Thứ Tư, 11 tháng 8, 2010

Cây thông đứng giữa trời.

Như cây thông đứng giữa trời

(Copy từ http://edu.net.vn/forums/t/68323.aspx)

CÂY THÔNG ĐỨNG GIỮA TRỜI (Mai Thục)

Nhà toán học nữ Hoàng Xuân Sính biến ước mơ của mình thành sự nghiệp giáo dục “đuổi cái ngu dốt đi, dùng trí tuệ cứu giống nòi”. Nhưng trong đời thường, bà dường như thoát bụi trần. Tâm trí lẫn vào thế giới vô hạn của Toán học. Bà đang sống với một thế giới khác, không giống bình thường, nhưng tràn đầy hạnh phúc. Có một điều, bà Sính giống tôi, tự biết thương thân phận mình, và đau đớn, yêu thương những số phận con người Thăng Long- Hà Nội. Nhất là những người cùng thời với bà, thế kỷ XX. Mỗi khi nghe tôi kể thân phận của ai đó, bà thường đau nhói trong tim. Có lần tôi kể về cha tôi, bà nói: “Ông cụ đã rất đau. Nỗi đau không nói được ra. Nỗi đau mang xuống tuyền đài. Nó đau gấp bội lần những nỗi đau khác.” Rồi bà kể chuyện người cha của mình cho tôi nghe. Tôi cũng nhận ra một nỗi đau mang về thế giới bên kia… Không lời.

 

Một hôm, GS. TS Hoàng Xuân Sính tặng tôi cuốn Thông tin toán học của Hội Toán học Việt Nam, có bài bà vừa viết về người bạn Toán học đã về Tiên cảnh, ngày 2- 5- 2006- nhan đề Nguyễn Đình Ngọc: Một cuộc đời. Tôi xúc động trước hình tượng Nguyễn Đình Ngọc- người anh hùng chưa được ghi công, mang trong mình cả thế kỷ XX lửa cháy Hà Thành. Giờ đây anh đã là Cây thông đứng giữa trời. Nhưng câu chuyện cuộc đời Nguyễn Đình Ngọc mà Hoàng Xuân Sính kể chân thực, đầy đủ các chi tiết, sự kiện, đời người, mở ra một không gian rộng và những suy tưởng miên man… rung động cõi người.

Mở đầu câu chuyện bà Sính dẫn Con chó sói của nhà thơ Pháp: “Anh đã sống và chết như Con chó sói của Alfret de Vigny, hoàn thành nhiệm vụ và từ giã cõi đời không một lời kêu đau hay than thở:

 

“ Gémir, prier, pleurer est également lâche,

Fais énergiquement ta longue et lourde tâche

Dans la voie òu le sort a voulu t’appeler

Puis après comme moi, souffre et meurs sans parler”

( La mort du loup- Alfred de Vigny)

 

Rên xiết, nguyện cầu hay khóc than đều hèn nhát

Hãy có nghị lực thực hiện cái nhiệm vụ dài và nặng nề của mình

Trên con đường mà số phận muốn gọi anh đi

Rồi sau đó hãy như tôi đây, chịu đựng đau khổ và chết không một lời than vãn.”

flower-row

Lần khác gặp tôi, bà Sính bảo: “Em viết về cuộc đời anh Ngọc đi”. Tôi ngần ngại vì chưa từng gặp anh Ngọc, không lẽ lại lấy bài của chị Sính (tôi thường gọi bà thân thương như thế) in vào sách của mình. Bà bảo: “Lấy tư liệu trong bài của tôi mà viết theo kiểu của em.” Thì ra chị Sính quá hiểu sáng tác. Cùng một tư liệu, một cuộc đời, mỗi người có thể nhìn thấy một vùng lấp lánh sáng soi và kể chuyện theo ngôn ngữ, ý tưởng riêng của mình.

Tôi đọc bài của chị Sính mà chưa lọc được “phần chìm của tảng băng trôi”. Gặp mối thiện cảm của chị, tôi hỏi liên hồi về anh Ngọc, đến nỗi chị Sính phải kêu lên: “Em cứ hỏi tôi như bắn đại bác”. Trò chuyện cùng chị, tôi đã hiểu, và tôi kể chuyện cuộc đời Nguyễn Đình Ngọc, một nhà khoa học tài năng, một số phận người Hà Nội (Phú Xuyên - Hà Tây) thế kỷ XX, theo cách của mình.

Hà Nội ngày 13- 8- 1932. Nắng thu vàng và hương gió heo may thơm mùi quả thị, nhẹ nhàng đón cậu bé Nguyễn Đình Ngọc chào đời. Cậu con trai đầu lòng của bác sĩ Nguyễn Đình Diệp và người vợ trẻ Lê Thị Khoa xinh đẹp, hiền hậu, nết na có tiếng ở đất Hà Thành, dâng niềm hạnh phúc cho cả gia đình và dòng họ. Nghề thầy thuốc rất được tôn vinh, vợ chồng bác sĩ sống sung túc trong xã hội thượng lưu Hà Nội. Nhưng bác sĩ Nguyễn Đình Diệp thẳng ngay, có tính độc lập và lòng yêu nước, không được các “quan Tây” ưa, bị đày ải đi Sơn La, nơi ma thiêng nước độc. Cho nên gia đình sống đạm bạc. Và cậu bé Nguyễn Đình Ngọc được tôi luyện trong nghèo khó từ thuở ấu thơ chốn rừng sâu heo hút.

Đêm 19- 12- 1946. Kháng chiến bùng nổ. Bác sĩ Nguyễn Đình Diệp trở thành quân y xá trưởng của Phúc Yên (tỉnh Phú Thọ), hai vợ chồng và bốn người con sống tại đây. Đầu năm 1947, một tang tóc báo hiệu bi kịch lớn trong gia đình. Người con thứ ba, bé Nguyễn Đình Sơn lên ba, bị bệnh và mất. Tháng 12- 1947, đau thương ụp xuống như một định mệnh theo Nguyễn Đình Ngọc suốt cuộc đời. Quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, tiêu diệt đầu não Việt Minh. Quân dù chạy qua Phúc Yên. Sau khi đưa thương binh đến chỗ an toàn, gia đình bác sĩ Nguyễn Đình Diệp chỉ kịp chạy đến xã Đỗ Tân, ấp Làng Tây, thôn Cầu Vây để ẩn nấp. Tại đây, toàn bộ gia đình bác sĩ bị Pháp bắt, nhưng chúng chỉ giải bác sĩ và cậu con trai lớn mười lăm tuổi Nguyễn Đình Ngọc đi. Đêm tối mênh mông tràn xuống Đáp Cầu, hai cha con bị giam tách ra. Người cha chỉ kịp dặn: “Con hãy cố học và giúp người khác học, dân mình khổ trước hết vì giặc dốt”. Và ông trao cho con một bộ quần áo lính…

