Thứ Ba, 2 tháng 10, 2018

Truyện ngắn Thạch Lam: Hai đứa trẻ

Truyện ngắn Thạch Lam: Hai đứa trẻ
Copy từ https://isach.info/story.php?story=tuyen_tap_truyen_ngan_thach_lam__thach_lam&chapter=0018 , tác giả: Thạch Lam ; đã đăng ngày 12-09-2016.
HAI ĐỨA TRẺ
Tiếng trống thu không(1) trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rơ rệt trên nền trời.
Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị: Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn.
- Em thắp đèn lên chị Liên nhé?
Nghe tiếng An, Liên đứng dậy trả lời:
- Hẵng thong thả một lát nữa cũng được. Em ra ngồi đây với chị kẻo trong muỗi.
An bỏ bao diêm xuống bàn cùng chị ra ngoài chỏng ngồi; chiếc chỏng nan lún xuống và kêu cót két.
- Cái chỏng này sắp gãy rồi chị nhỉ?
- Ừ để rồi chị bảo mẹ mua cái khác thay vào.
Hai chị em gượng nhẹ ngồi yên nhìn ra phố. Các nhà đã lên đèn cả rồi, đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn Hoa Kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh trong hiệu khách...
Những nguồn ánh sáng đều chiếu ra ngoài phố khiến cát lấp lánh từng chỗ và đường mấp mô thêm vì những hònđá nhỏ một bên sáng một bên tối.
Chợ họp giữa phố văn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này. Một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hóa, đ̣n gánh đã xỏ sẵn vào quang rồi, họ còn đứng nói chuyện với nhau ít câu nữa.
Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gì có thể dùng được của các người bán hàng để lại, Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó.
Trời nhá nhem tối, bây giờ chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngơ đi ra; chị Tí, mẹ nó, theo sau, đội cái chỏng trên đầu và tay mang không biết bao nhiêu là đồ đạc: tất cả cái cửa hàng của chị.
- Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế?
Chị Tí để chỏng xuống đất, bày biện các bát uống nước mãi rồi mới chép miệng trả lời Liên:
- Ối chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì.
Ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này dưới gốc cây bàng, bên cạnh cái mốc gạch. Để bán cho ai? Mấy người phu gạo hay phu xe, thỉnh thoảng có mấy chú lính lệ (2) trong huyện hay người nhà thầy thừa (3) đi gọi chân tổ tôm, cao hứng vào hàng chị uống bát nước chè tươi và hút điếu thuốc lào. Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm.
Chị kê xong chỏng ghế, dịch ngọn đèn Hoa Kì lại để ngồi têm trầu, còn thằng cu thì loay hoay nhóm lửa để nấu nồi nước chè. Lúc bấy giờ chị mới ngẩng lên nói chuyện với Liên:
- Còn cô chưa dọn hàng à?
Liên giật mình, kêu khẽ: Chết chửa! Rồi đứng dậy giục em:
- Vào đóng cửa hàng thôi, không mẹ mắng chết.
An đáp:
- Hôm nay chưa chắc mẹ có ra không, chị ạ. Mẹ còn bận làm gạo cơ mà.
Ngày nào, cứ chập tối, mẹ Liên tạt ra thăm hàng một lần, và bà dặn hễ cứ trống thu không là phải đóng cửa hàng lại. Thế mà Liên mải ngồi nhìn phố quên mất! Bây giờ Liên vội vàng vào thắp đèn, xếp những quả (4) sơn đen lại, trong lúc An đi tìm then để cài cửa cho chắc chắn. Cái cửa hàng hai chị em trông coi - là một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc. Một gian hàng bé thuê lại của bà lão móm ngăn ra bằng một tấm phên nứa dán giấy nhật trình (5). Mẹ Liên giao cho Liên trông coi - bà còn bận làm hàng xáo (6) - và buổi tối thì hai chị em cùng ngủ đây để trông hàng.
Liên đếm lại những phong thuốc lào, xếp vào ḥm các bánh xà pḥng còn lại, vừa lẩm nhẩm tính tiền hàng. Hôm nay ngày phiên mà bán cũng chẳng ăn thua gì.
- Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không?
An ngẫm nghĩ rồi đáp:
- Vâng, bà ta mua hai bánh, còn cụ Chi lấy chịu nửa bánh nữa.
Liên với cái bàn tính để cộng số tiền. Nhưng trong hàng nóng và muỗi quá, chị ngần ngại rồi xếp hết cả tiền vào tráp không tính nữa:
- Thôi, để mai tính một thể.
An nhìn chị, chỉ đợi lúc ấy. Hai chị em cùng vội muốn đóng cửa hàng để lại ra ngoài kia, ngồi trên chỏng ngắm nhìn phong cảnh ngoài phố. Liên khóa vội tráp tiền với một chiếc chìa khóa chị đeo vào cái dây xà tích bạc (7) ở thắt lưng, chiếc xà tích và cái khóa chị quý mến và hãnh diện, vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang.
- A, cô bé làm gì thế?
Nghe câu nói tiếp theo một tiếng cười khanh khách, chị em Liên không cần ngoảnh mặt ra cũng biết là ai đã vào hàng. Đó là cụ Thi, một bà già hơi điên, vẫn mua rượu ở hàng Liên. Liên đã biết tính bà, chị lẳng lặng rót một cút rượu ti (8) đầy đưa cho cụ; chị không dám nhìn mặt cụ, và trong lòng hơi run sợ, chị mong cho cụ chóng đi. Cụ cầm cút rượu soi lên rồi cười gịn giã nói:
- A, em Liên thảo nhỉ. Hôm nay lại rót đầy cho chị đây.
Cụ ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch, rồi vừa chép miệng vừa lần ruột tượng trả tiền - Cụ để ba đồng xu vào tay Liên, xoa đầu chị một cái rồi lảo đảo bước ra ngoài. Hai chị em Liên đứng sững nhìn theo cụ đi lần vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng.
*
* *
Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngơ con dần dần chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng. Trẻ con tụ họp nhau ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ, khiến An thèm muốn nhập bọn với chúng để nô đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng, nên hai chị em đành ngồi yên trên chỏng, đưa mắt theo dơi những bóng người về muộn, từ từ đi trong đêm.
Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là trên mặt đất hay leo vào cành cây. An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông. Vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ và làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát hai chị em lại chúi nhìn về mặt đất, về quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chỏng hàng của chị Tí. Về phía huyện, một chấm lửa khác nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi, rồi lại hiện ra... An trỏ tay bảo chị:
- Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi.
Tiếng đòn gánh kĩu kịt nghe rơ rệt, khói theo gió tạt lại chỗ hai chị em: bác Siêu đã tới gần, đặt gánh phở xuống đường. Bác cúi xuống, nhóm lại lửa, thổi vào cái nứa con. Bóng bác mênh mang ngả xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngơ. An là Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được. Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chỉ được hưởng những thức quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền - được đi chơi bờ hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ. Ngoài ra, kỷ niệm nhớ lại không rơ rệt, chỉ là một vùng sáng rực và lấp lánh. Hà Nội nhiều đèn quá! Từ khi nhà Liên dọn về đây, từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và em cũng phải ngồi trên chiếc chỏng tre dưới gốc bàng với cái tối của quang cảnh phố chung quanh.
Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa. Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngơ vào làng lại sẫm đen hơn nữa. Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Thêm được một gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe.
Chị Tí phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng, chậm rãi nói:
- Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?
Chị muốn nói mấy chú lính trong huyện, mấy người nhà của cụ thừa, cụ lục (9) là những khách hàng quen của chị. Bác Siêu đáp vẩn vơ.
- Hôm nay trong ông giáo cũng có tổ tôm. Dễ họ không phải đi gọi đâu.
Vợ chồng bác xẩm góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng. Thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường. Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.
*
* *
An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn cố gượng để thức khuya chút nữa, trước khi vào hàng đóng cửa đi ngủ. Mẹ vẫn dặn phải thức đến khi tàu xuống - Ðường sắt đi ngang qua ngay trước mặt phố - để bán hàng, may ra còn có một vài người mua. Nhưng cũng như mọi đêm, Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm họ chỉ mua bao diêm, hai gói thuốc là cùng. Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn chuyến tàu. Chín giờ có chuyến tàu ở Hà Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.
- Ừ, em cứ ngủ đi.
Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người Liên; chị ngồi yên không động đậy. Qua khe lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu.
Trống cầm canh (10) ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối. Người vắng mãi, trên hàng ghế chị Tí mới có hai ba bác phu ngồi uống nước và hút thuốc lào. Nhưng một lát từ phố huyện đi ra, hai ba người cầm đèn lồng lung lay các bóng dài: mấy người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ ở tỉnh về. Bác Siêu nghển cổ nhìn ra phía ga, lên tiếng:
- Đèn ghi đã ra kia rồi.
Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Liên đánh thức em:
- Dậy đi, An. Tàu đến rồi.
An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào khe khẽ. Mấy năm nay buôn bán kém nên người lên xuống ít, có khi hai chị em đợi chờ chẳng thấy ai. Trước kia, ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả rồi, cũng im lặng tối đen như ngoài phố.
Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
- Tàu hôm nay không đông nhỉ, chị nhỉ.
Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình khư kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng.
- Thôi đi ngủ đi chị.
Liên vỗ vai em ngồi xuống chỏng. An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai Liên. Tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ dần, và mất dần trong bóng tối, lắng tai cũng không nghe thấy nữa. Sao trên trời vẫn lấp lánh. Cả phố huyện bây giờ mới thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn. Từ phía ga, bóng đêm lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ.
Liên quay lại nhìn em thấy An cũng đã ngủ say, tay nắm chặt tà áo chị và đầu vẫn dựa vào vai. Liên nhìn quanh đêm tối, gió đã thoáng lạnh và đom đóm không còn nữa. Chị cúi xuống vực em vào trong hàng, mắt cũng đã ríu lại. Chị gài cửa cẩn thận và vặn nhỏ đèn đặt trên cái quả thuốc sơn đen. Rồi Liên đến bên em nằm xuống. Chị gối đầu lên tay nhắm mắt lại. Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên và hình ảnh của thế giới quanh mình mờ đi trong mắt chị. Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Nhưng Liên không nghĩ được lâu; mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối.
Thạch lam
(Nắng trong vườn - Đời nay - Hà Nội, 1938)
Chú giải
(1) Thu không: chiều tối, lính huyện đánh trống thu quân và đóng cổng thành (thành bảo vệ huyện đường) sau khi xem xét trong thành không có gì khả nghi.
(2) Lính lệ: lính nhưng không có vũ trang chỉ làm các việc tạp dịch, hầu hạ quan lại, giữ trật tự trong dinh quan huyện.
(3) Thầy thừa: thừa phái. Một loại viên chức Nhà nước phụ trách công việc ở các pḥng khác nhau trong một huyện đường.
(4) Quả: một thứ dụng cụ dùng để đựng hàng khô, hình tròn có nắp, cốt trong bằng tre đan, bên ngoài thường sơn mầu đen hoặc mầu nâu, mầu đỏ.
(5) Nhật trình: báo hằng ngày.
(6) Làm hàng xáo: đong thóc, xay giã, giần sàng thành gạo rồi đem bán.
(7) Xà tích: một thứ đồ trang sức của phụ nữ ngày xưa thường là một sợi dây mạ bạc giắt ở thắt lưng có đeo chìa khóa, hộp vôi ăn trầu.
(8) Rượu ti: rượu do công ty rượu được Nhà nước (thời Pháp thuộc) bảo trợ sản xuất bán cho dân một cách hợp pháp.
(9) Cụ lục (lục sự): loại viên chức nhà nước ngành tòa án (ở đây là cấp huyện).
(10) Trống cầm canh: người xưa chia thời gian một đêm làm năm canh. Đầu mỗi canh có điểm trống.

