Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

Con vượn lông đỏ

Con vượn lông đỏ
Truyện ngắn " Con vượn lông đỏ" copy từ tập truyện "Đêm qua sân trước một cành mai", tác giả: Nguyễn Tường Bách ; đã xuất bản tháng 02 năm 1989 tại Cộng Hòa Liên Bang Đức; NXB Phương Đông(VN) tái bản lần 1 vào quý 1 năm 2016.
Lời tựa: Những mẫu chuyện này được viết trong những ngày cuối hạ, dầu thú 1988.
Lúc đầu, tác giả không có ý định xuất bản, chỉ muốn tập hợp lại vài tâm tư và quan sát trong nhiều năm qua, cho một số bạn hữu và chính mình. Vì vậy người viết cảm thấy tự do, không ngại sử dụng nhiều ý tứ và cách dùng chữ xa lạ khó hiểu. Người đọc, có ai tìm được vài pháp lạc thì đó là niềm vui cao quý cho tác giả.
Tập truyện này xuất bản được là nhờ khuyến khích và giúp đỡ từ nhiều phía. Xin chân thành cảm ơn tất cả.
Cộng Hòa Liên Bang Đức, tháng 2 năm 1989
Nguyễn Tường Bách
* * * * *
Tập truyện "Đêm qua sân trước một cành mai" gồm 8 truyện: Chuyện người kỹ nữ ; Người nuôi thú bên bờ biển ; Con vượn lông đỏ ; Người đạo sỹ bên gốc thông già ; Gã chèo đò và sáu cây chùy ; Tên tiểu đồng trên cây đào tiên ; Bên đàn vịt trời ; Chuyện người văn sĩ.
Sau đây là truyện " Con Vượn lông đỏ ".
* * * * *
Vùng kia có một ngọn núi lửa, mấy mươi dặm xung quanh không có người ở. Thú rừng, chim chóc cũng không sống được, cảnh vật vô cùng hoang vắng.
Trong vùng rừng núi đó chỉ có độc nhất một con vượn sống đã lâu. Vượn có màu lông đỏ như lửa, người ta gọi là "hỏa hầu". Những lúc núi phun lửa, vượn vui mừng nhảy nhót, tắm mình trong ánh lửa. Vượn mê thích lửa hồng và hơi nóng, tự nhủ suốt đời sẽ không bao giờ xa ánh lửa.
Một thời gian dài, núi không phun lửa. Vượn trông ngóng đợi chờ, ngày càng bồn chồn. Bỗng một đêm khuya, y thấy từ xa một ánh đèn leo lét. Men theo ánh lửa, thì ra đó là trú xá của một tu sĩ. Kể từ đó, y làm bạn với người tu sĩ, ngày ngày hái hoa quả biếu tặng. vị tu sĩ tụng kinh văn suốt ngày, vượn không hiểu gì nhưng y yêu thích tiếng tụng kinh ngân nga êm đềm ấy.
Vượn sống giữa ánh lửa và lời kinh như thế từ năm này qua năm khác. Một ngày kia bỗng vượn khởi lên tâm ý muốn rời bỏ ánh lửa, tìm một nơi xa lạ. Tâm ý vừa khởi, vượn lập tức thấy mình đã ở cảnh giới khác, nhộn nhịp người qua kẻ lại. Vừa móng ý muốn thành người, hỏa hầu đã biến thành một con người cao lớn, lanh lẹ, quần áo chỉnh tề có sắc hồng nhạt.
Trong cảnh giới con người, y sống lẫn lộn không ai hay biết. Y ngạc nhiên nhận ra loài người có tâm ý cực kỳ phức tạp. Họ sống chung với nhau tưởng chừng như trong cùng một thế giới, nhưng cứ mỗi người lại ở một thế giới riêng biệt của mình. Các thế giới riêng đó hòa vào nhau, tác động lẫn nhau, không trở ngại nhau, như hai nguồn sáng từ hai ánh lửa hòa vào nhau không ngăn lại. Tâm ý loài người càng phức tạp thì mỗi thế giới đầy buồn vui của họ càng biến ảo, chuyển dịch, phát triển không bao giờ ngừng nghỉ.