Đêm sâu. Bóng tối đè nặng lũy tre làng. Nguyễn Đình Ngọc nghe một tiếng súng nổ đanh gọn xuyên thủng không gian. Trái tim anh đau quặn. Đêm chìm trong im lặng. Sáng hôm sau, Ngọc hay tin chúng đã bắn cha anh. Viên trung úy Pháp đã bắt hai cha con, thấy Ngọc khôi ngô, thông minh, dễ thương và có thể do bị day dứt, dày vò vì tội lỗi, ông ta sám hối, muốn nhận Nguyễn Đình Ngọc làm con nuôi. Anh từ chối. Chúng đem Ngọc về giam tại nhà thương Đồn Thủy, nay là bệnh viện Quân đội 108… Mẹ anh chật vật, lay lắt mãi, rồi cũng đưa được hai con nhỏ vào Hà Nội tạm chiếm, và cứu được cậu bé Nguyễn Đình Ngọc trong phòng giam ra. Người mẹ Hà Thành tần tảo, lần hồi nuôi các con ăn học nên nguời như lời dặn cuối cùng của chồng. Ngọc và Kim đều học giỏi nổi tiếng. Ngọc học đêm này qua đêm khác, dưới ánh đèn dầu, muỗi đốt nát thịt da. Ngọc có thói quen “ngủ ngồi” hành hạ anh suốt đời, vì sợ nằm ngủ thì dễ ngủ quên, lãng phí thời gian học và làm việc. Anh học giỏi các môn, nhưng đặc biệt say mê Toán. Những cuốn sách Toán của tác giả nổi tiếng như Lebossé, đã được cậu bé mười lăm tuổi lôi ra làm hết, làm đi làm lại, mở rộng, phân loại, phân tích… Ngọc học ngày học đêm như cướp lại thời gian đã mất ở kháng chiến và khi bị bắt giam. Mười tám tuổi, Ngọc đỗ tú tài vào đại học Khoa học, mười chín tuổi, đạt thành tích học tập đáng kính nể. Hai mươi tuổi, Ngọc quay lại vùng kháng chiến, lọt vào mắt xanh Giám đốc Công an liên khu 4- Nguyễn Hữu Khiếu. Ông nói với chàng:

“Trung với nước, hiếu với cha là phục tùng sự sắp đặt của trên” . Mệnh lệnh này, theo từng bước chân Nguyễn Đình Ngọc, suốt cuộc đời. Sau này, Nguyễn Đình Ngọc tâm sự với chị Sính: “Lệnh là như vậy, chỉ còn cứ thế mà đi.”

Năm 1953, sau vài tháng huấn luyện, Ngọc được đưa vào Hà Nội tạm chiếm, với một câu ngắn ngủi: “Phải cố gắng lọt vào xã hội thượng lưu Sài Gòn, đợi liên lạc mang lệnh hành động đến.” Nguyễn Đình Ngọc cắt một phần cái dây đồng hồ anh đang đeo để lại làm vật tin. Mai sau, người nào có mẩu dây đồng hồ khớp lại với phần dây còn lại của anh, thì sẽ là người của trên đến ra lệnh cho anh hành động.

Anh lao vào Hà Nội trong đêm đen. Không mấy suôn sẻ. Hà Nội 1953. Nhốn nháo. Pháp thua trận liên tiếp ở Điện Biên. Nguyễn Đình Ngọc- một thanh niên từ vùng tự do về, Pháp nghi vấn và bắt giam anh ở Nam Định. Anh khai là thầy giáo, bị lao nên phải vào Hà Nội chữa bệnh. Ngọc đã bị bệnh lao thực sự vì những năm tháng “ngủ ngồi” sống kham khổ để học, nên Pháp cho anh vào Hà Nội. Thành phố bẩn thỉu, bụi mù, xe nhà binh Pháp chạy đôn đáo khắp nơi. Ngọc tìm gặp lại “dì Tâm”, bà mối hai năm trước, gửi dì cái nhẫn đính hôn, nhờ chuyển cho người thiếu nữ mình yêu. Anh nói: “Nếu nhẫn rộng thì cắt bớt đi, nếu nhẫn hẹp thì đánh thêm vào, xin sẽ gặp sau này.”

 

Tháng 4- 1954, gia đình người yêu vào Nam. Ba tháng sau, Nguyễn Đình Ngọc cũng theo dòng người tản cư vào Nam, và tìm ngay đến nhà nàng để đặt vấn đề chính thức. Anh đi dạy tư để lấy tiền ăn học. Ngày 27-10- 1955 anh cưới người thiếu nữ Hà Thành mình yêu. Nàng bây giờ là con một gia đình thượng lưu, có người làm quan chức lớn thuộc chính phủ Sài Gòn. Cuối năm ấy, được học bổng kỹ sư Khí tượng, anh sang Pháp học. Năm 1956, vợ anh sang Pháp. Họ sinh một cậu con trai. Gia đình ba người chỉ sống bằng học bổng của sinh viên, vợ anh phải đi làm thêm. Họ sống với nhau êm đềm, hạnh phúc. Vợ đi làm và chăm con, chồng cắm cúi học, chẳng chuyện gì có thể xen vào cuộc sống của họ.