45 phút từ TP.HCM tới Cần Thơ

45 phút từ TP.HCM tới Cần Thơ
(Copy từ https://thanhnien.vn/thoi-su/45-phut-tu-tphcm-toi-can-tho-1005655.html , tác giả: Hà Khanh ; đã đăng ngày 23/09/2018 06:12. .)
Sau gần 5 năm nghiên cứu, TP.HCM vừa chính thức kiến nghị Bộ GTVT điều chỉnh quy hoạch đường sắt cao tốc TP.HCM - Cần Thơ nhằm tối ưu hóa, tăng tính khả thi của dự án.
Tuyến đường sắt cao tốc TP.HCM - Cần Thơ được thực hiện sẽ kết nối trung tâm kinh tế trọng điểm phía nam với thủ phủ của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, rút ngắn thời gian di chuyển xuống còn 45 phút.
Đổi hướng, tiết kiệm 17.000 tỉ đồng
Theo quyết định của Bộ GTVT ngày 27.8.2013 phê duyệt Quy hoạch chi tiết đường sắt TP.HCM - Cần Thơ, tổng chiều dài toàn tuyến là 173,677 km với 14 ga, bắt đầu từ ga lập tàu An Bình (Bình Dương) đến Cần Thơ đi theo hướng tuyến dài nhằm tiếp cận các đô thị, thị xã hiện hữu của TP.HCM và 4 tỉnh miền Tây. Tuy nhiên, sau nhiều lần họp bàn, đại diện 5 tỉnh thành liên quan đã thống nhất với phương án đơn vị nghiên cứu đề xuất (Viện Khoa học - Công nghệ Phương Nam) là rút ngắn tuyến còn 139 km, chạy song hành với đường bộ cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận, hướng ngoại vi các đô thị hiện hữu. Vì thế, UBND TP.HCM vừa có văn bản kiến nghị Bộ GTVT điều chỉnh quy hoạch tuyến đường sắt này.
Cụ thể, đường sắt cao tốc TP.HCM - Cần Thơ gồm 10 ga, từ ga đầu Tân Kiên (TP.HCM) đi qua các ga thuộc tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long và ga cuối là cảng Cái Cui TP.Cần Thơ (ga nam Cần Thơ). UBND TP đánh giá việc điều chỉnh sẽ giảm khối lượng giải phóng mặt bằng, giúp các địa phương thuận lợi hơn trong phát triển các cụm đô thị kết nối với nhà ga, tăng hiệu quả sử dụng đất; đồng thời giúp giảm chi phí xây dựng và thiết bị kèm theo tới 17.000 tỉ đồng.
Ông Hà Ngọc Trường, Trưởng bộ môn đường sắt metro, Trường ĐH GTVT TP.HCM, đồng thời là chủ nhiệm đề án tuyến đường sắt này, cho biết có nhiều lý do để đơn vị tư vấn đề xuất chuyển hướng tuyến đường sắt cao tốc này. Thứ nhất, quy hoạch của Bộ GTVT chủ trương đi lòng vòng vào các khu dân cư để đón khách nhưng thực tế đường sắt cao tốc không nên làm gần khu vực đông dân cư, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thứ hai, đường sắt cao tốc quy hoạch 100 năm, trong khi khu vực đồng bằng sông Cửu Long nền đất yếu, nguy cơ ngập lụt, phải tính tới biến đổi khí hậu, chọn vị trí đất cao để xây dựng. Bên cạnh đó, theo đề xuất của đơn vị tư vấn, 10 ga sẽ được quy hoạch thành 10 thành phố mới với quy mô dân số tương đương một phường, xã gồm đầy đủ cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, nhà ở, trường học, bệnh viện, hệ thống siêu thị... theo tiêu chuẩn quốc tế. Việc chuyển hướng song song với đường cao tốc sẽ tối ưu hóa phát triển các ga - thành phố này, tạo điều kiện hấp dẫn nhằm thu hút các nhà đầu tư tham gia.
“Đường sắt nếu chỉ đến TP.HCM thì không thể gọi là đường sắt thống nhất. Trong điều kiện ngân sách như hiện nay, trước mắt cần nhanh chóng điều chỉnh quy hoạch để triển khai tuyến đường sắt cao tốc từ TP.HCM - Cần Thơ. Về lâu dài, phải kéo dài tuyến này xuống tận Cà Mau, kết nối với đường sắt cao tốc bắc - nam”, ông Trường nói.
Kết nối xe trung chuyển để khai thác đường sắt
Ủng hộ đề xuất của UBND TP.HCM, đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng cho rằng xây dựng các công trình cầu đường phải hạn chế qua các khu dân cư, vì không chỉ chi phí giải phóng mặt bằng cao mà còn gây nhiều rủi ro, nguy hiểm cho người dân. Đường sắt cao tốc càng không được phép đâm thẳng vào các khu dân cư. “Mục tiêu có tuyến đường sắt cao tốc, rút ngắn thời gian đi lại cho người dân đạt được, mà lại giảm được khoản chi phí đáng kể, rõ ràng phương án này là tối ưu. Vấn đề là đảm bảo rút ngắn quãng đường, rút ngắn chi phí nhưng không rút bớt quyền lợi của người dân. Việc di chuyển, kết nối vẫn phải được tính toán kỹ lưỡng”, ông Nhưỡng nói.
Đồng tình, PGS-TS Nguyễn Bá Hoàng, Phó hiệu trưởng Trường ĐH GTVT TP.HCM, nhận định trong bối cảnh giải phóng mặt bằng quá khó khăn như hiện nay, làm các công trình lớn đâm vào khu dân cư rất khó, vừa tốn tiền, vừa tốn nhiều thời gian, dẫn đến nguy cơ đội vốn như nhiều công trình giao thông hiện nay. Chuyển hướng song song đường cao tốc theo đề xuất của Viện Khoa học - Công nghệ Phương Nam hiệu quả hơn, vừa giảm chi phí giải phóng mặt bằng, vừa thi công nhanh, đảm bảo công trình đúng tiến độ. Tuy nhiên, ông Hoàng lưu ý nhược điểm của việc chuyển hướng là tuyến đường sắt cao tốc này sẽ không tiếp cận được với người dân tại các khu đô thị hiện hữu. Vì thế, cần có phương án kết nối bằng xe trung chuyển, xe buýt nhanh, xe điện nhẹ... để vừa đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, vừa đảm bảo khả năng khai thác của tàu.
“Phương án nào cũng có những ưu và nhược điểm nhất định. Tuy nhiên, nếu xét trên tổng thể, phương án của Viện Khoa học - Công nghệ Phương Nam đưa ra vẫn tối ưu hơn, lợi hơn quy hoạch của Bộ GTVT”, ông Hoàng đánh giá.
