quan, trên đặt một lầu và một xưởng súng, mặt ngoài dài 10 trượng, mặt trong dài 20 trượng"... Sử Nguyễn cũng cho hay nguyên xưa nơi đây luôn có 20 lính túc trực canh phòng.

Hiện chưa tìm thấy hình vẽ cũng như ảnh chụp về ngôi lầu này và chưa thấy ghi chép về thời điểm lẫn nguyên do biến mất trong lịch sử. Song nó bị biến mất từ khá sớm, khoảng từ nửa cuối thế kỷ 19. Bởi lẽ mãi đến năm 1924, dấu vết còn lại cũng không rõ ràng. 

Trung tá Ardant Du Picq, trong công trình khảo cứu Những đồn lũy của Kinh thành Huế đăng trên tập san B.A.V.H. của Hội Đô thành hiếu cổ (A.A.V.H) năm 1924 đã diễn tả kỹ lưỡng về kỹ thuật xây dựng, hình dáng kiến trúc với lời khen ngợi về sự tuyệt đẹp của công trình này. Song tác giả không hề nhắc tới ngôi lầu mà sử sách nhà Nguyễn từng đề cập.

Kinh thành Huế - Ảnh 2.

Cầu Tây Thành Thủy Quan nhìn từ trên cao - Ảnh: NHẬT LINH

Chốn linh thiêng

Ngày nay người dân xa gần vẫn coi cầu Tây Thành Thủy Quan là chốn linh thiêng, thường chọn để "gửi gắm" nhiều lễ vật cúng bái. Nhiều hôm nơi đây bày rất nhiều "mâm cúng", có cau trầu, nhang đèn, hương hoa, cơm nắm, trứng luộc... 

Lẫn trong đám cỏ bụi là nhiều tự khí cũ có, mới có, gồm cả bát nhang, tranh tượng thờ, ông Địa, ông Táo..., cho dù chúng được đơn vị vệ sinh dọn dẹp liên tục. Vào những dịp sóc, vọng, những ngày vía hoặc lễ cúng cô hồn..., người đi đường dễ bắt gặp cảnh người dân đến đây thắp nhang, cúng vái.

Thực ra ngay thời xa xưa người ta vẫn xem Tây Thành Thủy Quan là chốn linh thiêng. Người phụ trách tiểu học của chính quyền thuộc Pháp tại Việt Nam H. Délétie cũng kể lại câu chuyện khó tin liên quan đến chiếc cầu Tây thành Thủy Quan, đăng trong B.A.V.H.1922: 

"Người ta kể chuyện rằng trước đây dân chúng xung quanh nửa đêm thường thấy từ trên trời có những vầng mây đỏ tuôn xuống che khuất cây cầu, họ cho đó là phúc thần giáng hạ. Do đó lễ vật dâng cúng được mang đến tấp nập từ khắp nơi để cầu của, cầu con trai, cầu sức khỏe. Sĩ tử của các kỳ thi hương không quên mang hương, đèn, hoa quả đến cúng cầu thi đỗ...".

Linh mục L.Cadière, trong bài viết về kinh đô Huế năm 1916 cũng diễn tả rất cụ thể việc cúng bái thường xuyên ở cây cầu này, do đội lính canh phòng tổ chức. Ông diễn tả: "Họ đặt trước mặt tấm đá có đề tên cầu, được xem như chỗ quy tụ âm đức thần linh một nải chuối và thắp vài cây hương. 

Người chủ lễ lạy bốn lạy rồi đứng dậy hơi cúi về phía trước, chắp hai tay, lim dim mắt, trong tư thế vô cùng kính trọng và cầu khấn tha thiết với ngài "quận công trông coi các dòng sông và cầu Thủy Quan"... Người ta rót rượu nhiều lần trong chén tích đặt vào giữa khung đá và tiếp theo lại rót trà. Người ta đốt vàng bạc cho vị thần".

"Đông Thành Thủy Quan vào đầu đời Gia Long bắc cầu gỗ gọi là Thanh Long. Năm Minh Mạng thứ 17 xây cầu gạch, dưới cầu đặt cánh cửa để tiện mở đóng, trên cầu xây lan can, cửa xưởng đại bác và đổi tên như hiện nay. Tây Thành Thủy Quan xây năm Minh Mạng thứ 7, cũng đặt cánh cửa ở dưới, trên cầu đặt xưởng đại bác và cho tên như hiện nay" - sách Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức.