Ngọc học rất nhiều, đến nỗi giới Việt kiều tại Pháp gọi anh là người có sức làm việc phi thường. Học kỹ sư Khí tượng nhưng anh lại chuẩn bị luận án tiến sĩ về Địa- Vật lý; sau đó vừa học kỹ sư đóng tàu, vừa làm luận án tiến sĩ Toán, rồi tiếp tục học kỹ sư viễn thông. Anh vừa dạy học ở Đại học Rennes, vừa làm ở một Viện nghiên cứu nổi tiếng. Anh yêu cầu cao ở người học, có một năm anh đánh trượt toàn thể sinh viên Toán ở Rennes…

Giới Toán học Pháp và quốc tế kính nể anh. Chị Sính kể rằng tháng 10- 1967, nhà toán học Pháp Grothendieck giỏi vào bậc nhất thế giới, được giải thưởng Fields, sang thăm và giảng bài ở Việt Nam, trong lúc Mỹ ném bom miền Bắc. Chị Sính được đón tiếp ông. Một chiều, ông đã tự động rời khách sạn Thống Nhất đến thăm nhà mẹ anh Nguyễn Đình Ngọc. Bà cụ không nói được tiếng Pháp, liêu xiêu, tủi mừng, tưởng con trai đã về. Grothendieck tặng bà cái radio, một món quà rất quí thời đó, dùng để nghe tin tức, hay nếu cần bán đi là cả một món tiền lớn… Anh phụ trách an ninh thì la ầm lên khiển trách chị Sính: “Chị đi đâu mà bây giờ mới đến? Chị có biết là Grothendieck không nói với ai, tự đến nhà mẹ của Nguyễn Đình Ngọc? Chị có biết Nguyễn Đình Ngọc là ai không? Một anh phản động, học ở Paris, rồi bỏ về Sài Gòn. Bây giờ chị phải làm sao để Grothendieck kể cho chị nghe là ông ta gặp mẹ Nguyễn Đình Ngọc thế nào, nói những gì?”.

Là nhà khoa học đích thực, Nguyễn Đình Ngọc sống giản dị, ăn mặc lôi thôi, say mê nghiên cứu. Mười năm ở Paris, anh vào vai chống Việt minh rất đạt. Ngọc đi ăn một mình ở nhà ăn, yêu thích cái hay, cái đẹp, buồn vui, thương nhớ, cũng không có người để nói, hoặc không dám nói với ai… Trong im lặng thẳm sâu, Nguyễn Đình Ngọc xót thương người mẹ hiền góa bụa, sống lần hồi nơi phương trời Hà Nội, khắc khoải ngóng chờ tin anh, từng giờ … Anh lo cho sự bình an của mẹ từng giây phút. Từ thủ đô Ánh sáng, anh luôn chờ trông tin mẹ, thầm mong mẹ được sống yên trong góc sâu mái phố Hà Thành đẫm màu sương khói.

Cuối năm 1965, vợ anh, người biết công việc của chồng, thay anh đi lại giữa Paris và Geneve để nhận thông tin của cấp trên cho anh. Đầu năm 1966, anh phải đi Thụy Sĩ để trực tiếp nhận lệnh trên: “Lên đường về miền Nam Việt Nam”. Người vợ lái xe tiễn chồng ra sân bay về Sài Gòn mà cứ tưởng không phải anh đi xa đến thế. Không phải là chia ly chồng vợ, cha con, một đời, một kiếp trầm luân. Chiều chiều, cùng con nhỏ, chị ngóng nhìn cửa căn hộ, thảng thốt đợi chờ, tưởng nghe tiếng bước chân anh về… Bầu trời Paris xanh nhạt, mờ xa, tít tắp, làm sao thấu hiểu khối sầu Vọng phu?

flower-row

Nguyễn Đình Ngọc xin dạy ở Đại học Khoa học Sài Gòn. Một mình thuê một căn hộ trên đường Công Lý, anh đi dạy học và kiên nhẫn đợi lệnh trên. Một hôm, anh ra Huế nhận lệnh. Người đàn ông có tên Phương Lan, làm văn thư ở Đại học Huế, đưa ra một mẩu dây đồng hồ đã bị cắt đôi, khớp lại với dây đồng hồ của anh đã bị cắt năm 1954 ở miền Bắc xa xôi. Từ đó Ngọc có tên là điệp viên Diệp Sơn (Diệp là tên cha anh, Sơn là tên cậu em trai đã mất) và dạy ở Đại học Huế để gần Phương Lan nhận lệnh. Anh đi lại với gia đình cô em vợ, có chồng là đô đốc hải quân Sài Gòn, được họ bao bọc, anh nắm tin tức cung cấp cho ta… lập nhiều chiến công lặng lẽ.

Chị Sính kể, lúc chiến tranh kết thúc, năm 1975, chị ở Paris, đi tìm Nguyễn Đình Ngọc, đinh ninh rằng anh đang vui mải mê với những công trình toán học. Không ngờ, lúc đó anh đang ở khu Đại học Thủ Đức- Sài gòn, trông nom, đợi đoàn tiếp quản đến để giao lại. Không ai biết anh là ai.

Năm 1976, chị Sính gặp anh ở Đại học Khoa học Sài Gòn:

“Trông anh xanh xao như người bị sốt rét. Anh nói với tôi mấy câu rồi đi ngay”.

Năm 1977, anh ra Hà Nội, hiện nguyên hình là một trung tá của Bộ Nội vụ, anh đến tìm tôi ở Đại học Sư phạm Cầu Giấy, và từ đó tôi mới biết dần dần công việc của anh. Đáng lẽ anh còn tiếp tục di tản đi Mỹ như năm 1954 di tản vào Nam, nhưng vai trò tình báo của anh đã lộ, cảnh sát chuẩn bị bắt anh, may mà quân mình kịp đánh giải phóng Sài Gòn.”

Về Hà Nội, Nguyễn Đình Ngọc được trở lại là nhà khoa học với các chức vụ Phó cục trưởng Cục Khoa học và Kỹ Thuật, Cục trưởng Cục Khoa học Viễn thông- Tin học ở Bộ Nội vụ đồng thời Chủ tịch của nhiều Hội đồng khoa học. Ngoài lãnh vực chuyên môn của mình, anh hiểu biết rất rộng, thành thạo nhiều ngoại ngữ, dịch trực tiếp giỏi… Anh tham gia tất cả những đề tài nghiên cứu khoa học mà anh thích. Anh làm khoa học như để bõ cơn thèm, vì đã không được toàn tâm, toàn ý sống với niềm say mê khoa học. Trong đôi mắt bạn bè, chị Sính nhìn anh là một người phi thường: vóc dáng bé nhỏ, khuôn mặt khôi ngô, tuấn tú, đôi mắt xếch, cặp mắt hiền trí thức hóm hỉnh, anh quen sống một mình, không say mê quyền lực, tiền bạc và phụ nữ, ăn mỗi ngày một bữa vào buổi tối, ăn rất nhiều, năm hay sáu bát cơm, chỉ có rau cũng không sao. Nhiều đêm anh thường “ngủ ngồi”, như thời niên thiếu, sợ ngủ nằm thì thiếp đi, ngủ quên mất. Anh muốn lấy lại thời gian đã mất. Anh còn có thói quen ngủ ngoài ban- công những đêm đông, đây là cách anh luyện gian khổ để nếu có bị bắt, sẽ chịu được cực hình tra tấn. Anh quen đi một cái xe đạp cũ, ung dung từ tốn như người thoát tục, ngay cả lúc bị bệnh nặng, anh vẫn lấy xe đạp đi trong phố cổ Hà Thành mà anh yêu da diết. Anh đi tìm bóng mẹ phiêu diêu trong hoàng hôn choàng ngõ nhỏ. Anh đi tìm bóng áo dài trắng thướt tha thiếu nữ Hà Thành đã tan vào gió. Anh đi tìm Giọt mưa thu thánh thót lệ rơi nhạt nhòa mặt nước Hồ Gươm…