* * *
Sống một thời gian, vượn càng ngày càng sợ cảnh giới đầy hạnh phúc và đau khổ của loài người và càng nhớ tới ngọn núi đầy lửa và miền rừng hoang vắng của y.
Một ngày kia, y thấy dâng lên trong lòng niềm thèm khát một ngọn lửa hồng. Vừa móng ý, y đã đến một nơi vắng vẻ không người qua lại. Nhìn lên, trời mây đỏ như máu. Bỗng nghe tiếng ai than khóc, y lần bước bên đường. Nhìn người đàn bà kiệt sức, vượn thương xót, lấy nắm cơm bỏ vào tay.. Cầm nắm cơn, người đàn bà bỗng la lên " lửa, lửa" và đưa mắt nhìn vượn vừa sợ hãi vừa ái ngại.
Vượn ôm đầu đau đớn:
- Thì ra nghiệp lửa của ta nặng đến thế ư, tất cả những gì vào tay ta đều hóa thành lửa chăng?
Bỗng từ đâu xuất hiện một người trẻ tuổi, vẻ mặt buồn rầu. Y xót thương nhìn người đàn bà rồi lại vái chào vượn:
- Người hãy hoan hỉ, đó không phải là nghiệp của người, đó là nghiệp của mẹ ta.
Vượn phân vân không hiểu sao người kia biết được tâm mình, thì người đàn bà bõng ngước nhìn người đàn ông, mắt đầy bóng tối.
- Mục Kiều Liên, con không cứu ta được nữa đâu, tội nghiệt ta đã quá nặng rồi.
Người đàn bà nói xong bỗng sấm trời vang dậy,điện quang sáng lòa, đại địa rung chuyển dữ dội, hất tung vượn lên cao. Vượn vừa uốn mình đứng vững thì nhác thấy trời mây đổi màu, xanh như ngọc. Thoáng nghe tiếng nói của Mục Kiều Liên:
- Mẫu thân, mẫu thân vừa tự cứu mình!
Lòng vượn dạt dào bâng khuâng, ước mơ trở về lối cũ. Ý vừa khởi, vượn đã về chốn xưa. Giờ đây rừng đã xanh tươi, miệng núi lửa đã trở thành một hồ nước trong xanh. Vượn ngơ ngác nhìn quanh thì thây một nơi có ấm chút lửa hồng. Vượn vừa đến đó thì một cụ già vừa tới. Vượn vội rùng mình lấy nhân dạng, vái chào hỏi han cảnh vật. Cụ già đáp:
- Nơi đây ngày xưa là một vùng núi lửa, không có người ở. Thú rừng và chim muông cũng không hề lui tới. Đặc biệt chỉ có một con vượn lông đỏ sống đến già và chết ở nơi đây. Chỗ người đang đứng chính là chỗ chôn con vượn đó.
Lòng vượn nao nao, thì ra mình đã hết nghiệp làm vượn nhưng nghiệp lửa vãn còn phảng phất nơi nắm xương tàn. Y bỗng nhớ tới vị tu sĩ ngày xưa vô hạn, không biết người đang ở cảnh giới nào.
Ý vừa khởi, y bỗng thấy người tu sĩ đang tụng kinh văn, êm đềm như xưa. Lắng tai nghe lời kinh văn vẫn khó hiểu nhưng giọng tụng đầy âm thanh du dương sảng khoái. Vận dụng tâm ý loài người, bỗng vượn nghe lõm bõm ra mấy chữ "... muôn sự tại tâm, vạn phúc tại thức ..."
Y rùng mình tỉnh ngộ.
Nguyễn Tường Bách

Chuyện người kỹ nữ

Chuyện người kỹ nữ
Truyện ngắn " Chuyện người kỹ nữ " copy từ tập truyện "Đêm qua sân trước một cành mai", tác giả: Nguyễn Tường Bách ; đã xuất bản tháng 02 năm 1989 tại Cộng Hòa Liên Bang Đức; NXB Phương Đông(VN) tái bản lần 1 vào quý 1 năm 2016.