----------------------

Có một nơi trong Kinh thành Huế được đắp bằng đất sạch của cả nước: 100 khiêng của Huế, 50 khiêng của Sài Gòn, 50 khiêng của Hà Nội, 50 khiêng của Biên Hòa, 50 khiêng của Thanh Hóa, 2 khiêng của Hà Tiên... Đó là đàn Xã Tắc, nơi cúng tế thần đất và thần lúa, một hoạt động thiêng liêng và quan trọng bậc nhất của hoàng triều Huế xưa.

Kỳ tới: Một biểu tượng của đất nước thống nhất

Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 3: Pháo đài cầu - Ảnh 3.Chuyện lạ Kinh thành Huế - Kỳ 2: Tham vọng Kinh thành phồn hoa đô hội

Khơi sông, xây cầu và xây dựng hàng trăm nhà phố, lệnh cho dân kinh doanh khắp xứ về Kinh thành buôn bán. Vua Minh Mạng có tham vọng biến sông Vua thành nơi tấp nập ghe thuyền, Kinh thành là nơi phố thị sầm uất…

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

Vụ phá hoại bia yểm ở Hội An: Có người lạ đến miếu, xuất hiện tiếng búa vọng giữa đêm

 Văn hóa

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 01/04/2025 19:46

Vụ phá hoại bia yểm ở Hội An: Có người lạ đến miếu, xuất hiện tiếng búa vọng giữa đêm

Trong báo cáo về vụ phá hoại bia yểm thủy đạo liên quan đến di tích Chùa Cầu Hội An, đơn vị quản lý di sản nói có người lạ xuất hiện ở miếu giữa đêm khuya. Người dân có nghe tiếng búa vọng lên.

Hội An - Ảnh 1.

Các dòng chữ trên bia bị tẩy xóa có chủ đích - Ảnh: B.D.

"Thông tin bước đầu thu thập từ người dân, khoảng 6h ngày 31-3, khi có người ghé thắp hương tại bia di tích thì phát hiện bia đá đã bị phá hoại.

Lúc 1-2h sáng cùng ngày có người thấy một xe máy để trên lề đường Phan Châu Trinh, cạnh cây đa. Một lúc sau thì có tiếng búa gõ vọng lên" - báo cáo của Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An đề cập.

Bia di tích cổ ở Hội An bị phá

Theo Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An, sáng 1-4, đơn vị này cùng chính quyền địa phương đến địa chỉ tại 98A Phan Châu Trinh (Cẩm Phô) khảo sát.

Tại đây, đoàn ghi nhận di tích bia yểm thủy đạo đã bị phá hoại.

Hiện trạng các chữ và hình chạm khắc trên mặt bia đá đã bị đục phá và gây hư hại gần như hoàn toàn. Sau khi khảo sát, các đơn vị quản lý đã thông tin đến Công an phường Cẩm Phô.

Đơn vị này cử lực lượng đến hiện trường nắm tình hình, thu thập thông tin. Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An đang phối hợp cung cấp thông tin liên quan đến di tích để cơ quan công an điều tra.

Hội An - Ảnh 2.

Tấm đá khắc chữ chìm đặt dưới gốc đa, bên cạnh bia đá - Ảnh: B.D.

Bia yểm thủy ở Hội An có giá trị ra sao?

Đề cập thông tin về bia yểm thủy, Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An cho biết bia yểm thủy đạo nằm trong khu vực bảo vệ I của di tích cấp quốc gia đặc biệt - di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An. Di tích được phân loại giá trị bảo tồn loại I, hình thức sở hữu nhà nước.

Tấm bia đá đặt bên trong một am thờ nhỏ xây bằng gạch, nằm trong lòng gốc cây đa cổ thụ - cây đa này cũng đã được thành phố Hội An ghi vào danh mục cây cổ thụ được bảo vệ từ năm 2014.

Mặt bia quay về hướng bắc. Trên mặt bia khắc chữ Hán Nôm và hình các đạo bùa, cụ thể:

Từ trên xuống dưới, nơi sát trán bia khắc ba vòng tròn, vòng tròn ở giữa nhỏ hơn hai bên, được phân bố khá cân đối.

Ở giữa gồm ba phần, bên dưới vòng tròn chính giữa có hàng chữ Hán khắc sâu: (Bắc Đế sắc lệnh lập cực ngự phong yểm thủy đạo).

Dưới vòng tròn bên phải tấm bia (từ ngoài nhìn vào) khắc hình sao Bắc Đẩu thẳng đứng dọc theo thân bia gồm bảy vòng tròn nối với nhau bằng các vạch thẳng.

Ở mỗi vòng tròn khắc tên các vì sao tính từ trên xuống bằng chữ Nôm phiên âm là: Phiêu, Phủ, Tất, Hành, Quyền, Thước, Đẩu. Dưới vòng tròn bên trái khắc hai vòng tròn nối với nhau bằng một vạch thẳng. Tiếp về dưới dọc theo thân bia là hàng chữ: (Án ma ni bát mê hồng).