Nguyễn Đình Ngọc sống lặng lẽ, phi thường. Và anh đã ra đi, đúng vào cái nơi anh bị bắt tù khi mới mười lăm tuổi, năm 1947 ở phòng giam ở nhà thương Đồn Thủy, nơi điều trị lính Pháp, nay là bệnh viện quân y 108. Kể đến đây, chị Sính đã khóc. Khóc cho thân phận một nhà khoa học lớn, hay khóc cho mọi kiếp người Hà Nội thế kỷ XX: ” Xót thương anh vô cùng, anh Ngọc ơi! Anh bị giam ở đó vào tháng 12- 1947, thế mà tháng 7-2005 anh vào điều trị bệnh ở 108, anh hãy còn nhớ và dẫn đường chúng tôi đến chỗ bọn chúng giam anh sau khi đã bắn chết cha anh. Năm mươi tám năm trời, anh đã đi không biết bao nhiêu nơi trên trái đất này, học và làm không biết bao nhiêu việc, cả những việc vào sinh ra tử, để rồi lúc gần đất, xa trời, lại nhìn thấy nơi đầu tiên bị giam lúc chỉ mới mười lăm tuổi.” .

Giữa cánh đồng hoa

Chị Hoàng Xuân Sính của em ơi! Em kể câu chuyện cuộc đời Nguyễn Đình Ngọc mà tim đau quá! Ba năm rồi. Trăn trở. Ngọn bút trào lên, lặng xuống… từng chữ, từng câu dập dồn như sóng- thoảng thơm “Một nén tâm hương dâng linh hồn nhà Toán học Quốc tế Nguyễn Đình Ngọc- Anh hùng Ulysses của Thế kỷ XX”.

Em nghe trong tiếng chuông chùa, tiếng niệm Phật Nam Mô A Di Đà có tiếng cụ Nguyễn Công Trứ hát ru anh: “Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Hồ Gươm mùa Nắng -2009 - Mai Thục

 

Thầy Nguyễn Đình Ngọc ở ĐH Khoa học Sài Gòn.

(Copy từ http://edu.net.vn/forums/t/68323.aspx)
Nguyễn Đình Ngọc ở Đại học Khoa học Sài Gòn (H. M. Để )

Từ ngày anh Nguyễn Đình Ngọc qua đời có nhiều bài viết về anh, nói nhiều đến khía cạnh thầm lặng. Có lẽ phải đợi đến khi mọi việc được phổ biến công khai mới thấy được anh đã âm thầm hoạt động thế nào trước 30.4.1975. Ở đây, người viết muốn đề cập đến lãnh vực dạy học mà anh đã không ngừng hoạt động cho đến những ngày cuối đời và khởi đầu là từ 1966 khi anh về Saigon.



Tôi vốn phụ trách phần bài tập ở vài chứng chỉ của Ban Toán tại Đại học Khoa học Saigon và có dịp cùng anh Ngọc theo dõi sách báo của Thư viện Ban Toán, anh chịu trách nhiệm về các tạp chí còn tôi các sách toán. Hoạt động giảng dạy của anh thật ra rất rộng, anh quan tâm nhiều đến việc xây dựng một curriculum toán ở bậc đại học và về giảng dạy thì anh toả đến mọi nơi có một cơ sở đại học (đại học cộng đồng ở Mỹ Tho, đại học Cần Thơ, Huế …). Về công việc này thì anh thể hiện một cá tính hoàn toàn đối lập với cá tính rất thầm lặng của con người làm điệp báo.

Anh bảo vệ chính kiến của mình một cách hăng say và không ngại đụng chạm khi cần thiết, thay đổi cấu trúc giảng dạy anh đưa ra khái niệm credit (tín chỉ, học phần - 1966), mọi nơi đều thiếu tài liệu toán học anh huấn luyện cho một nhân viên đánh máy và in ronéo các sách toán đương thời để phổ biến ở mọi nơi anh đến dạy. Chi li và quý trọng tài liệu cho những người đi sau đến độ năm 1968 lo sợ thư viện Ban Toán ở trong vùng có trụ sở Công An có thể bị tiêu huỷ anh lẳng lặng chuyển về nhà tận cư xá Công Lý một số lượng sách mà đến khi chuyển ra Hà Nội làm việc anh kêu tôi đến để nhận lại, tôi đã phải dùng một xe tải nhỏ để chuyển về trường đại học. Đến tận bây giờ tôi cũng không hình dung ra bằng cách nào mà anh một người ốm yếu chỉ đi bộ hay cao lắm là đi xe đạp lại có thể tha về từng ấy sách, nhất là lúc đường xá náo loạn vì bom đạn.



Những năm đầu tiên ở trường đại học, anh không biểu lộ chính kiến ngoài các vấn đề giáo dục. Mọi người vẫn nghĩ là phong cách sống của anh, giản dị hết mức từ ăn mặc đi lại, chỉ thể hiện tính cách lập dị thường thấy ở những nhà toán học. Cho đến tháng 9-1969 một số vị đầu ngành có mặt trong một buổi họp Hội đồng Khoa mới bàn tán về lời yêu cầu của anh dành một phút mặc niệm cụ Hồ vừa qua đời. Một việc làm có tính chất chính trị mạnh làm cho nhiều người phải ý thức phần nào về đất nước lúc bấy giờ vì trong đại học ngoài sự lên tiếng của nhóm ít sinh viên tiến bộ còn ở mọi giới khác thì rất yên ắng gần như là dửng dưng. Các chính sách khéo léo phía cầm quyền như là không động viên đi quân dịch số đông trí thức trẻ trong đại học, chỉ qua 9 tuần huấn luyện quân sự rồi cho biệt phái về trường tiếp tục dạy học cũng làm tê liệt mọi mầm mống phản chiến.