Lời tựa: Những mẫu chuyện này được viết trong những ngày cuối hạ, đầu thu 1988.
Lúc đầu, tác giả không có ý định xuất bản, chỉ muốn tập hợp lại vài tâm tư và quan sát trong nhiều năm qua, cho một số bạn hữu và chính mình. Vì vậy người viết cảm thấy tự do, không ngại sử dụng nhiều ý tứ và cách dùng chữ xa lạ khó hiểu. Người đọc, có ai tìm được vài pháp lạc thì đó là niềm vui cao quý cho tác giả.
Tập truyện này xuất bản được là nhờ khuyến khích và giúp đỡ từ nhiều phía. Xin chân thành cảm ơn tất cả.
Cộng Hòa Liên Bang Đức, tháng 2 năm 1989
Nguyễn Tường Bách
* * * * *
Tập truyện "Đêm qua sân trước một cành mai" gồm 8 truyện: Chuyện người kỹ nữ ; Người nuôi thú bên bờ biển ; Con vượn lông đỏ ; Người đạo sỹ bên gốc thông già ; Gã chèo đò và sáu cây chùy ; Tên tiểu đồng trên cây đào tiên ; Bên đàn vịt trời ; Chuyện người văn sĩ.
Sau đây là truyện " Chuyện người kỹ nữ".
* * * * *
Vùng nọ, có một đô thị sầm uất, dân cư đông đúc, khí hậu điều hòa. Thương thuyền lui tới tấp nập bất kể ngày đêm, người đi như hội.
Đô thị ngày càng mở rộng nhưng chỗ đẹp nhất vẫn là khu phố cổ, nhiều ngõ ngách nhỏ hẹp ẩn mình dưới hàng liễu rũ xanh tươi. Khách xa tới đây đều tấm tắc khen là thiên đường hạ giới.
Trong khu phổ cổ có một kỹ viện, xây dựng lên từ đời nào không rõ. Kỹ viện có nhiều nàng kỹ nữ xinh đẹp, múa rất hay. Thương nhân đến đây lắm kẻ quên đường về.
Trong các nàng kỹ nữ, có một nàng kiều nữ, mặt đẹp như ngọc. Nàng không múa bao giờ, chỉ ca hát. Đặc biệt nàng tự ôm đàn, vừa đàn vừa ca, không hát cùng ai, không để cho ai đàn họa theo. Hàm răng trắng đều, nàng thường nở nụ cười tuyệt đẹp. Khách ra về bâng khuâng không biết lưu luyến tiếng hát hay nụ cười. Tông tích người kỹ nữ này không ai rõ, chỉ biết nàng đã vào kỹ viện rất sớm. Cũng không ai biết ai dạy nàng hát, chỉ thấy mỗi lần hát, nàng đưa hồn vào lời ca tiếng hát, khách nghe đôi khi không biết mộng hay thực. Khách yêu tiếng hát thì nhiều nhưng không ai dám hỏi nàng làm vợ. Còn nàng thì hình như cũng chẳng thiết tha tới ai, sống một mình một bóng.
Ngày qua ngày, người kỹ nữ hát càng điêu luyện, nhưng nàng chỉ còn thích hát một vài bài đắc ý, mỗi lần hát hầu như nàng lạc qua một thế giới khác.
* * *
Một buổi chiều kia, trời mưa dầm, nàng cảm thấy cô đơn vô hạn. Khách nghe thì nhiều nhưng thế giới hầu như trống rỗng, vắng lặng. Nàng nhìn mưa rơi tự hỏi “trời đất bao la thế này thôi sao, trượng phu quân tử chỉ chừng đó thôi sao?” Nàng bất giác ôm hồ cầm:
Tích tịch tình tang
Vỗ gươm mà hát,
nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ.
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường
Hồ trường hề! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu
Rót về Đông phương, biển Đông nổi sóng sinh cuồng loạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong heo hút cát chạy đá giương
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về phương Nam, trời Nam mờ mịt.
Có người quá chén như điên như cuồng ... (1)
Hát xong lệ tuôn như mưa, khách nghe ngậm ngùi, không ai nói điều gì.