Phần dưới cùng khắc 3 đạo bùa, chiếc ở giữa hình vuông cạnh 19cm x 20cm, hai lá hai bên nhỏ hơn hình chữ nhật, kích thước 10cm x 20cm. Đạo bùa bên trái (từ ngoài nhìn vào) có các chữ Hán bị mờ. Đạo bùa bên phải có các chữ

Hán: (Hỏa, Mộc, Thổ). Dưới cùng của tấm bia là 3 chữ: (Thái Nhạc Sơn) trải hết chiều rộng bia.

Nhiều nhà nghiên cứu nhận định tấm bia này dùng để trấn thủy và có mối liên hệ với tín ngưỡng thờ thần Bắc Đế Trấn Vũ tại di tích Chùa Cầu.

Hội An - Ảnh 3.

Phần rễ*** cây đan bao trùm lên bia, người dân hay ghé tới thắp hương và coi sóc - Ảnh: B.D.

Như Tuổi Trẻ Online đã thông tin, trưa 1-4 hiện trường nơi gốc đa nằm trên đường Phan Chu Trinh (sát phố cổ Hội An) có nhiều nhân viên bảo vệ an ninh khu phố canh giữ hiện trường.

Công an đã tới thu thập thông tin ban đầu và xác định bia trấn thủy nằm dưới gốc cây đa cổ thụ đã bị người lạ phá hoại, tẩy xóa phần chữ trên bia.

Vụ phá hoại bia yểm ở Hội An: Có người lạ đến miếu, xuất hiện tiếng búa vọng lên giữa đêm - Ảnh 4.Bia đá trấn yểm liên quan Chùa Cầu Hội An bị phá, công an vào cuộc

Bia đá cổ dưới gốc cây đa gần Chùa Cầu Hội An bị tẩy xóa. Công an đang điều tra nguyên nhân. Người dân coi đây là nơi linh thiêng, thường xuyên chăm sóc và hương khói.


Thứ Ba, 19 tháng 3, 2024

UNESCO phúc đáp về hồ sơ Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc

 

UNESCO phúc đáp về hồ sơ Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc

Nguyễn Quý  19/03/2024 07:26

Theo đánh giá của UNESCO, hồ sơ đề cử Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc đáp ứng tất cả các yêu cầu kỹ thuật được hướng dẫn thực hiện công ước Di sản thế giới.

Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) vừa có văn bản phúc đáp về hồ sơ đề cử Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc công nhận và ghi vào danh mục Di sản thế giới.

dji_0136.jpg
Chùa Đồng nằm trong Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử.

Sau thời gian dài xây dựng, chuẩn bị, hoàn thiện, ngày 26/1/2024, hồ sơ khoa học Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc đã được trình lên UNESCO để xét công nhận là Di sản thế giới.

UBND tỉnh Quảng Ninh chủ trì, phối hợp với UBND 2 tỉnh Bắc Giang, Hải Dương triển khai công tác xây dựng hồ sơ khoa học Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc trình UNESCO công nhận là di sản thế giới. Bộ hồ sơ gồm 2.139 trang tài liệu bản tiếng Việt và bản dịch tiếng Anh, 101 sơ đồ, bản đồ, 196 bản vẽ kiến trúc, 260 bản vẽ khảo cổ, 1.141 bản ảnh, tái hiện các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, di sản phi vật thể, vật thể và kế hoạch quản lý tổng thể trên phạm vi 3 tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang.

Đây là hồ sơ khoa học đệ trình có nhiều tiêu chí theo Công ước 1972, vừa nghiên cứu, vừa chứng minh, vừa viết với tiến độ nhanh, tích cực, khẩn trương. Để chứng minh, tuyên bố, khẳng định giá trị của quần thể, 3 tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương đã đồng thời chỉ đạo triển khai phương pháp nghiên cứu, chứng minh, tổng hợp, làm rõ và viết câu chuyện về giá trị quần thể di tích. Trong đó, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hội nghị quốc tế xác định giá trị nổi bật toàn cầu của quần thể di tích Yên Tử, triển khai các chuyên đề nghiên cứu khoa học, thu thập, tổng hợp tài liệu, tổ chức khai quật, khảo cổ.

Hồ sơ tập trung hơn 100 chuyên gia trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu, viết hồ sơ và mời chuyên gia quốc tế khảo sát, làm việc với chuyên gia trong nước xây dựng hồ sơ, trong đó, nhiều chuyên gia hàng đầu của Hội Khảo cổ học Việt Nam, UNESCO, Trung tâm Karst và Di sản địa chất...