Cả vùng kinh tế phía nam hưởng lợi
Các chuyên gia đều cho rằng đường sắt TP.HCM - Cần Thơ cần nhanh chóng được triển khai thực hiện vì sau khi hoàn thành, dự án này sẽ đem lại lợi ích rất lớn cả về kinh tế, văn hóa và xã hội cho cả vùng kinh tế lớn phía nam.
Dẫn chứng các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc rất chú trọng phát triển đường sắt cao tốc, PGS-TS Nguyễn Bá Hoàng phân tích, loại hình vận tải này có khả năng cạnh tranh được với hàng không và đường bộ. Từ TP.HCM đi Cần Thơ chỉ mất 45 phút, đây sẽ là điều kiện rất tốt để thông thương, thúc đẩy kinh tế, giao lưu văn hóa liên vùng. Đồng thời, khối lượng vận tải lớn sẽ tiết giảm đáng kể tình trạng kẹt xe, quá tải đường bộ, giảm khí thải, giảm ô nhiễm môi trường.
Dự báo của đoàn nghiên cứu JICA (Nhật Bản) cho biết đến năm 2030, khối lượng vận tải hành khách trên hành lang TP.HCM - Cần Thơ sẽ tăng 4,8 lần so với năm 2008, khối lượng vận tải hàng hóa cũng sẽ tăng 3 lần so với năm 2008. Còn theo Viện Khoa học - Công nghệ Phương Nam: TP.HCM là trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía nam thuộc miền Đông Nam bộ, TP.Cần Thơ là trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, cửa ngõ của vùng tây Nam bộ. Việc đầu tư xây dựng đường sắt nối hai trung tâm kinh tế lớn phục vụ phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng là cần thiết.
Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho rằng công trình này nên được làm từ lâu vì ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản, hàng hóa lớn nhất cả nước, nằm kế trung tâm kinh tế lớn nhất nước là TP.HCM nhưng chưa thể “cất cánh” một phần cũng bởi chưa được đầu tư đúng mức về hạ tầng giao thông. Để đẩy mạnh kinh tế, vấn đề lưu thông hàng hóa phải được đặt lên hàng đầu. Hiện nay hàng hóa từ các tỉnh miền Tây lên TP.HCM bằng đường bộ quá tải, đường thủy thì bế tắc do lượng sông, hồ đang bị bồi, lấp ngày càng tăng. Việc xuất hiện loại hình đường sắt đối với vận chuyển hàng hóa cũng như vận chuyển hành khách liên tỉnh kết nối hai khu vực này là hoàn toàn cần thiết và quan trọng. “Nói đến kinh tế lan tỏa vùng và để đạt hiệu quả lớn, phải ưu tiên vận chuyển hàng hóa trước vận chuyển hành khách. Về mặt này, đường sắt và đường thủy có lợi thế hơn đường bộ”, ông Trinh nhận định.
Bài toán nguồn vốn
Đường bộ quá tải nên khu vực ĐBSCL rất cần đường sắt để “cất cánh”.ẢNH: THANH NGA
Dù ủng hộ việc khẩn trương xây dựng tuyến đường sắt nối TP.HCM với đồng bằng sông Cửu Long, song các chuyên gia cũng lưu ý về “bài toán vốn”.
Theo các chuyên gia, khó khăn lớn nhất khi phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đường sắt ở VN luôn là nguồn vốn. Làm đường sắt vốn đầu tư rất lớn nhưng ngân sách không đủ để bố trí. Việc kêu gọi tư nhân, xã hội hóa cũng rất khó khăn vì khả năng thu hồi vốn chậm. Kêu gọi vốn ODA cũng không đơn giản. Cũng vì lý do này, không ít dự án dù biết nếu thực hiện sẽ tác động rất lớn đến kinh tế, xã hội, nhu cầu đi lại của người dân nhưng vẫn ngậm ngùi nằm đó chờ đợi. Các dự án bị chậm tiến độ vì vốn thì phổ biến, khiến tổng vốn đầu tư tăng mạnh.
Liên quan đến vấn đề vốn cho dự án đường sắt cao tốc TP.HCM - Cần Thơ, đại diện Viện Khoa học - Công nghệ Phương Nam cho biết Viện đã chính thức ký kết Biên bản ghi nhớ (MOU) với Quỹ Morfund của Canada với quy mô vốn đầu tư cho dự án là 6,3 tỉ đô la Canada (tương đương 5 tỉ USD). Đơn vị này đang tiến hành thủ tục báo cáo Bộ GTVT, Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội trong năm nay, dự kiến sẽ triển khai dự án vào cuối năm. Theo phương án tài chính đang trình TP.HCM, công trình này sẽ được đầu tư theo hình thức PPP (đối tác công - tư), nhà nước chịu trách nhiệm phần giải phóng mặt bằng, còn tư nhân sẽ đảm nhận toàn bộ chi phí xây dựng.
Dẫn chứng bài học từ các nước Nhật Bản, Trung Quốc, PGS-TS Phạm Văn Hùng, Phân viện Khoa học - Công nghệ GTVT phía nam, lưu ý cần cân nhắc thật kỹ về phương án tài chính trong việc xây dựng các dự án đường sắt cao tốc. Bởi bài toán vốn không đơn giản với nhiều nước chứ không riêng gì VN. Đơn cử, tập đoàn đường sắt Trung Quốc, tập đoàn nhà nước hiện đang vận hành tàu cao tốc, bắt đầu xây dựng tuyến đường sắt cao tốc vào năm 2005. Gánh nặng nợ nần của tập đoàn này tăng chóng mặt theo số ki lô mét đường sắt xây mới. Cho đến cuối năm 2017, Trung Quốc tuyên bố giành lại ngôi vị phát triển được tàu chạy nhanh nhất thế giới thì cũng là lúc tập đoàn này mang nợ đến 100 tỉ USD. Tình trạng này cũng xảy ra tương tự với tập đoàn đường sắt Nhật cách đây vài thập niên. “Tất nhiên, giao thông phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển tốt. Nhưng không thể cứ mãi đi vay để xây đường, làm cầu... Các nước lớn như vậy, tiềm lực tài chính lớn như thế mà đầu tư đường sắt còn phá sản, nên cần phải tính toán thận trọng, kỹ lưỡng bài toán kinh tế đối với dự án lớn như tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ”, ông Hùng cảnh báo.
Hà Khanh