Bỗng trong đám người nghe, có một người khách lạ đứng dậy nắm lấy cây hồ cầm. Người này có vẻ là một lữ hành, áo quần mang nét phong sương, mặt còn trẻ, dáng điệu có chút bối rối. Vừa so dây, người lữ khách vừa nói:
- Mời nàng hát lại bài Hồ trường, lần này ta xin đàn cho nàng hát.
Người kỹ nữ ngỡ ngàng nhìn lữ khách. Nàng chưa kịp nói gì thì y đã tấu lên vài tiếng nhạc. Đàn hồ cầm vốn quen nhạc réo rắt, nhưng trong tay kẻ lữ hành lại khác hẳn. Âm sắc vang lên ấm như mùa xuân, tươi như hoa nở, sáng như bình minh.
-Tích tịch tình tang
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết, lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ.
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây (1)
Cùng tiếng đàn của người khách lạ, nàng cảm giác như có đôi nam nữ sóng vai nhìn bốn phương tám hướng, niềm cô đơn tan biến tự bao giờ.
Nàng vừa hát xong, còn vương niềm vui sướng, người lữ khách đã đặt cây hồ cầm lại chỗ cũ, nói:
- Đường vào đạo có tám vạn bốn ngàn ngõ, thanh âm cũng là đạo. Trong các loại thanh âm thì im lặng là thanh âm vi diệu nhất.
Người kỹ nữ nghe câu nói, không kịp suy nghĩ gì thêm, nàng ngước mắt nìn lữ khách, mắt long lanh, muốn hỏi tên tuổi. Y im lặng đầm ấm nhìn lại, không nói gì, xoay người đi thẳng.
Mấy ngày sau, chiều nào người kỹ nữ cũng đợi lữ khách nọ trở lại. Nhưng ngày qua ngày không còn thấy tăm dáng của người đó đâu. Ngỡ rằng y là thương nhân, nàng ra phố xá, bến sông để tìm kiếm, nhưng y vẫn biệt tăm.
Sau một thời gian chờ đợi, người kỹ nữ tuyệt vọng, ngày càng mòn mỏi. Nàng chỉ biết hát bài Hồ trường, tự ôm đàn mà hát, lời ca càng ảo não hơn xưa.
Cứ thế, ngày qua ngày, mấy mùa xuân trôi qua nàng không còn để ý tới.
* * *
Một sáng kia, còn chưa tỉnh giấc, nàng bỗng nghe tiếng hát:
- Như mẹ hiền thương yêu con một
Dám hy sinh bảo vệ cho con
Với muôn loài ân cần không khác
Lòng ái từ như bể như non..(2)
Nàng nhìn qua cửa sổ, thì ra đó là tiếng hát của một bà cụ ăn xin. Cụ bà ngồi bên vệ đường, đầy người qua kẻ lại. Mặt mày ủ dột, vai mang một cái bị nhỏ bạc màu. Giọng người ăn xin yếu ớt, sắc âm thô kệch, nhưng lời ca nghe rõ từng tiếng. Khách qua đường không mấy ai để ý, nàng thương xót sai trẻ cho ít nắm cơm.
* * *
Ngày tháng trôi qua, tuy không nguôi thương nhớ người lữ khách ngày xưa, nàng kỹ nữ cũng không còn mong ngày gặp lại. Còn cụ bà ăn xin ngày nào cũng ngồi xin gần cửa sổ của phòng nàng, chỉ thuộc vỏn vẹn một bài hát, hát lui hát tới chỉ một bài đó. Nàng kỹ nữ nghe hoài cũng thuộc lòng.