Đây là hồ sơ di sản đầu tiên ở Việt Nam theo chuỗi 18 cụm di sản với 32 điểm di tích tại liên tỉnh, địa bàn rộng lớn, địa hình đồi núi phức tạp.

Tại văn bản phúc đáp, UNESCO cũng đề nghị cung cấp bổ sung các hình ảnh về quần thể di tích theo đúng kích cỡ, tiêu chuẩn, quy định. Hồ sơ cũng sẽ được gửi đồng thời tới Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế (ICOMOS). Trên cơ sở đánh giá hồ sơ, các cơ quan của UNESCO sẽ cử đoàn chuyên gia tới khảo sát, đánh giá thực tế.

Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc gồm 6 khu di tích quốc gia đặc biệt và 32 điểm di tích được khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt theo Luật Di sản văn hóa.

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

Sức quyến rũ kỳ lạ của những thành phố đã mất trong huyền thoại Angkor

 Sức quyến rũ kỳ lạ của những thành phố đã mất trong huyền thoại Angkor

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,’Nụ cười Bayon’, có từ thế ký 12, vẫn tỏa sáng từ ngay giữa khu đền Angkor của Campuchia

Mặt trời chiều muộn phủ bóng dài trên hàng trăm mặt đá được khắc vào Đền Bayon khi tôi cố gắng đi sâu hơn vào thánh tích thế kỷ 12 ở ngay giữa khu đền Angkor trải rộng của Campuchia.

Những hình ảnh đê mê nổi lên từ những chiếc tháp và các bức tường, mỗi hình tượng có đôi môi đầy đặn uốn cong thành nụ cười nhức nhối.

‘Thành phố trong mơ’

Đó là ngày đầu tiên của tôi ở Angkor, và lúc đó tôi hầu như không biết gì về lịch sử của thành phố.

Nhưng bước lang thang từ đền này sau đền khác, tôi dễ dàng rơi vào cơn mơ màng giàu tưởng tượng.

Trong đầu tôi hình dung ra đông đảo tín đồ mang theo những lễ vật tươi sáng. Tiếng đục vang lên khi các nghệ nhân sáng tạo những kiệt tác tuyệt mỹ xung quanh tôi, trong khi các vị vua oai phong diễu hành qua những con đường rộng lớn trải dài với những bức tượng.

“Vì lý do tại sao một nơi nào đó không còn tồn tại, nó có thể được biến thành thành phố lý tưởng, thành phố trong mơ,” Aude de Tocqueville viết trong cuốn sách của bà hồi năm 2014 ‘Atlas các thành phố đã mất: Hướng dẫn du lịch đến các địa điểm bị bỏ hoang’. “Do đó, thành phố đã mất là thơ ca, thế giới mơ ước và là bối cảnh cho đam mê và bước đi lang thang của chúng tôi.”

Thật vậy, những nơi mất tích và bị bỏ hoang có sức hút mạnh mẽ đối với trí tưởng tượng. Chúng là chất gây nghiện cho những người đam mê xê dịch, khơi gợi một cảm giác phiêu lưu vốn nuôi dưỡng các cuộc thám hiểm vĩ đại và những câu chuyện to lớn.

Chúng ta thấy cuộc sống của mình phản ánh trên đá, hãy tưởng tượng những bộ phim ngôn tình mà chúng ta đã xem trong bối cảnh lãng mạn, đổ nát. Và nếu thảm họa treo lơ lửng trên nhiều thành phố mất tích, thậm chí thời gian trôi qua làm nó dịu đi.

“Trong có lẽ hàng ngàn năm, mọi người đã kể những câu chuyện phiêu lưu về những miền đất kịch tính ngoài biên giới chúng ta – những câu chuyện về nền văn minh cổ đại,” Annalee Newitz, tác giả của ‘Bốn thành phố đã mất: Lịch sử bí mật của Kỷ nguyên Đô thị’, nói.

Cuốn sách nhảy qua các lục địa và các thiên niên kỷ, trình bày về bốn địa điểm cổ xưa như những bài học đối tượng trong cuộc sống đô thị: Angkor của Campuchia; thành phố Cahokia người Mỹ bản địa; thành phố Pompei của La Mã; và Çatalhöyük thời Đồ Đá Mới ở Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

Biện minh cho chủ nghĩa thực dân

Trong khi các mạch truyện về thành phố đã mất làm nên những câu chuyện du lịch cuốn hút, Newitz lập luận rằng chúng thường che khuất những câu chuyện thật sự đằng sau những nơi tráng lệ nhất của nhân loại.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Những cách diễn giải thời hiện đại thường che khuất đi những câu chuyện thực sự đằng sau các địa điểm huy hoàng nhất mà con người từng xây dựng được từ thời xa xưa

Điều đó đã xảy ra ở Angkor, nơi tôi dành những buổi chiều đầy nắng ở giữa đống đổ nát.