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

Truyện cười tháng 9-18

Truyện cười tháng 9-18
Copy từ https://vnexpress.net/tin-tuc/cuoi/tieu-pham/
Kẻ ngu dốt thường hay chắc chắn
Trong lớp học, cô giáo đang giảng bài.
Cô giáo: Người khôn ngoan luôn luôn biết nghi ngờ, còn kẻ ngu dốt thì lúc nào cũng tuyên bố chắc chắn.
Vova: Thưa cô! Cô tin chắc chứ ?
Cô giáo: Chắc chắn
Vova: Cô vừa nói: ‘kẻ ngu dốt thì lúc nào cũng tuyên bố chắc chắn’ mà.
Cô giáo: !!!
Bac Ba Phi tổng hợp

Lý do Eva yêu Adam









Một hôm gặp Đức Chúa, Adam hỏi:


- Eva thật xinh đẹp. Tại sao Người lại làm cho nàng đẹp thế?


- Để lúc nào con cũng muốn ngắm nàng.


- Làn da của nàng mới mịn màng làm sao.


- Để con lúc nào cũng muốn chạm vào nàng.


- Nàng có một mùi thơm thật dễ chịu.


- Để lúc nào con cũng muốn quấn quýt bên nàng.


- Thật tuyệt vời, sự tạo hóa của Người thật vĩ đại làm con vô cùng biết ơn. Nhưng có một điều mà con cứ thắc mắc là tại sao Đức Chúa lại làm cho nàng ngốc nghếch thế?


- Thế thì nàng mới yêu con chứ.


Tất Nhiên (st)






Nỗi khổ khi hẹn hò với tình già





Hai ông bà cô đơn sống trong viện dưỡng lão đã lâu quyết định đi ăn tối và xem phim cùng nhau.


Lúc trở về thấy bạn có vẻ buồn bã, cụ bà bạn cùng phòng hỏi:


- Có chuyện gì khiến bà buồn thế?


Bà này buồn bã đáp:


- Phải đi chơi với một lão khờ, tôi đã phải tát ông ấy đến ba lần!


- Thế thì khủng khiếp quá! Ở cái tuổi ấy rồi đáng nhẽ ông ấy phải biết xấu hổ lúc sàm sỡ bà chứ!


- Ông ấy đâu có sàm sỡ tôi. Tôi thậm chí đã phải tát đến ba lần để xem ông ấy đang ngủ hay đã chết đấy!


Tất Nhiên (st)

Chỉ cần nhắn tin có thể lấy số thứ tự mua vé tàu

Chỉ cần nhắn tin có thể lấy số thứ tự mua vé tàu
(Copy từ http://plo.vn/ban-doc/chi-can-nhan-tin-co-the-lay-so-thu-tu-mua-ve-tau-793439.html , tác giả: Thái Nguyên ; đã đăng ngày 22/9/2018 - 17:24.)
(PLO)- Ngoài việc trực tiếp đến mua vé, hành khách còn nhắn tin trên điện thoại để lấy số thứ tự mua vé tàu Tết.
Ông Đỗ Quang Văn, Giám đốc chi nhánh vận tải đường sắt Sài Gòn (TP.HCM), cho biết từ 8 giờ ngày 30-9, ga Sài Gòn bắt đầu phát số thứ tự bán vé tàu Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019.
Khách mua vé tàu có thể nhắn tin để lấy số thứ tự theo cú pháp: GASG TÊN XXXX gửi 8377. Trong đó GASG là mã số dịch vụ lấy số thứ tự của Chi nhánh vận tải đường sắt Sài Gòn; TÊN là tên của người đến mua vé, tên viết liền, không dấu; XXXX là 4 ký tự cuối của giấy tờ tùy thân (căn cước, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, bằng lái...)
Sau đó, để kiểm tra số thứ tự mua vé hiện đang phục vụ đến số bao nhiêu, khách soạn tin theo cú pháp: GASG KT gửi 8377.
Theo ông Đỗ Văn Quang, hành khách có thể nhắn tin lấy số từ 8 giờ ngày 30-9; khách hàng có mã đặt chỗ lấy số thứ tự trực tiếp tại ga; thời gian nhắn tin lấy số thứ tự: Từ 8 giờ đến 18 giờ hàng ngày;
Từ ngày 1-10-18 bán vé từ 8 giờ. Từ ngày 2-10 bán vé từ 7 giờ đến 22 giờ; số lượng số thứ tự cấp mỗi ngày là 1.500 số và cấp liên tục cho đến hết 7.500 số dùng để mua vé tàu tết trong năm ngày (từ 1-10-2018 đến 5-10-2018).
Từ ngày 6-10-18 khách hàng mua vé tàu Tết lấy số thứ tự trực tiếp tại ga, mỗi số thứ tự mua không quá bốn vé.
Dịp Tết Nguyên đán 2019, ga Sài Gòn tổ chức phục vụ hành khách từ 23-1-2019 (tức ngày 18 tháng Chạp) đến hết 22-2 (tức 18 tháng Giêng).
Tàu số chẵn (chạy Sài Gòn - Hà Nội) xuất phát từ ga Sài Gòn lúc 0 giờ ngày 25-1-19 (20 tháng Chạp) đến hết ngày 3-2-19 (29 tháng Chạp).
Tàu số lẻ (hướng Hà Nội đi Sài Gòn) xuất phát từ 0 giờ ngày 8-2-19 (mùng 4 tháng Giêng) đến hết ngày 15-2-19 (tức ngày 11 tháng Giêng).
Dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, ga đường sắt Sài Gòn sẽ tổ chức chạy 10 đôi tàu khách Thống Nhất, 12 đôi tàu khách Khu Đoạn.
Trong thời gian nghỉ Tết từ ngày 3 đến 7-2, ga tổ chức chạy thêm các đôi tàu tuyến Sài Gòn - Huế, Sài Gòn - Đà Nẵng, Sài Gòn - Tam Kỳ, Sài Gòn - Quảng Ngãi và Sài Gòn - Nha Trang. Cung ứng tổng cộng 300.000 chỗ.
Khách có nhu cầu đổi, trả vé chậm nhất trước 10 giờ với vé cá nhân và 24 giờ với vé tập thể trước giờ tàu chạy, phí khấu trừ 30% mỗi vé.
Thái Nguyên