Một buổi sáng kia, nàng thức giấc lúc bình minh chưa rạng hẳn. Đứng ngắm mặt trời vừa lên, nàng bổng nhớ âm sắc rực sáng của tiếng đàn người lữ khách chiều nọ. Hốt nhiên nàng cất tiếng hát bài ca của bà cụ ăn xin, đưa hồn vào từng ý nhạc. Nàng đứng nghe tiếng mình hát như nghe tiếng ai hát. Đến đoạn:
- Có hình tướng hay không hình tướng
Ở gần ta hoặc ở nơi xa
Đã sinh rồi hoặc sắp sinh ra
Cầu cho tất cả đều an lạc.(2)
Bỗng nhiên nàng như lạc vào thế giới của chim chóc đang sống xung quanh. Tiếng chim hót dường như không phải chỉ có nhạc mà còn có lời, bỗng một tiếng chim cất lên:
- Vái chào cô nương! Vái chào cô nương!
Nàng ngỡ ngàng nhìn quanh. Bỗng một con chim câu sà xuống bên cạnh, nàng nhìn chằm chặp, hỏi chim:
- Ngươi hiểu tiếng người, hiểu ta nói chăng?
Chim đáp:
- Em hiểu cô nương, hiểu cả ý tứ cô nương nữa. Cô nương hát hay lắm nhưng âm thanh buồn quá.
Nàng kỹ nữ ngạc nhiên cười khanh khách nhưng giọng bỗng chùng xuống:
- Ta buồn sao ngươi biết được?
Chim câu thong thả trả lời:
- Cô nương buồn vì gã thiền sư đó, ai lại không biết.
Nàng kỹ nữ ngạc nhiên cực độ. Chim hiểu ý nói tiếp:
- Người gảy đàn cho cô nương mấy năm về trước là một gã thiền sư phiêu bạt, không gia đình, không bè bạn.
Nàng nửa tin nửa ngờ hỏi:
- Thiền sư sao vào kỹ viện nghe hát?
- Gã thiền sư đó đã tu dưỡng tới trình độ phi thường, nhưng y vướng nghiệp mê tiếng hát kỹ nữ. Có lần y đi khất thực, bên song nghe tiếng hát của cô nương…
Nghe nói đến người lữ khách, nàng hỏi dồn dập:
- Thế bây giờ y ở đâu, ta còn gặp lại y được nữa không?
Chim lắc đầu:
- Y đã qua cảnh giới hòa âm thiên, một thế giới xây dựng thuần túy bằng thanh âm, y không trở lại đời này nữa.
Nghe xong, nàng kỹ nữ hết sức đau đớn. Nàng ôm đàn nức nở:
- Giờ còn mong chi người hát theo đàn
Giờ còn mong chi hợp cánh hoa tàn
Lời đàn năm xưa xe kết đôi lòng
Lời đàn năm nay đôi lứa xa vời (3)
Tiếng đàn giọng hát chưa bao giờ u uất như vậy. Cùng tiếng hát, nàng bỗng chốc đi vào một thế giới mưa gió sầu thảm, xa xa có tiếng suối reo sóng vỗ. Khắp nơi nước xanh trong một màu, không còn tiếng chim chóc nữa.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, nàng lại cất tiếng hát với ước mong gặp lại chim để hỏi chuyện thiền sư. Nhưng lần này nàng không rời bỏ được tâm ý loài người. Nàng hát suốt một ngày bài ca ăn xin với hy vọng nghe hiểu được tiếng loài chim nhưng vẫn không được.
* * *
Ngày tháng trôi qua, nàng kỹ nữ thương nhở người lữ khách kia vô hạn nhưng tâm tư nhẹ nhàng thảnh thơi. Một ngày kia, nàng ngạc nhiên thấy mình rũ bỏ tâm bi lụy tự bao giờ. Tiếng hát vút cao:
Nhưng thôi, tiếc mà chi,
Chim rồi bay, anh rồi đi
Đường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng
Gửi gió cho mây ngàn bay…(4)
Một đêm trăng nọ, trăng sao vằng vặc, nàng ngắm ánh trăng đọng trên cành cây ngọn cỏ. Ánh trăng trong mát, soi sáng muôn vật, không sở cầu, không phân biệt. Lòng không gợn chút cầu mong, hồn nhiên như ánh trăng, nàng bỗng hát bài ca người ăn xin. Đến đoạn:
- Tung rải từ tâm khắp vũ trụ
Mở rộng tình thương không giới hạn
Tầng trên, tầng dưới và khoảng giữa
Không vướng mắc, oán thù, ghét bỏ. ..(2)
Bỗng nhiên, nàng thấy mình đi từ thế giới này qua thế giới khác, như đi cả vũ trụ. Tâm tư thế nào, thế giới ấy liền biểu lộ, không hề vướng mắc, mỗi thế giới đều có một thanh âm khác nhau, chỗ nhẹ nhàng, nơi bi lụy, chốn say đắm, nơi thâm trầm. nàng sực nhớ lời người lữ khách
- Trong các loại thanh âm, thì im lặng là thanh âm vi diệu nhất! .