Newitz giải thích rằng thành phố này thực sự có người sinh sống khi nhà thám hiểm người Pháp Henri Mouhot đặt chân đến vào năm 1860 – thực sự nó chưa bao giờ bị bỏ hoang phế hoàn toàn – nhưng du khách không thể tưởng tượng được tổ tiên của người Campuchia có khả năng tạo dựng công trình hùng vĩ như vậy.

“Ngay từ cái nhìn đầu tiên, người ta tràn đầy sự ngưỡng mộ sâu sắc, và không thể không hỏi điều gì đã tạo nên dân tộc hùng mạnh này, rất văn minh, rất khai sáng, tác giả của những công trình vĩ đại này?” Mouhot viết về khu thành quách trải rộng trong rừng này.

Ông suy đoán Angkor được người Hy Lạp hoặc Ai Cập cổ đại xây dựng. Tại Pháp, Newitz giải thích, chuyến thăm của ông được ca ngợi là ‘khám phá’.

“Những câu chuyện thành phố mất tích đã trở nên hết sức phổ biến trong thời hiện đại – bắt đầu từ thế kỷ 19 hoặc thế kỷ 18 – bởi vì chúng thật sự là cách tốt để che giấu chủ nghĩa thực dân.” Newitz nói. “Nó cho phép biện minh cho tất cả các cuộc xâm nhập thuộc địa. Họ sẽ nói rằng ‘đây không phải là nền văn minh tự thân nó phát huy được. Và bằng chứng chúng ta thấy từ đây là dân tộc này đã xa lìa một quá khứ vĩ đại, bí ẩn nào đó mà nay đã biến mất.”

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Sau khi núi lửa Mount Vesuvius phun trào, người dân Pompei đã tái thiết nơi ở mới tại địa điểm gần thành phố đã bị thiêu hủy

Tìm kiếm các thành phố và nền văn minh mất tích là nỗi ám ảnh đối với một số nhà thám hiểm và thực dân châu Âu.

Sự mê đắm của họ được thúc đẩy một phần bởi cuộc tìm kiếm thành phố đã mất nổi tiếng nhất trong lịch sử: quốc đảo Atlantis, lần đầu tiên xuất hiện trong ghi chép của Plato.

Atlantis hư cấu của ông đã có thời thịnh vượng trước khi sự suy đồi đạo đức khiến nó bị Thượng Đế trừng phạt.

Những người cùng thời của ông sẽ công nhận câu chuyện là một câu chuyện ngụ ngôn, nhà sử học cổ đại Greg Woolf, tác giả cuốn ‘Cuộc sống và Cái chết của Các thành phố Cổ xưa: Lịch sử Tự nhiên’, nói.

“Kề về một huyền thoại để minh họa sự thật to tát hơn là điều đã được hiểu rộng rãi,” Woolf nói. “Tôi không nghĩ có ai đó nghiêm túc tin rằng Atlantis có thật, nhưng đó là một huyền thoại tiện nghi.” Tuy nhiên, khi những trang viết của Plato về Atlantis được phát hành trong các bản dịch hiện đại, nó đã đến được với những độc giả cả tin hơn.

Phủ nhận sự thật

“Mọi người đã đọc điều này cùng lúc với việc thành lập các thuộc địa ở Tân Thế giới,” nhà cổ điển học Edith Hall giải thích trong một cuộc phỏng vấn gần đây với chương trình History Extra Podcast của BBC.

Hiểu lầm tác phẩm của Plato, nhiều người đọc câu chuyện ngụ ngôn này theo nghĩa đen, Hall nói. “Nó đánh động tâm trí của họ. Mọi người đều nói Atlantis phải là ở Mỹ.”

Khi những người định cư châu u đó gặp các nền văn minh bản địa, Newitz viết, họ cố gắng để kết nối nó với một quá khứ bí ẩn, và thường bỏ qua những người dân rất thật vào thời đó.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Vào năm 1050 sau Công nguyên, người Mỹ bản địa đã xây dựng đô thị Cahokia, có diện tích lớn hơn Paris

Đó là những gì đã xảy ra ở Cahokia, một đô thị cổ nằm gần thành phố St Louis ngày nay của Mỹ.

Những gò đất cao ngất ở đó có thể sánh ngang với các kim tự tháp Ai Cập về chiều cao, và vào thời kỳ đỉnh cao của nó vào năm 1050 sau Công nguyên, thành phố Cahokia còn lớn hơn Paris. Những người mới đến từ châu u sẽ cảm thấy khó chấp nhận điều này.