Từ những năm 1970 các phong trào sinh viên chống chính quyền, bãi khoá trong nhiều trường đại học nhưng anh Ngọc vẫn tập trung vào việc chuyên môn của mình.



Chỉ đến sau ngày 30-4 một buổi sáng anh đi cùng một vị khách lái xe hơi vào gặp Ban Quân quản nhà trường, vị khách tướng mạo như David More. Anh được giới thiệu thuộc tổ chức của an ninh và vị khách là một ông Tân (người thì gọi là Hai, Tư, Chín Tân) mà về sau được biết là phụ trách phía Nam của bộ phận về an ninh. Ông Tạ Bá Tòng người công tác về trí vận cũng khéo léo thông báo chính ông là người đã đưa anh Ngọc đến Mỹ Tho móc nối lại với tổ chức của anh ấy.

..

Trong những ngày đầu mọi hoạt động giảng dạy không còn và bấy giờ anh em giảng dạy trong Ban Toán chỉ gặp nhau trong các buổi sinh hoạt về chính trị, anh Ngọc lại có một nhiệm vụ “quân quản” khu đại học của nhà trường ở Thủ Đức – lúc ấy công việc ở khu này là giữ cho trọn vẹn cơ sở vật chất và anh đã làm công việc này chỉ với sự giúp đỡ của ông Thuỷ vốn là người từng phụ giúp anh trong công việc đánh máy và nhân bản các sách toán. Việc anh phải chăm sóc khu này là công việc cực nhọc và cũng có nguy hiểm, cạnh đó khu thuộc trường Nông Lâm Súc bị vào lấy mọi vật liệu trong khuôn viên. Bây giờ có đến khu campus này người ta khó hình dung được công việc anh đã hoàn thành, ngày ấy các khối nhà và các giảng đường tuy đã hình thành khang trang nhưng chẳng mấy ai trong nhà trường chịu di chuyển đến để giảng dạy, trước 30.4 chỉ có mỗi một bộ môn Sinh Hoá có lớp học ở đấy – sau 30.4 đi lại khó khăn chỉ có thể đi bằng xe đạp mà đâu phải mọi nơi đều có người giữ gìn trật tự an ninh.

Một thời gian sau anh trở ra Hà Nội nhưng gần đây tôi mới được biết là anh cũng phải qua một thời gian đến 1990 sau khi có bộ trưởng Bùi Thiện Ngộ lên anh mới làm việc lại trong cái lãnh vực của anh. Qua báo chí được biết là anh có mặt trong các hội khoa học và về giảng dạy thì gần như đến những ngày cuối anh vẫn vào Saigon dạy về môi trường trong trường đại học khoa học ngày trước. Tin anh qua đời lại đến với tôi từ bạn NNG ở Paris, anh BTL có viết về “Cố Nhân” trên viet-studies và Diễn Đàn ; bằng trí nhớ tôi chỉ gợi lại thời gian không mấy ai có dịp gần anh, điều tôi cảm nhận về anh là một nhân cách hiếm có.



Gần đây khi ông Phạm Xuân Ẩn qua đời một nhà báo Mỹ có kết luận về ông : ông là một ví dụ toàn hảo của những gì tốt đẹp nhất trong con người Việt nam. Tôi nghĩ là anh Nguyễn Đình Ngọc mà tôi có dịp được biết dù không được gần gũi nhiều cũng là một ví dụ. Chỉ tiếc là mẫu người cần có biết bao trong một nước kém phát triển thì hiện nay như lá mùa thu và ý này là của một nhà xã hội học Ý trong sách Le Tiers Monde dans l’impasse : “Để vượt qua tình trạng kém mở mang thì trong một nước nghèo, người dân nhất thiết phải thắt lưng buộc bụng nhưng lãnh đạo thì phải sống khắc kỉ”. Và anh Nguyễn Đình Ngọc là một con người đã sống khắc kỉ.

H. M. Để

Nhà khoa học - Nhà giáo - Điệp viên Nguyễn Đình Ngọc.

(Copy từ http://edu.net.vn/forums/t/68323.aspx)
Nhà khoa học - điệp viên Nguyễn Đình Ngọc
Trong lịch sử trăm năm giành lại nền độc lập và thống nhất đất nước, nhiều nhà khoa học thành đạt đã gác bỏ sự nghiệp, vinh hoa ở xứ người về nước dấn thân vào sự nghiệp lớn lao của dân tộc. Nhà khoa học, nhà tình báo Nguyễn Đình Ngọc cũng là một trường hợp như vậy.


Trong cuộc đời làm báo, tôi có may mắn tiếp xúc với ông, một con người có cuộc đời sôi nổi, phong phú, một thời gian dài hoạt động trong lòng đối phương.

Ngày ấy, trong nhiều cuộc họp báo, hội thảo khoa học tôi đều thấy ông ngồi trên đoàn chủ tịch. Ông dáng nhỏ nhắn, trắng trẻo, có đôi mày đậm xếch ngược của võ tướng thời xưa, chỉ càng làm gương mặt ông toát lên vẻ hiền từ, sáng láng. Bao giờ cũng thấy ông mặc bộ quân phục xanh bạc mầu, đầu đội mũ mềm, đeo cặp kính trắng có cái dây vòng sau gáy, những người quen biết ông đều bảo, ông giản dị đến xuềnh xoàng, đi đâu cũng chỉ vận mỗi bộ cánh như thế.

Đó là Tiến sĩ khoa học, nguyên Giáo sư của nhiều đại học ở Sài Gòn, Cần Thơ… trước và sau năm 1975. Là điệp báo viên ở Sài gòn từ 1966 đến năm 1975, sau 1975 là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Khoa học Viễn thông - Tin học, Bộ Công an, Phó ban chỉ đạo quốc gia về Công nghệ thông tin; Phó chủ tịch Hội Điện tử - Viễn thông; Phó chủ tịch Hội Tin học Việt Nam; thành viên sáng lập Đại học Thăng Long. Ông sinh ngày 13/8/1932, mất ngày 2/5/2006; chào đời và trút hơi thở cuối cùng đều tại Hà Nội.
Tôi nhiều lần chủ ý tiếp cận ông, nhưng vẫn chỉ là những cuộc trao đổi ngắn về nội dung của cuộc hội thảo cụ thể nào đó, ông luôn tỏ ra bận rộn, khiêm nhường. Thế rồi một hôm, có người bạn cho tôi xem công trình nghiên cứu mới của ông, đề tài nhánh của Chương trình cấp nhà nước mang mã số KX.06.
Cái tên của đề tài đã gây sự chú ý, bởi nó nửa khoa học tự nhiên, nửa khoa học xã hội: “Khoa học công nghệ với các giá trị văn hoá”. Tâm điểm hấp dẫn của công trình “hai nửa” này là ở chỗ, từ một công thức thuần tuý lý thuyết trong vật lý hiện đại - Thuyết Tương đối của A. Einstein, tác giả đã vận dụng vào hoàn cảnh nước ta để tìm lời giải chung nhất cho bài toán chính trị - xã hội phức tạp, là muốn thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, từ một nước chậm phát triển trở thành phát triển.