Vừa nhớ tới câu đó, một thế giới thù thắng hiện ra, đầy âm thanh mỹ diệu trầm bổng mà nàng chưa bao giờ được nghe. Nàng đang bỡ ngỡ thì kẻ lữ khách năm xưa hiện ra, ánh mắt đầm ấm không hề thay đổi. Nàng bồi hồi cầm tay người lữ khách, mắt long lanh. Y cầm sẵn trong tay một cây đàn, vừa tấu lên vài tiếng nhạc, nàng cảm thấy sung sướng không thể nào tả xiết. Từ đó, trong thế giới hòa âm đầy thiên nhạc có tiếng tịch tình tang của một cây hồ cầm...
Một ngày kia, nàng kỹ nữ muốn trở về thăm quê cũ. Lấy nhân dạng của một bà già, nàng quay lại phố xưa. Đô thị ngày càng phát triển nhưng khu phố cổ với những ngõ ngách dưới rặng liễu xanh vẫn không thay đổi. Kỹ viện xưa vẫn còn, kẻ ra người vào không ngớt. Nàng đi đến cửa sổ phòng ngày xưa của mình, cảnh vật không hề đổi thay, kẻ ăn xin ngày nay nhiều hơn trước. Tại chỗ bà cụ ngồi ngày xưa, ai đã xây một cái miếu thờ, đề chữ “Hành Khất Miếu”.
Nàng hỏi chuyện thì có bà cụ giải thích:
- Mấy mươi năm trước, có một bà cụ ăn xin ngồi đây từ năm này qua năm khác. Bỗng một buổi tối sáng trăng, cụ đứng dậy bỏ đi. Có người hỏi đi đâu, cụ nói: “Chuyện cần làm đã làm xong, ta không trở lại đời này nữa”. Nói xong biến mất. Có lẽ đó là một bà tiên giáng phàm thử lòng người trần. Từ đó dân chúng ở đây xây miếu thờ, hương khói không khi nào dứt.
Nàng kỹ nữ rùng mình, tới trước miếu thờ vái lạy. Trên bệ miếu, nàng thấy túi vải bạc màu của bà cụ ngày xưa. Mởi túi vải ra chỉ có một cuốn sách nhỏ nhàu nát ghi mấy hàng chữ, đọc kỹ chính là bài ca ngày đó. Gấp cuốn sách lại, bìa đề ba chữ “Kinh Từ Bi” . Người kỹ nữ nao nao trong dạ. Thì ra bài này là một bài kinh, tên gọi là “Kinh Từ Bi”. Bất giác nàng ngồi xuống vệ đường, thương nhớ và biết ơn cụ già vô hạn, ca lại bài ca.
Trẻ con thấy một người ra vẻ ăn xin ca bài ca lạ tai, vỗ tay reo cười.
Trong kỹ viện, có ai đó vừa ngưng đàn.
Chú thích: (1): Trích Hồ trường, một sáng tác của Nguyễn Bá Trác đầu thế kỉ 20. (2):Kinh Từ Bi Metta-Sutta. (3): trích Cung Đàn Xưa, nhạc Văn Cao (4): Trích Gửi gió cho mây ngàn bay, nhạc của Đoàn Chuẩn, Từ Linh.
Nguyễn Tường Bách

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2018

Rưng rưng hạnh phúc

Rưng rưng hạnh phúc
Copy từ http://www.sggp.org.vn/rung-rung-hanh-phuc-537039.html , tác giả: Vũ Thị Huyền Trang , đã đăng ngày 5/8/2018 08:30.