“Du khách và nhà thám hiểm sẽ tự kể cho mình tất cả những câu chuyện điên rồ, giống như phải là những người Ai Cập cổ đại đã đến đây để xây dựng những thứ này,” Newitz cho biết.

Đó là huyền thoại để biện minh cho việc đánh cắp các vùng đất bản địa vốn được mô tả rộng rãi là ‘không có một bóng người’, họ giải thích.

Trong khi đó, cũng giống như ở Angkor, hậu duệ của những người đã xây nên Cahokia đã bị phủ nhận rằng họ không có khả năng xây những công trình như vậy.

Khởi đầu mới

Những câu chuyện về các thành phố đã mất cũng có thể che đậy những sự thật khác, Newitz viết, chẳng hạn như cách người cổ đại hồi sinh trở lại khi họ bỏ lại một nơi ở phía sau.

Thảm họa và sự sụp đổ thường được cho là sự chấm hết, nhưng ở Pompeii và Çatalhöyük, Newitz tìm thấy tia sáng của khởi đầu mới giữa những biến động xã hội.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Hơi nóng khủng khiếp từ núi lửa phụt ra đã biến Pompeii thành một khu nghĩa địa hồi năm 79 sau Công nguyên

Sau khi khí núi lửa quá nóng biến Pompeii thành nghĩa địa vào năm 79 sau Công nguyên, người Pompei đau thương ngay lập tức bắt đầu xây dựng lại cuộc sống mới ở Naples và Cumae gần đó.

Dẫn lại tác phẩm của nhà cổ điển học Steven Tuck, Newitz kể rằng nhiều người tị nạn mà các nhà sử học biết đến có tên gọi vốn đánh dấu họ là liberti, tức nô lệ được giải phóng.

Mặc các quy ước đặt tên La Mã thường bảo thủ, giữ một tên từ thế hệ này qua thế hệ khác, Tuck đã quan sát thấy một xu hướng thú vị trong các gia đình tị nạn Pompei. Bỏ đi tên cũ của họ, một số người đã chọn gọi tên con cái của họ theo những địa điểm mới mà họ đã đến, chẳng hạn như thị trấn cảng tấp nập Puteoli. Ở đó, một số gia đình mới đến đặt tên cho con trai của họ là Puteolanus.

Nó giống như chuyển đến London từ một trại tị nạn và gọi con bạn là ‘Londoner’ vậy, Tuck giải thích với tôi qua email. “Việc chuyển đi đã cho họ cơ hội này và họ đã nắm bắt.”

Và trong chính các thành phố đang suy tàn này, Newitz cho thấy những con người có quyền tự chủ sống động, không phải là người xưa bị trói buộc vào sự tùy tiện của lịch sử.

Đó là điều họ nhìn thấy trong tàn tích của Çatalhöyük, khu định cư thời đồ đá mới vốn cực thịnh vào 9.000 năm trước trên đồng bằng Konya ở miền trung Thổ Nhĩ Kỳ.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Çatalhöyük là khu định cư Thời Đồ Đá Mới, rất thịnh vượng hồi 9.000 năm trước

Những ngôi nhà ở đó nằm sát rạt với nhau như các ô trong tổ ong, họ viết trong sách, với những lối đi hướng lên mái nhà và lối vào qua trần nhà.

Vào những buổi tối ấm áp, cư dân tụ tập trên mái nhà, cùng nhau nấu nướng và làm đồ thủ công. Nhưng bất chấp mọi chất men sáng tạo của cuộc sống thành phố, đó là sự đánh đổi. Theo thời gian, ở lại Çatalhöyük trở nên khó khăn hơn: khí hậu trở nên bất lợi hơn và căng thẳng xã hội tăng lên.

Ký ức vẫn còn

Trong khi nhiều câu chuyện về thành phố mất tích nghe mơ hồ và huyền ảo, Newitz khắc họa việc từ bỏ những nơi như Çatalhöyük là kết quả của một quá trình có lý do chính đáng.

Theo thời gian, dân Çatalhöyük chỉ đơn giản là chọn quay trở lại những nơi thôn dã hơn, một quá trình quen thuộc với bất kỳ cư dân thành thị nào ngày nay, vốn kéo xuống một cách thèm thuồng danh sách rao bán nhà cửa gợi lên cuộc sống thôn dã.