Con vượn lông đỏ

Con vượn lông đỏ
Truyện ngắn " Con vượn lông đỏ" copy từ tập truyện "Đêm qua sân trước một cành mai", tác giả: Nguyễn Tường Bách ; đã xuất bản tháng 02 năm 1989 tại Cộng Hòa Liên Bang Đức; NXB Phương Đông(VN) tái bản lần 1 vào quý 1 năm 2016.
Lời tựa: Những mẫu chuyện này được viết trong những ngày cuối hạ, dầu thú 1988.
Lúc đầu, tác giả không có ý định xuất bản, chỉ muốn tập hợp lại vài tâm tư và quan sát trong nhiều năm qua, cho một số bạn hữu và chính mình. Vì vậy người viết cảm thấy tự do, không ngại sử dụng nhiều ý tứ và cách dùng chữ xa lạ khó hiểu. Người đọc, có ai tìm được vài pháp lạc thì đó là niềm vui cao quý cho tác giả.
Tập truyện này xuất bản được là nhờ khuyến khích và giúp đỡ từ nhiều phía. Xin chân thành cảm ơn tất cả.
Cộng Hòa Liên Bang Đức, tháng 2 năm 1989
Nguyễn Tường Bách
* * * * *
Tập truyện "Đêm qua sân trước một cành mai" gồm 8 truyện: Chuyện người kỹ nữ ; Người nuôi thú bên bờ biển ; Con vượn lông đỏ ; Người đạo sỹ bên gốc thông già ; Gã chèo đò và sáu cây chùy ; Tên tiểu đồng trên cây đào tiên ; Bên đàn vịt trời ; Chuyện người văn sĩ.
Sau đây là truyện " Con Vượn lông đỏ ".
* * * * *
Vùng kia có một ngọn núi lửa, mấy mươi dặm xung quanh không có người ở. Thú rừng, chim chóc cũng không sống được, cảnh vật vô cùng hoang vắng.
Trong vùng rừng núi đó chỉ có độc nhất một con vượn sống đã lâu. Vượn có màu lông đỏ như lửa, người ta gọi là "hỏa hầu". Những lúc núi phun lửa, vượn vui mừng nhảy nhót, tắm mình trong ánh lửa. Vượn mê thích lửa hồng và hơi nóng, tự nhủ suốt đời sẽ không bao giờ xa ánh lửa.
Một thời gian dài, núi không phun lửa. Vượn trông ngóng đợi chờ, ngày càng bồn chồn. Bỗng một đêm khuya, y thấy từ xa một ánh đèn leo lét. Men theo ánh lửa, thì ra đó là trú xá của một tu sĩ. Kể từ đó, y làm bạn với người tu sĩ, ngày ngày hái hoa quả biếu tặng. vị tu sĩ tụng kinh văn suốt ngày, vượn không hiểu gì nhưng y yêu thích tiếng tụng kinh ngân nga êm đềm ấy.
Vượn sống giữa ánh lửa và lời kinh như thế từ năm này qua năm khác. Một ngày kia bỗng vượn khởi lên tâm ý muốn rời bỏ ánh lửa, tìm một nơi xa lạ. Tâm ý vừa khởi, vượn lập tức thấy mình đã ở cảnh giới khác, nhộn nhịp người qua kẻ lại. Vừa móng ý muốn thành người, hỏa hầu đã biến thành một con người cao lớn, lanh lẹ, quần áo chỉnh tề có sắc hồng nhạt.
Trong cảnh giới con người, y sống lẫn lộn không ai hay biết. Y ngạc nhiên nhận ra loài người có tâm ý cực kỳ phức tạp. Họ sống chung với nhau tưởng chừng như trong cùng một thế giới, nhưng cứ mỗi người lại ở một thế giới riêng biệt của mình. Các thế giới riêng đó hòa vào nhau, tác động lẫn nhau, không trở ngại nhau, như hai nguồn sáng từ hai ánh lửa hòa vào nhau không ngăn lại. Tâm ý loài người càng phức tạp thì mỗi thế giới đầy buồn vui của họ càng biến ảo, chuyển dịch, phát triển không bao giờ ngừng nghỉ.
* * *
Sống một thời gian, vượn càng ngày càng sợ cảnh giới đầy hạnh phúc và đau khổ của loài người và càng nhớ tới ngọn núi đầy lửa và miền rừng hoang vắng của y.
Một ngày kia, y thấy dâng lên trong lòng niềm thèm khát một ngọn lửa hồng. Vừa móng ý, y đã đến một nơi vắng vẻ không người qua lại. Nhìn lên, trời mây đỏ như máu. Bỗng nghe tiếng ai than khóc, y lần bước bên đường. Nhìn người đàn bà kiệt sức, vượn thương xót, lấy nắm cơm bỏ vào tay.. Cầm nắm cơn, người đàn bà bỗng la lên " lửa, lửa" và đưa mắt nhìn vượn vừa sợ hãi vừa ái ngại.
Vượn ôm đầu đau đớn:
- Thì ra nghiệp lửa của ta nặng đến thế ư, tất cả những gì vào tay ta đều hóa thành lửa chăng?
Bỗng từ đâu xuất hiện một người trẻ tuổi, vẻ mặt buồn rầu. Y xót thương nhìn người đàn bà rồi lại vái chào vượn:
- Người hãy hoan hỉ, đó không phải là nghiệp của người, đó là nghiệp của mẹ ta.
Vượn phân vân không hiểu sao người kia biết được tâm mình, thì người đàn bà bõng ngước nhìn người đàn ông, mắt đầy bóng tối.
- Mục Kiều Liên, con không cứu ta được nữa đâu, tội nghiệt ta đã quá nặng rồi.
Người đàn bà nói xong bỗng sấm trời vang dậy,điện quang sáng lòa, đại địa rung chuyển dữ dội, hất tung vượn lên cao. Vượn vừa uốn mình đứng vững thì nhác thấy trời mây đổi màu, xanh như ngọc. Thoáng nghe tiếng nói của Mục Kiều Liên:
- Mẫu thân, mẫu thân vừa tự cứu mình!
Lòng vượn dạt dào bâng khuâng, ước mơ trở về lối cũ. Ý vừa khởi, vượn đã về chốn xưa. Giờ đây rừng đã xanh tươi, miệng núi lửa đã trở thành một hồ nước trong xanh. Vượn ngơ ngác nhìn quanh thì thây một nơi có ấm chút lửa hồng. Vượn vừa đến đó thì một cụ già vừa tới. Vượn vội rùng mình lấy nhân dạng, vái chào hỏi han cảnh vật. Cụ già đáp:
- Nơi đây ngày xưa là một vùng núi lửa, không có người ở. Thú rừng và chim muông cũng không hề lui tới. Đặc biệt chỉ có một con vượn lông đỏ sống đến già và chết ở nơi đây. Chỗ người đang đứng chính là chỗ chôn con vượn đó.
Lòng vượn nao nao, thì ra mình đã hết nghiệp làm vượn nhưng nghiệp lửa vãn còn phảng phất nơi nắm xương tàn. Y bỗng nhớ tới vị tu sĩ ngày xưa vô hạn, không biết người đang ở cảnh giới nào.
Ý vừa khởi, y bỗng thấy người tu sĩ đang tụng kinh văn, êm đềm như xưa. Lắng tai nghe lời kinh văn vẫn khó hiểu nhưng giọng tụng đầy âm thanh du dương sảng khoái. Vận dụng tâm ý loài người, bỗng vượn nghe lõm bõm ra mấy chữ "... muôn sự tại tâm, vạn phúc tại thức ..."
Y rùng mình tỉnh ngộ.
Nguyễn Tường Bách