Xin trích một đoạn thú vị nhất của đề tài, mà tin chắc những ai ngoại đạo về toán - lý như tôi vẫn có thể hiểu.

Trong vật lý, biểu thức nổi tiếng của nhà vật lý vĩ đại Albert Einstein, mô tả mối liên hệ giữa khối lượng m của một vật thể với năng lượng E mà vật thể này có thể giải phóng như sau:

E = m x c2 , với c là vận tốc ánh sáng.

Vận dụng vào lĩnh vực chính trị xã hội, nhà khoa học Nguyễn Đình Ngọc mô tả mối liên hệ giữa các “đại lượng” phi vật thể dưới dạng biểu thức tương tự như sau:

Kiến thức = Khối lượng dữ kiện x (Tốc độ xử lý)2

Tri thức = Khối lượng kiến thức x (Tốc độ mô phỏng)2

Quyết thức = Khối lượng kiến thức x (Tốc độ mô phỏng-Dự báo-Lựa chọn)2.

Các biểu thức trên đã cho thấy, kiến thức hay tri thức đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành những quyết thức, hay nói cụ thể hơn là các quyết sách, các chủ trương đường lối… Nhà khoa học Nguyễn Đình Ngọc cho rằng: “Ông cha ta xưa kia đã nói biết thì sống, tức cũng là đề cao vai trò của Quyết thức trong những trường hợp sống còn của dân tộc”.

Có thể mở rộng ra tầm quan trọng của vấn đề dân trí đối với xã hội, với đất nước. Như ông Ngọc đã nhấn mạnh: “Dân trí phải được chú ý ngay từ bây giờ, từ những công dân tí hon bước vào lớp mẫu giáo…”

Sau khi đọc kỹ công trình, tôi viết một bài báo ngắn “Từ Kiến thức đến Quyết thức”. Rồi một hôm, tôi nhận được cú điện thoại ông mời đến gặp tại trụ sở Ban chỉ đạo về công nghệ thông tin. Trong cuộc nói chuyện khá cởi mở, thân tình hôm đó, tôi mới hiểu vì sao ông giác ngộ yêu nước và cách mạng từ rất sớm và trong bất kỳ hoàn cảnh nào ông vẫn kiên trì, liên tục học tập nâng cao hiểu biết.

Ông sinh ra trong một gia đình trí thức ở Hà Nội, có bốn anh em, ông là con cả. Cha ông, bác sĩ Nguyễn Đình Diệp giàu lòng yêu nước, trước năm 1945 đã bị thực dân Pháp bắt tù đày ở nhà tù Sơn La. Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, bác sĩ Diệp là Quân y xá trưởng tỉnh Phúc Yên.


TS.Trương Mỹ Dung vợ GS Nguyễn Đình Ngọc nhận Giải thưởng Sao Khuê cho SG Nguyễn Đình Ngọc.

Cuối năm 1947, trong một trận càn, bác sĩ Diệp cùng cậu bé Ngọc lúc đó mới 15 tuổi bị bắt. Giặc áp giải đến Đáp Cầu, Bắc Ninh thì tách cha con ra và từ đó ông không bao giờ còn được gặp lại cha mình nữa. Lúc chia tay người cha chỉ dặn con mỗi câu: “Con hãy cố học và giúp người khác học, dân mình khổ trước hết vì giặc dốt đấy”.

Nhiều năm sau đó Nguyễn Đình Ngọc luôn trăn trở về lời cha dặn. Đó là điều tâm huyết nhất của cha, một trí thức trải kiếp nô lệ, từng thấy dân mình chìm đắm trong ngu dốt, lạc hậu. Điều này cũng giải thích vì sao, trong công trình nghiên cứu của ông, quyết thức nâng cao dân trí trở thành điểm mấu chốt, được đề cao đến vậy!

Năm 1953, ông được tổ chức đưa ra nước ngoài học tập. Gần 10 năm sống, học tập tại Paris, Pháp, ông đã giành được các bằng cấp, đều thuộc loại xuất sắc, như: kỹ sư khí tượng; kỹ sư viễn thông; kỹ sư đóng tàu; tiến sĩ địa vật lý; tiến sĩ toán học. Về nước tháng 2 năm 1966, ông được chính quyền Sài Gòn bổ nhiệm vào vị trí giáo sư Đại học Khoa học Sài Gòn.

Ít ai ngờ rằng, ông còn nằm trong tổ chức điệp báo ông với bí danh “Diệp Sơn” (ghép tên cha và em trai đã mất).

Mãi đến sau ngày nước nhà thống nhất, cuộc đời hoạt động của nhiều chiến sĩ tình báo mới được hé lộ, họ có những “vỏ bọc” thật khác nhau. Chẳng hạn: nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn là ký giả; nhà tình báo Vũ Bằng là nhà văn; nhà tình báo Đức Phương là nhà buôn…

Với Nguyễn Đình Ngọc, ông chọn nghề giáo sư đại học, song đó không hoàn toàn là “cái vỏ”, ông là nhà khoa học thứ thiệt, có kiến thức uyên thâm, đa dạng, càng có lợi hơn trong thực thi nhiệm vụ điệp viên.

Trong buổi trò chuyện giữa chúng tôi hôm đó, trả lời cho câu hỏi, sao phải học nhiều bằng đến vậy, ông kể một chuyện của năm 1970.