“Chúng tôi sẽ đi tìm một nơi tốt hơn và thử lại, thử thí nghiệm mới, thử xây dựng khác đi, thử sống khác đi,” Newitz nói, gợi lại những cuộc nói chuyện có thể đã diễn ra xung quanh lò sưởi thời đồ đá mới. Các nhà rời đi từng nhà một, đến khi cuối cùng Çatalhöyük không còn ai.

Nhưng khi cư dân rời đi, mỗi người lấy đi những gì quan trọng nhất đối với họ. Nghệ thuật, ý tưởng và văn hóa vật chất tỏa ra khắp vùng đồng bằng Konya khi các gia đình xây dựng cuộc sống mới cách xa những khu dân cư đông đúc.

Mặc dù Cahokia và nhiều thành phố khác có thể bị bỏ hoang, nhưng theo nghĩa quan trọng, đối với chúng ta, chúng hoàn toàn không bị mất đi.

“Chúng ta vẫn còn tất cả những ký ức văn hóa về nhưng nơi chúng ta đã sống,” Newitz nói. “Đó là sự tiếp nối liên tục, xuyên suốt.”

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

Chặt bỏ cây đa ở đình Chèm: Tùy tiện trong ứng xử với di sản

Chặt bỏ cây đa ở đình Chèm: Tùy tiện trong ứng xử với di sản

SGGP 
Ngỡ ngàng và phẫn nộ là cảm giác đầu tiên khi phải đối mặt với phần còn lại của gốc đa khổng lồ nằm ngay trước đình Chèm - Di tích cấp quốc gia đặc biệt (quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội). Bộ rễ nhô lên mặt đất tạo thành một vầng lớn với đường kính cỡ 2m, vết chặt đỏ au, vẫn còn rất mới…

Tin liên quan

Không phải tự phát

Nằm ven bờ sông Hồng, đình Chèm là một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam thờ Thượng đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng (Đức Thánh Chèm). Trải qua thời gian, đình đã nhiều lần được tu sửa, song kiến trúc của đình Chèm vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn.

Thông tin về việc cây đa lớn nằm ngay phía ngoài cổng đình bị chặt hạ đã khiến nhiều người yêu di sản bức xúc, lo lắng cho ngôi đình cổ được khởi dựng hơn 2.000 năm. Cây đa uy nghi nơi cổng đình là một trong những điểm nhấn khó quên với mỗi người khi đến với Di tích quốc gia đặc biệt đình Chèm, bởi vậy nhìn hình ảnh cây đa bị chặt chỉ còn trơ gốc khiến nhiều người không khỏi ngỡ ngàng, phẫn nộ.

Nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Nguyễn Quang Long cho hay: “Những cây lớn mọc trong khu vực đình, đền, phủ, chùa... là một nét đặc trưng góp phần tạo nên văn hóa cảnh quan của người Việt. Riêng với đình Chèm, một di tích lịch sử đã được xếp hạng, trong tâm thức của nhiều người dân Hà Nội, là một trong những chốn linh thiêng. Song, việc chặt một cây lớn có giá trị gắn liền với một di tích mang yếu tố tâm linh (cây đa lại ở bên đình) không thể là việc làm tự phát của một cá nhân. Vậy nên, cần có giải thích, hoặc câu trả lời rõ ràng từ địa phương”. 

Chặt bỏ cây đa ở đình Chèm: Tùy tiện trong ứng xử với di sản  ảnh 1Cây đa bị chặt hạ chỉ còn trơ gốc rễ

Thông tin về cây đa này, ông Nguyễn Mạnh Thìn, Trưởng ban Khánh tiết đình Chèm, cho biết, cây đa có hiện tượng nghiêng 25 độ về phía nghi môn nội (tàu tượng) và nghi môn ngoại (cột đồng trụ) của đình Chèm, có nguy cơ gãy đổ bất cứ lúc nào trong mùa mưa bão. Do tâm lý lo sợ mùa mưa bão tới gần, cây sẽ gây nguy hiểm nên ngày 18-3, cây đa trước cổng nghi môn đình Chèm bị chặt hạ.

Theo tìm hiểu của phóng viên, việc đề nghị chặt hạ cây đa này bắt đầu từ năm 2021, với những đề nghị của ban Tế tự, ban Khánh tiết đình Chèm gửi lên các cấp chính quyền.

Tháng 7-2021, trong biên bản kiểm tra hiện trạng di tích, bà Nguyễn Thị Thanh Loan, Phó Chủ tịch UBND phường Thụy Phương đã ghi nhận và hứa sẽ trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. Tuy nhiên, bà Loan cũng đề nghị, trong khi chờ ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền quyết định, Ban Khánh tiết đình Chèm giữ nguyên trạng cây đa trước nghi môn, không tự ý chặt hạ cây. Nhưng sự việc vẫn xảy ra.