9 điều phải nhớ để tránh chạm chập điện gây cháy nổ chết người

9 điều phải nhớ để tránh chạm chập điện gây cháy nổ chết người
Copy từ http://plo.vn/an-ninh-trat-tu/9-dieu-phai-nho-de-tranh-cham-chap-dien-gay-chay-no-chet-nguoi-793302.html , tác giả: Nguyễn Trà ; đã đăng ngày 23/9/2018 - 07:12.
(PLO)- Những thói quen rất nhỏ nhưng chỉ cần để ý thực hiện có thể góp phần hạn chế tối đa việc xảy ra chạm chập điện gây cháy nổ, chết người.
Theo thống kê, các vụ cháy nổ xảy ra hầu như đến từ sự cố điện, chiếm 50% nguyên nhân xảy ra sự cố.
Tại Hội nghị trực tuyến về công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hội vừa diễn ra sáng nay (21-9), ông Đại Ngọc Giang, đại diện Tập đoàn Điện lực, đã chia sẻ những khó khăn bất cập trong an toàn sử dụng điện, đồng thời chỉ ra 9 giải pháp trọng điểm để đảm bảo an toàn sử dụng điện trong hộ dân, cơ quan, công sở như sau.
1- Lắp đặt thiết kế phải tính toán
Để chồng chéo dây dẫn điện dễ dẫn tới nguy cơ cháy nổ. Ảnh minh họa.
Ngay từ đầu khi lắp đặt thiết kế phải tính toán và lựa chọn tiết diện dây dẫn sao cho đủ khả năng tải dòng điện đến các thiết bị tiêu thụ điện mà nó cung cấp.
Điểm nối vào mạch rẽ ở hai đầu dây nóng và nguồi không được trùng lên nhau, khi thấy nơi quấn băng của các điểm nối dây bị khô và cháy sáng phải kiểm tra ngay và nối chặt điểm nối.
Đường dây dẫn, cầu chì, cầu dao không để bị gỉ, nếu gỉ thì nơi gỉ chính là nơi phát nhiệt lớn và dễ phát lửa khi bị quá tải, cần được thay mới.
2- Dây chảy của cầu chì phải đúng tiêu chuẩn
Kiểm tra lắp đặt Áptômát hoặc cầu dao điện tổng cho đường dây điện chính trong nhà và cho từng đường dây điện phụ, từng gian phòng và từng thiết bị điện có công suất lớn. Phải đặt thiết bị bảo vệ trước từng ổ cắm điện, dây chảy của cầu chì phải đúng tiêu chuẩn và phù hợp với công suất sử dụng, đảm bảo khi xảy ra chạm chập điện thì dây chảy phải nổ, cắt ngay nguồn điện.
Không dùng giấy bạc hoặc dây kim loại khác không phù hợp để thay thế dây chảy cầu chì, cầu dao, Áptômát bị hỏng. Trang bị máy ổn áp để tránh hiện tượng gây cháy nổ do quá dòng, quá áp.
3- Ra khỏi nhà phải tắt hết thiết bị điện
Trước khi ra khỏi nhà phải tắt tất cả các thiết bị tiêu thụ, đồ dùng điện và trước khi đi ngủ phải kiểm tra lại các thiết bị, đồ dùng như đèn quạt. Cắt điện đối với những thiết bị không cần thiết.
Hội nghị trực tuyến PCCC tại điểm cầu TP.HCM. Ảnh: NGUYỄN TRÀ
4- Cấm dùng nước dập lửa khi chưa cắt điện
Khi xảy ra cháy do sử dụng điện phải nhanh chóng cắt cầu dao điện tổng, báo cho mọi người xung quanh biết, báo Cảnh sát PCCC và dùng phương tiện chữa cháy tại chỗ dập lửa.
Cấm dùng nước dập lửa khi chưa cắt điện. Mỗi hộ dân nên trang bị 1 đến 2 bình chữa cháy xách tay bằng khí chữa cháy điện khi mới phát sinh.
5- Thường xuyên kiểm tra đầu nối điện
Thường xuyên kiểm tra đầu nối của hệ thống điện (công tắc, ổ cắm, hộp đấu dây, mối nối trên đường dây). Nếu có hiện tượng đánh lửa phải tách chúng ra khỏi nguồn điện và sửa chữa hoặc báo cho thợ điện đến sửa chữa.
Vụ cháy quận 3 khiến 6 người một nhà chết thảm, hỏa hoạn xác định bắt nguồn từ chiếc xe máy.
Đối với các loại thiết bị có sử dụng nguồn điện như ô tô xe máy... khi đưa vào gara, nhà ở để bảo quản qua đêm, nên ngắt các thiết bị tiêu thụ điện và rút chìa khóa ra khỏi ổ cắm đề phòng chạm chập, gây cháy.
6- Không đặt chất gây cháy gần thiết bị điện
Lắp đặt các thiết bị chiếu sáng phải gắn vào các móc treo chuyên dùng, không treo trực tiếp bằng dây dẫn. Không dùng vật liệu cháy được như bông, vải …để bao che bóng điện.
Không đặt các chất gây cháy (ga, xăng, dầu, giấy…) gần các thiết bị, dụng cụ điện (đèn, bàn là, bếp điện, ổ cắm điện, bảng điện… Không lắp đặt ổ cắm điện trong nhà vệ sinh, nhà tắm.
7- Đun nấu, sử dụng điện phải có người trông coi
Để hạn chế nguy cơ gây cháy khi sử dụng các thiết bị như bàn ủi, bếp điện, các thiết bị gia nhiệt bằng điện trở phải có người trông coi hoặc các thiết bị phải được lắp hệ thống báo.
Không để trẻ nhỏ, người già mắt kém, người bị bệnh tâm thần… sử dụng thiết bị điện, đồ dùng điện trong nhà.
8- Không phơi treo quần áo trên dây điện
Không phơi treo quần áo, khăn mũ, tranh ảnh trên dây điện và bảng điện. Không cắm dây dẫn trực tiếp trên ổ cắm. Không dùng đinh, dây thép để buộc giữ dây điện vì chỗ tiếp xúc sẽ bị ăn mòn. Không luồn dây điện qua mái lá, mái tôn, câu mắc điện tùy tiện, để hở các mối nối dây điện.
9- Sửa chữa, thay thế thiết bị điện cũ
Những thiết bị, đồ dùng điện trong nhà đã cũ phải được kiểm tra thường xuyên để sửa chữa hoặc thay thế. Thường xuyên bảo dưỡng, vệ sinh cho thiết bị dụng cụ điện.
Khi không có nhu cầu sử dụng các thiết bị tiêu thụ điện nữa hoặc đang sử dụng mà bị mất điện thì phải ngắt ngay các thiết bị điện ra khỏi nguồn điện như bàn là, lò sưởi, bếp điện… Phải đặt trên vật liệu không cháy và đúng nơi quy định.
Nguyễn Trà