Thấy tướng tá Sài Gòn rộ lên việc tìm hiểu tình hình khí tượng thuỷ văn vùng tây bắc Sài Gòn, cho người đến tham khảo ông với tư cách chuyên gia khí tượng từng tu nghiệp ở nước ngoài, ông đã suy ra, sẽ có một cuộc hành quân lớn với nhiều trực thăng vào khu vực ấy, chủ yếu nhắm tới Tây Ninh và vùng giáp biên giới Campuchia, có cơ quan đầu não của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Nhận định, rồi tổng hợp các động thái khác của đối phương, ông chuyển tin đi ngay về căn cứ… Vào năm 1980 trong chuyến công tác với đoàn Quốc hội sang Campu chia, tôi nghe một vị lãnh đạo cao cấp trong đoàn kể lại, vào thời điểm ấy ông cùng nhiều vị Trung ương cục đã thoát hiểm do được điệp báo ta báo trước kịp thời.

Chắc hẳn còn có những tin tức tình báo hệ trọng mà ông không kể hết. Chẳng hạn, cuối tháng 4/1975, do phân tích tình hình thời cuộc kịp thời, chuẩn xác, ông là một trong những người đi đến kết luận: Mỹ sẽ buông tay không can thiệp trở lại. Những nguồn tình báo như vậy đã góp phần giúp lãnh đạo có căn cứ thúc đẩy cuộc tổng tiến công thần tốc vào hang ổ cuối cùng của chế độ Sài Gòn.

Sau ngày giải phóng, ông ra công khai, làm việc trong Bộ Công an, có điều kiện sử dụng khả năng chuyên môn đa dạng của mình cho công tác quản lý và nghiên cứu khoa học… Ông được trở lại với niềm đam mê làm khoa học. Đúng như GS Hoàng Xuân Sính, người có nhiều năm quen biết GS Nguyễn Đình Ngọc từ hồi còn ở bên Pháp, khi ông qua đời đã viết: “Anh làm khoa học như để bõ cơn thèm, vì đã không được toàn tâm toàn ý cho nó do bận làm tình báo một thời gian dài. Anh sinh ra để làm khoa học, đó là ham thích duy nhất của đời anh…”.

Người ta nói, con người, từ cổ chí kim, có ba đam mê: quyền lực, tiền bạc và phụ nữ. Nguyễn Đình Ngọc thoát khỏi cái vòng kim cô đó, nhưng lại mắc phải cái đam mê của các nhà khoa học thực sự, đó là sự say mê khám phá. Chính nhờ niềm đam mê đó nhân loại đã từ bóng đen dốt nát đến với ánh sáng hiểu biết tuyệt vời.

Nhà khoa học yêu nước, nhà tình báo Nguyễn Đình Ngọc may mắn theo đuổi niềm đam mê ấy đến tận những năm tháng cuối đời.

Theo Phạm Quang Đẩu - Vietnamnet





Nhà khoa học, nhà tình báo Nguyễn Đình Ngọc.

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

ĐHQG Hà Nội liên kết vời trường "ngoại" dỏm?

(Copy from http://vietnamnet.vn/tinnhanh/201007/Vu-tien-si-6-thang-DHQG-Ha-Noi-co-dinh-liu-925587/)

ĐHQG Hà Nội liên kết với trường ngoại 'dỏm'?
Cập nhật lúc 06:57, Thứ Sáu, 30/07/2010 (GMT+7)

Gần đây, có tín hiệu cho thấy một số cơ sở kinh doanh bằng cấp của Mỹ vào VN để tuyển sinh. Đã có ít nhất 21 cơ sở kinh doanh bằng cấp dỏm (tiếng Anh gọi là “diploma mill” - hãng sản xuất bằng cấp) đang có mặt ở Việt Nam tích cực tuyển sinh.



Ảnh chụp màn hình website ĐHQG Hà Nội sáng 30/7.Ảnh: VNN.

Theo bài báo được đăng ngày 10/4/2007 này thì: "... mỗi khoá học diễn ra trong 16 tháng, tại Khoa Quản trị Kinh doanh - ĐHQGHN. Suốt khoá học, học viên phải học 11 môn và làm khoá luận tốt nghiệp cuối khoá. Chương trình do các giảng viên quốc tế và trong nước cùng phối hợp giảng dạy. Kết thúc khoá học, các học viên được phía Trường Đại học Quản trị Kinh doanh - Đại học Irvine (Hoa Kỳ) cấp bằng.Có 43/45 học viên tham gia khoá học đã được trao bằng tốt nghiệp đợt này. Các học viên đều đang giữ những chức vụ cao trong nhiều tập đoàn, tổng công ty hoặc các công ty lớn tại Việt Nam.Tính tới nay, chương trình đã tuyển sinh được 4 khoá với gần 160 học viên theo học".

Các cơ sở kinh doanh này xuất hiện dưới danh xưng “university” (đại học), nên dễ gây hiểu lầm cho những người chưa quen với hệ thống đại học Mỹ. Các cơ sở kinh doanh này thấy được nỗi khát khao có bằng nước ngoài của người Việt, và lợi dụng tình trạng thiếu thông tin để kiếm chác.

Đối với họ, việc in ra một tờ giấy làm học vị thạc sĩ, thậm chí tiến sĩ là điều quá dễ dàng vì họ chỉ quan tâm đến đồng tiền.
Chẳng những thế, một vài cơ sở kinh doanh bằng cấp còn liên kết với đại học VN để đào tạo sau đại học.
Qua Tuổi Trẻ gần đây, chúng ta biết rằng một phó bí thư tỉnh ủy đã được cơ sở kinh doanh có tên là Irvine University cấp bằng thạc sĩ quản trị danh dự.
Tôi đã kiểm tra và biết Irvine University nằm trong danh sách cơ sở kinh doanh bằng cấp, và không được giới chức giáo dục Mỹ công nhận là trường đại học.
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là Irvine University đã liên kết với Đại học Quốc gia Hà Nội đào tạo thạc sĩ!
Bản tin của Đại học Quốc gia Hà Nội: “43 học viên được trao bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh quốc tế” còn tuyên bố đây là “một trong những chương trình liên kết đào tạo có uy tín tại Việt Nam”!
Thật khó tưởng tượng nổi một cơ sở kinh doanh bằng cấp dỏm liên kết với một đại học hàng đầu và mang danh nghĩa quốc gia để đào tạo thạc sĩ!

Liên kết với ĐH Irvine chấm dứt từ năm 2008
Chiều 27-7, GS.TS Vũ Minh Giang, phó giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội,
cho biết: “Chương trình liên kết đào tạo giữa Khoa quản trị kinh doanh
ĐH Quốc gia Hà Nội và Trường ĐH Irvine đã được thực hiện theo nguyên
tắc phía đối tác nước ngoài chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình đào tạo
và cấp bằng. Nhưng chương trình đã chấm dứt hoạt động từ năm 2008”.