Đặt di sản lên trên hết

Vụ việc tự ý chặt hạ cây đa trước cổng đình Chèm được phát hiện trong quá trình di tích đang tiến hành tu sửa cấp thiết. Trên tấm pano về dự án được trưng ngay tại đình không chỉ nói rõ về quy mô đầu tư với các hạng mục tu sửa, mà hình ảnh tổng thể của đình vẫn còn nguyên cây đa lớn ở phía trước.

Xót xa cho di sản, TS Nguyễn Hồng Kiên, người nhiều năm nghiên cứu về đình cổ, cho biết đã nhiều lần ông đến đình Chèm và những hình ảnh về cây đa ở di tích gây ấn tượng mạnh. Theo ông, một cái cây lớn đã tồn tại 20 năm ở một di tích đặc biệt quan trọng như vậy thì mỗi tác động dù lớn hay nhỏ đều phải cân nhắc kỹ và không thể tùy tiện chặt bỏ. 

Cũng liên quan tới việc chặt bỏ cây trong di tích, năm 2009, trong quá trình tu bổ, tôn tạo di tích đền Voi Phục, để loại bỏ hai cây bồ kết đã sâu đục mục ruỗng phía sau, ban quản trị đền đã xin thỏa thuận với Cục Di sản Văn hóa, Sở VH-TT-DL Hà Nội (nay là Sở VH-TT), Ban Quản lý di tích danh thắng. Dù đã xin thỏa thuận nhưng việc chặt cây trong di tích khi ấy cũng không khỏi dấy lên lo ngại, bởi cây xanh không chỉ là bóng mát mà còn tạo nên cảnh quan, là một phần gắn bó mật thiết với di tích.

Chặt bỏ cây đa ở đình Chèm: Tùy tiện trong ứng xử với di sản  ảnh 2Cây đa ngay cổng đình Chèm trước khi bị chặt. Ảnh: TRẦN TRUNG HIẾU

Trao đổi với PV Báo SGGP về hiện tượng xin loại bỏ cây xanh trong di tích, ông Trần Đình Thành, Phó cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Bộ VH-TT-DL, cho biết: “Trong hồ sơ dự án tu bổ, tôn tạo di tích do Bộ VH-TT-DL thẩm định, nhiều dự án đều có phương án di dời dịch chuyển dựa trên sự chủ động đề xuất của ban quản lý di tích và ngành văn hóa của địa phương, cho thấy cây đó cần thiết phải di dời”.

Còn nếu đánh giá cây đó là cây bụi, cây mới, chủng loại cây không phù hợp với tính chất di tích thì cân nhắc giữa hiệu quả di dời với chặt bỏ xem phương án nào hiệu quả hơn thì xem xét trên khía cạnh đó. Nếu cây đó có giá trị cảnh quan thì lại xem xét việc di dời để bảo vệ cảnh quan với hiệu quả về kinh tế. “Quan điểm nhất quán là phải đặt di sản lên trên hết”, ông Trần Đình Thành nhấn mạnh. 

Diễn biến của sự việc này không bất ngờ mà sự “lạ” là ở việc chặt hạ một cái cây lớn chỉ còn trơ gốc rễ ở một vị trí đặc biệt nằm trong tổng thể Di tích quốc gia đặc biệt như đình Chèm rõ ràng không dễ gì giấu giếm, nhưng chỉ khi dư luận lên tiếng, ngành văn hóa, địa phương mới vào cuộc. Ngay tại thủ đô Hà Nội, tại sao di sản vẫn bị ứng xử như vậy, mới thực sự là câu hỏi trăn trở nhất?

Theo ghi nhận của PV Báo SGGP, nhiều cấu kiện của đình Chèm bị bóc dỡ tan hoang, vật liệu cũ, mới ngổn ngang không hề có dấu hiệu của việc bảo vệ. Chỉ đến chiều 25-3, khi có đoàn kiểm tra của Sở VH-TT Hà Nội tới làm việc mới thấy bắt đầu thực hiện việc bao bọc.

UBND quận Bắc Từ Liêm đã chỉ đạo UBND phường Thụy Phương cùng Phòng VH-TT và các đơn vị liên quan tiến hành kiểm tra, qua đó kết luận đánh giá hành động chặt hạ cây đa của Ban Khánh tiết đình Chèm là không đúng quy định. Ban Khánh tiết đình Chèm đã nhận khuyết điểm và xin “rút kinh nghiệm”.

Lãnh đạo Cục Di sản văn hóa cho biết, đã yêu cầu Sở VH-TT Hà Nội báo cáo sớm trong tuần tới.

MAI AN