Chuyện người kỹ nữ

Chuyện người kỹ nữ
Truyện ngắn " Chuyện người kỹ nữ " copy từ tập truyện "Đêm qua sân trước một cành mai", tác giả: Nguyễn Tường Bách ; đã xuất bản tháng 02 năm 1989 tại Cộng Hòa Liên Bang Đức; NXB Phương Đông(VN) tái bản lần 1 vào quý 1 năm 2016.
Lời tựa: Những mẫu chuyện này được viết trong những ngày cuối hạ, đầu thu 1988.
Lúc đầu, tác giả không có ý định xuất bản, chỉ muốn tập hợp lại vài tâm tư và quan sát trong nhiều năm qua, cho một số bạn hữu và chính mình. Vì vậy người viết cảm thấy tự do, không ngại sử dụng nhiều ý tứ và cách dùng chữ xa lạ khó hiểu. Người đọc, có ai tìm được vài pháp lạc thì đó là niềm vui cao quý cho tác giả.
Tập truyện này xuất bản được là nhờ khuyến khích và giúp đỡ từ nhiều phía. Xin chân thành cảm ơn tất cả.
Cộng Hòa Liên Bang Đức, tháng 2 năm 1989
Nguyễn Tường Bách
* * * * *
Tập truyện "Đêm qua sân trước một cành mai" gồm 8 truyện: Chuyện người kỹ nữ ; Người nuôi thú bên bờ biển ; Con vượn lông đỏ ; Người đạo sỹ bên gốc thông già ; Gã chèo đò và sáu cây chùy ; Tên tiểu đồng trên cây đào tiên ; Bên đàn vịt trời ; Chuyện người văn sĩ.
Sau đây là truyện " Chuyện người kỹ nữ".
* * * * *
Vùng nọ, có một đô thị sầm uất, dân cư đông đúc, khí hậu điều hòa. Thương thuyền lui tới tấp nập bất kể ngày đêm, người đi như hội.
Đô thị ngày càng mở rộng nhưng chỗ đẹp nhất vẫn là khu phố cổ, nhiều ngõ ngách nhỏ hẹp ẩn mình dưới hàng liễu rũ xanh tươi. Khách xa tới đây đều tấm tắc khen là thiên đường hạ giới.
Trong khu phổ cổ có một kỹ viện, xây dựng lên từ đời nào không rõ. Kỹ viện có nhiều nàng kỹ nữ xinh đẹp, múa rất hay. Thương nhân đến đây lắm kẻ quên đường về.
Trong các nàng kỹ nữ, có một nàng kiều nữ, mặt đẹp như ngọc. Nàng không múa bao giờ, chỉ ca hát. Đặc biệt nàng tự ôm đàn, vừa đàn vừa ca, không hát cùng ai, không để cho ai đàn họa theo. Hàm răng trắng đều, nàng thường nở nụ cười tuyệt đẹp. Khách ra về bâng khuâng không biết lưu luyến tiếng hát hay nụ cười. Tông tích người kỹ nữ này không ai rõ, chỉ biết nàng đã vào kỹ viện rất sớm. Cũng không ai biết ai dạy nàng hát, chỉ thấy mỗi lần hát, nàng đưa hồn vào lời ca tiếng hát, khách nghe đôi khi không biết mộng hay thực. Khách yêu tiếng hát thì nhiều nhưng không ai dám hỏi nàng làm vợ. Còn nàng thì hình như cũng chẳng thiết tha tới ai, sống một mình một bóng.
Ngày qua ngày, người kỹ nữ hát càng điêu luyện, nhưng nàng chỉ còn thích hát một vài bài đắc ý, mỗi lần hát hầu như nàng lạc qua một thế giới khác.
* * *
Một buổi chiều kia, trời mưa dầm, nàng cảm thấy cô đơn vô hạn. Khách nghe thì nhiều nhưng thế giới hầu như trống rỗng, vắng lặng. Nàng nhìn mưa rơi tự hỏi “trời đất bao la thế này thôi sao, trượng phu quân tử chỉ chừng đó thôi sao?” Nàng bất giác ôm hồ cầm:
Tích tịch tình tang
Vỗ gươm mà hát,
nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ.
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường
Hồ trường hề! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu
Rót về Đông phương, biển Đông nổi sóng sinh cuồng loạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong heo hút cát chạy đá giương
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về phương Nam, trời Nam mờ mịt.
Có người quá chén như điên như cuồng ... (1)
Hát xong lệ tuôn như mưa, khách nghe ngậm ngùi, không ai nói điều gì.
Bỗng trong đám người nghe, có một người khách lạ đứng dậy nắm lấy cây hồ cầm. Người này có vẻ là một lữ hành, áo quần mang nét phong sương, mặt còn trẻ, dáng điệu có chút bối rối. Vừa so dây, người lữ khách vừa nói:
- Mời nàng hát lại bài Hồ trường, lần này ta xin đàn cho nàng hát.
Người kỹ nữ ngỡ ngàng nhìn lữ khách. Nàng chưa kịp nói gì thì y đã tấu lên vài tiếng nhạc. Đàn hồ cầm vốn quen nhạc réo rắt, nhưng trong tay kẻ lữ hành lại khác hẳn. Âm sắc vang lên ấm như mùa xuân, tươi như hoa nở, sáng như bình minh.
-Tích tịch tình tang
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết, lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ.
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây (1)
Cùng tiếng đàn của người khách lạ, nàng cảm giác như có đôi nam nữ sóng vai nhìn bốn phương tám hướng, niềm cô đơn tan biến tự bao giờ.
Nàng vừa hát xong, còn vương niềm vui sướng, người lữ khách đã đặt cây hồ cầm lại chỗ cũ, nói:
- Đường vào đạo có tám vạn bốn ngàn ngõ, thanh âm cũng là đạo. Trong các loại thanh âm thì im lặng là thanh âm vi diệu nhất.
Người kỹ nữ nghe câu nói, không kịp suy nghĩ gì thêm, nàng ngước mắt nìn lữ khách, mắt long lanh, muốn hỏi tên tuổi. Y im lặng đầm ấm nhìn lại, không nói gì, xoay người đi thẳng.
Mấy ngày sau, chiều nào người kỹ nữ cũng đợi lữ khách nọ trở lại. Nhưng ngày qua ngày không còn thấy tăm dáng của người đó đâu. Ngỡ rằng y là thương nhân, nàng ra phố xá, bến sông để tìm kiếm, nhưng y vẫn biệt tăm.
Sau một thời gian chờ đợi, người kỹ nữ tuyệt vọng, ngày càng mòn mỏi. Nàng chỉ biết hát bài Hồ trường, tự ôm đàn mà hát, lời ca càng ảo não hơn xưa.
Cứ thế, ngày qua ngày, mấy mùa xuân trôi qua nàng không còn để ý tới.
* * *
Một sáng kia, còn chưa tỉnh giấc, nàng bỗng nghe tiếng hát:
- Như mẹ hiền thương yêu con một
Dám hy sinh bảo vệ cho con
Với muôn loài ân cần không khác
Lòng ái từ như bể như non..(2)
Nàng nhìn qua cửa sổ, thì ra đó là tiếng hát của một bà cụ ăn xin. Cụ bà ngồi bên vệ đường, đầy người qua kẻ lại. Mặt mày ủ dột, vai mang một cái bị nhỏ bạc màu. Giọng người ăn xin yếu ớt, sắc âm thô kệch, nhưng lời ca nghe rõ từng tiếng. Khách qua đường không mấy ai để ý, nàng thương xót sai trẻ cho ít nắm cơm.
* * *
Ngày tháng trôi qua, tuy không nguôi thương nhớ người lữ khách ngày xưa, nàng kỹ nữ cũng không còn mong ngày gặp lại. Còn cụ bà ăn xin ngày nào cũng ngồi xin gần cửa sổ của phòng nàng, chỉ thuộc vỏn vẹn một bài hát, hát lui hát tới chỉ một bài đó. Nàng kỹ nữ nghe hoài cũng thuộc lòng.