Theo ông Giang, từ năm 2008 ĐH Quốc gia Hà Nội có chủ trương chỉ thực
hiện liên kết đào tạo đối với các đối tác là các cơ sở đào tạo của nước
ngoài phải nằm trong top 200 (theo bảng xếp hạng của Webometrics). ĐH
Quốc gia Hà Nội đã yêu cầu các đơn vị thành viên rà soát các chương
trình và đối tác liên kết đào tạo. Những đối tác nào không đủ điều kiện,
trong đó có Trường ĐH Irvine, đã được ĐH Quốc gia Hà Nội yêu cầu chấm
dứt hoạt động liên kết đào tạo.

Thông tin từ Khoa quản trị kinh doanh cho biết trong thời gian liên kết giữa
khoa và Trường ĐH Irvine, hai bên đã thực hiện 10 khóa đào tạo thạc sĩ với
khoảng 300 học viên. Tuy nhiên, đại diện Khoa quản trị kinh doanh cho hay
chưa thống kê được chính xác bao nhiêu học viên đã được nhận bằng thạc sĩ.

Theo Báo Tuổi trẻ

Xem hoa phù dung.

Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010

Đưa cái ruột đây.


Copy từ http://sgtt.vn/Doi-the-ma-vui/Cham-cham-ma-cuoi/126753/Dua-cai-ruot-day.html
Đưa cái ruột đây
SGTT.VN - Bàn có ghi chữ “nhận tài liệu” của một cuộc khởi công xây dựng công trình, người đưa tài liệu hỏi:
– Anh ở báo nào?
– Tôi ở đài truyền hình T...
– Cám ơn anh đã đến dự, “tài liệu” của anh đây! (“tài liệu” là một phong bì).
– Còn anh?
– Tôi cũng ở đài T!
– Ủa đài có người nhận rồi mà?
– Đúng nhưng ông ấy là biên tập, tôi là quay phim!
– Cám ơn anh đã đến dự, “tài liệu” của anh đây! (“tài liệu” là một phong bì).
– Anh?
– Tôi cũng ở đài T!
– Ủa…
– Hai ông kia là biên tập, quay phim, tôi phụ trách âm thanh!
– Cám ơn anh đã đến dự, “tài liệu” của anh đây! (“tài liệu” là một phong bì).
– Anh thì…
– Tôi cũng ở đài T!
– Thế…
– Tôi là phó phòng phụ trách mấy tay kia. Chị nhớ gửi “tài liệu” cho anh lái xe đang ngồi ngoài kia nữa nhé!
– Anh thông cảm, chúng tôi không tiếc “tài liệu” nhưng vì vì đã hết… phong bì!
Phó phòng rất dân dã:
– Đưa cái ruột đây!

Tư Đèo Nghếch

 

Hội chứng tụt quần


(Copy từ http://sgtt.vn/Doi-the-ma-vui/Cham-cham-ma-cuoi/127200/Hoi-chung-tut-quan.html)

Mâu thuẫn bình loạn

Hội chứng tụt quần





SGTT.VN - Thứ bảy hai ông Mâu, Thuẫn ngồi nhậu. Ông Mâu nốc cạn chén rượu, khà một tiếng rõ to, vỗ đùi đánh bốp.

Mâu: Ông có biết đang có một hội chứng mới rất hot không?
Thuẫn: Hội chứng cái chi?
Mâu: Hội chứng cởi áo tụt quần.
Thuẫn: Ông chỉ được cái xuyên tạc ba lăng nhăng.
Mâu: Thì đây nhé: hết ca sĩ đến diễn viên, người mẫu, hoa hậu thi nhau cởi áo tụt quần ầm ĩ đấy thôi. Mà cứ sau mỗi trận xì-căng-đan cởi áo tụt quần, họ lại nổi tiếng thêm. Thậm chí có cô ả ca sĩ sau trận cởi tụt rất hoành tráng liền được báo chí ngợi ca là hiện tượng với “sự trở lại ấn tượng”. Thấy người này nổi tiếng, người khác hùa theo cởi tụt tiếp thành một trào lưu cởi tụt khá rộng khắp. Đến mức giữa toà cũng có người đòi tụt quần.
Thuẫn: Ông đừng có hồ đồ. Chớ có đùa.
Mâu: Tôi đâu dám đùa với toà. Hôm toà xử vụ Sầm Đức Xương mua dâm học trò, ổng chả đòi tụt quần giữa toà để chứng minh vô tội đấy thôi.
Thuẫn: Thế sao toà không cho tụt nhỉ? Biết đâu ông Xương oan thật, biết đâu thầy Xương không có… chim?
Mâu: Chả nhẽ có người bán mà không có người mua? Hai cháu học trò bị kết tội bán dâm, vậy họ bán cho ai? Sao chỉ có người bán dâm phải vào tù còn những lão mua dâm lại không?
Thuẫn: Ông đừng có đánh trống lảng, trả lời thẳng tôi đi: tại sao không cho thầy Xương tụt quần?
Mâu: Trời đất! Để một ông thầy nhân danh hiệu trưởng đứng tụt quần trước toà, trước các em học sinh và bá quan thiên hạ thì còn ra cái chi nền giáo dục ni nữa hả giời?
Thuẫn: Thì còn chi nữa mà kêu. Học trò thì bán tình lấy điểm, thầy hiệu trưởng dùng học trò lập đường dây dắt gái thì đó là thứ giáo dục chi?
Mâu: Cái tôi lo hơn là nếu cho thầy Xương tụt. Lỡ nay mai đến phiên chủ tịch Tô cũng bắt chước thầy Xương, cũng đòi tụt quần để minh oan thì làm sao? Mô Phật! Chả nhẽ ra toà mà cứ hè nhau đòi tụt quần sao?
Thuẫn: Thì cứ cho họ tụt. Phải trọng chứng hơn trọng cung chứ.
Mâu: Ông đừng có xúi dại!
Thuẫn: Răng lại xúi dại?
Mâu: Thì ông xem bi chừ thầy mô nổi tiếng bằng thầy Sầm Đức Xương, và chủ tịch mô nổi tiếng bằng chủ tịch Tô Hà Giang?
Thuẫn: Rứa thì bữa mô ông tụt phát đi cho thành người nổi tiếng! Khè khè!

Thích Trớ Trêu