Một buổi sáng kia, nàng thức giấc lúc bình minh chưa rạng hẳn. Đứng ngắm mặt trời vừa lên, nàng bổng nhớ âm sắc rực sáng của tiếng đàn người lữ khách chiều nọ. Hốt nhiên nàng cất tiếng hát bài ca của bà cụ ăn xin, đưa hồn vào từng ý nhạc. Nàng đứng nghe tiếng mình hát như nghe tiếng ai hát. Đến đoạn:
- Có hình tướng hay không hình tướng
Ở gần ta hoặc ở nơi xa
Đã sinh rồi hoặc sắp sinh ra
Cầu cho tất cả đều an lạc.(2)
Bỗng nhiên nàng như lạc vào thế giới của chim chóc đang sống xung quanh. Tiếng chim hót dường như không phải chỉ có nhạc mà còn có lời, bỗng một tiếng chim cất lên:
- Vái chào cô nương! Vái chào cô nương!
Nàng ngỡ ngàng nhìn quanh. Bỗng một con chim câu sà xuống bên cạnh, nàng nhìn chằm chặp, hỏi chim:
- Ngươi hiểu tiếng người, hiểu ta nói chăng?
Chim đáp:
- Em hiểu cô nương, hiểu cả ý tứ cô nương nữa. Cô nương hát hay lắm nhưng âm thanh buồn quá.
Nàng kỹ nữ ngạc nhiên cười khanh khách nhưng giọng bỗng chùng xuống:
- Ta buồn sao ngươi biết được?
Chim câu thong thả trả lời:
- Cô nương buồn vì gã thiền sư đó, ai lại không biết.
Nàng kỹ nữ ngạc nhiên cực độ. Chim hiểu ý nói tiếp:
- Người gảy đàn cho cô nương mấy năm về trước là một gã thiền sư phiêu bạt, không gia đình, không bè bạn.
Nàng nửa tin nửa ngờ hỏi:
- Thiền sư sao vào kỹ viện nghe hát?
- Gã thiền sư đó đã tu dưỡng tới trình độ phi thường, nhưng y vướng nghiệp mê tiếng hát kỹ nữ. Có lần y đi khất thực, bên song nghe tiếng hát của cô nương…
Nghe nói đến người lữ khách, nàng hỏi dồn dập:
- Thế bây giờ y ở đâu, ta còn gặp lại y được nữa không?
Chim lắc đầu:
- Y đã qua cảnh giới hòa âm thiên, một thế giới xây dựng thuần túy bằng thanh âm, y không trở lại đời này nữa.
Nghe xong, nàng kỹ nữ hết sức đau đớn. Nàng ôm đàn nức nở:
- Giờ còn mong chi người hát theo đàn
Giờ còn mong chi hợp cánh hoa tàn
Lời đàn năm xưa xe kết đôi lòng
Lời đàn năm nay đôi lứa xa vời (3)
Tiếng đàn giọng hát chưa bao giờ u uất như vậy. Cùng tiếng hát, nàng bỗng chốc đi vào một thế giới mưa gió sầu thảm, xa xa có tiếng suối reo sóng vỗ. Khắp nơi nước xanh trong một màu, không còn tiếng chim chóc nữa.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, nàng lại cất tiếng hát với ước mong gặp lại chim để hỏi chuyện thiền sư. Nhưng lần này nàng không rời bỏ được tâm ý loài người. Nàng hát suốt một ngày bài ca ăn xin với hy vọng nghe hiểu được tiếng loài chim nhưng vẫn không được.
* * *
Ngày tháng trôi qua, nàng kỹ nữ thương nhở người lữ khách kia vô hạn nhưng tâm tư nhẹ nhàng thảnh thơi. Một ngày kia, nàng ngạc nhiên thấy mình rũ bỏ tâm bi lụy tự bao giờ. Tiếng hát vút cao:
Nhưng thôi, tiếc mà chi,
Chim rồi bay, anh rồi đi
Đường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng
Gửi gió cho mây ngàn bay…(4)
Một đêm trăng nọ, trăng sao vằng vặc, nàng ngắm ánh trăng đọng trên cành cây ngọn cỏ. Ánh trăng trong mát, soi sáng muôn vật, không sở cầu, không phân biệt. Lòng không gợn chút cầu mong, hồn nhiên như ánh trăng, nàng bỗng hát bài ca người ăn xin. Đến đoạn:
- Tung rải từ tâm khắp vũ trụ
Mở rộng tình thương không giới hạn
Tầng trên, tầng dưới và khoảng giữa
Không vướng mắc, oán thù, ghét bỏ. ..(2)
Bỗng nhiên, nàng thấy mình đi từ thế giới này qua thế giới khác, như đi cả vũ trụ. Tâm tư thế nào, thế giới ấy liền biểu lộ, không hề vướng mắc, mỗi thế giới đều có một thanh âm khác nhau, chỗ nhẹ nhàng, nơi bi lụy, chốn say đắm, nơi thâm trầm. nàng sực nhớ lời người lữ khách
- Trong các loại thanh âm, thì im lặng là thanh âm vi diệu nhất! .
Vừa nhớ tới câu đó, một thế giới thù thắng hiện ra, đầy âm thanh mỹ diệu trầm bổng mà nàng chưa bao giờ được nghe. Nàng đang bỡ ngỡ thì kẻ lữ khách năm xưa hiện ra, ánh mắt đầm ấm không hề thay đổi. Nàng bồi hồi cầm tay người lữ khách, mắt long lanh. Y cầm sẵn trong tay một cây đàn, vừa tấu lên vài tiếng nhạc, nàng cảm thấy sung sướng không thể nào tả xiết. Từ đó, trong thế giới hòa âm đầy thiên nhạc có tiếng tịch tình tang của một cây hồ cầm...
Một ngày kia, nàng kỹ nữ muốn trở về thăm quê cũ. Lấy nhân dạng của một bà già, nàng quay lại phố xưa. Đô thị ngày càng phát triển nhưng khu phố cổ với những ngõ ngách dưới rặng liễu xanh vẫn không thay đổi. Kỹ viện xưa vẫn còn, kẻ ra người vào không ngớt. Nàng đi đến cửa sổ phòng ngày xưa của mình, cảnh vật không hề đổi thay, kẻ ăn xin ngày nay nhiều hơn trước. Tại chỗ bà cụ ngồi ngày xưa, ai đã xây một cái miếu thờ, đề chữ “Hành Khất Miếu”.
Nàng hỏi chuyện thì có bà cụ giải thích:
- Mấy mươi năm trước, có một bà cụ ăn xin ngồi đây từ năm này qua năm khác. Bỗng một buổi tối sáng trăng, cụ đứng dậy bỏ đi. Có người hỏi đi đâu, cụ nói: “Chuyện cần làm đã làm xong, ta không trở lại đời này nữa”. Nói xong biến mất. Có lẽ đó là một bà tiên giáng phàm thử lòng người trần. Từ đó dân chúng ở đây xây miếu thờ, hương khói không khi nào dứt.
Nàng kỹ nữ rùng mình, tới trước miếu thờ vái lạy. Trên bệ miếu, nàng thấy túi vải bạc màu của bà cụ ngày xưa. Mởi túi vải ra chỉ có một cuốn sách nhỏ nhàu nát ghi mấy hàng chữ, đọc kỹ chính là bài ca ngày đó. Gấp cuốn sách lại, bìa đề ba chữ “Kinh Từ Bi” . Người kỹ nữ nao nao trong dạ. Thì ra bài này là một bài kinh, tên gọi là “Kinh Từ Bi”. Bất giác nàng ngồi xuống vệ đường, thương nhớ và biết ơn cụ già vô hạn, ca lại bài ca.
Trẻ con thấy một người ra vẻ ăn xin ca bài ca lạ tai, vỗ tay reo cười.
Trong kỹ viện, có ai đó vừa ngưng đàn.
Chú thích: (1): Trích Hồ trường, một sáng tác của Nguyễn Bá Trác đầu thế kỉ 20. (2):Kinh Từ Bi Metta-Sutta. (3): trích Cung Đàn Xưa, nhạc Văn Cao (4): Trích Gửi gió cho mây ngàn bay, nhạc của Đoàn Chuẩn, Từ Linh.
Nguyễn Tường Bách