Chiều hôm ấy lúc ra đồng về, ông Mậu không thấy con gái và cháu ngoại đâu. Ban đầu ông chỉ nghĩ, mẹ con nó quanh quẩn đâu đó trong xóm, xin rau mơ hấp trứng, hoặc kiếm mấy bắp ngô non về luộc. Nhưng tối muộn, nấu cơm xong xuôi vẫn chẳng thấy mẹ con bé Sim về, ông liền đi quanh xóm tìm…
Minh họa: K.T
Ông Mậu biết con gái mình không có chỗ nào khác để đi ngoài cái xóm nhỏ này. Huống hồ lại bế theo đứa con chưa đầy 2 tuổi. Mười một giờ đêm, hàng xóm nháo nhào đi tìm. Ánh đèn pin loang loáng khắp nơi. Từ ngõ ngách, bờ bụi, giếng nước, ao làng đến sân ga, bến xe trên thị trấn. Ông Mậu thất thểu trở về nhà lúc 3 giờ sáng. Mâm cơm dọn sẵn từ lúc tối, ruồi không thèm bậu. Ông lấy một ít cho chó, nhưng con vàng cũng chẳng buồn ăn.
Ngồi phịch xuống ghế, môi ông run run gọi: “Sim ơi”. Giờ này không biết mẹ con nó ở đâu? Tiền không có, cũng chẳng quen biết ai thì đêm nay lang bạt nơi nào? Mà sao nó lại bế con đi? Lúc chiều, nó còn dặn ông nhớ mua ít tôm đồng về xay nhỏ nấu cháo cho Sim. Lúc ông ra đến cổng, nó vẫn gọi với theo: “Ông nhớ xin cho con mấy nắm lá chè xanh để về nấu nước tắm cho Sim, ông nhé”. Sim ơi, về ăn cháo nấu tôm. Về ông nấu nước chè cho con tắm…
Đã 1 tuần kể từ khi Điệp bế con bỏ đi. Con chó nằm ngoài gốc chuối không buồn đuổi lũ ruồi nhặng bay vo ve bên cạnh. Nó buồn vì ông chủ của mình cũng đã bỏ nhà đi mấy hôm không thấy về. Nhà chẳng còn ai, chỉ có con mèo già kêu suốt ngày và mấy đàn gà con chạy qua sân. Hàng xóm ghé qua quét hộ cái nhà, cho đàn gà ít gạo, chó mèo ít cơm thừa, cọ giùm cái ấm tích trà đã mốc meo. Họ hỏi nhau, không biết ông già đi đâu? Liệu mấy bố con, ông cháu có gặp lại nhau không? Ra khỏi xóm làng thì chắc gì đã gặp được nhau, có biết bao con đường, bao ngã rẽ.
Có người quả quyết: “Gặp lại chứ sao không. Con nhỏ đó đi rồi cũng phải về, sức đâu mà đi mãi”. Một tháng rồi 2 tháng, nhà ông Mậu lá khô rụng đầy sân nhưng không ai buồn quét. Con chó vẫn quanh quẩn trong nhà đợi chủ. Mấy đàn gà con chuột bắt dần mòn. Người ta bận làm ăn, cưới xin, đổi mả nên cũng chẳng còn mấy ai nhắc chuyện bố con nhà ông Mậu. Cho đến một hôm, Điệp bế con thất thểu trở về, hỏi dân làng: “Bố cháu đi đâu?”
- Đi tìm con, tìm cháu chứ đi đâu. Mà đi tận đâu thì ai mà biết. Ông già nói sẽ tìm theo dấu lá. Vì bé Sim có thói quen bứt lá ven đường. Mà cái con nhỏ này sao tự nhiên lại bỏ nhà đi?
- Thì tự nhiên cháu thấy buồn quá thì đi thôi ạ.
- Trời ơi, xem nó nói cứ nhẹ như lông hồng. Đâu biết thương ông già khốn khổ. Mày tệ quá!
Điệp chỉ định đi đâu đó vài ngày, để thử xem có ai tìm mình không? Người Điệp định thử lòng không phải là ông bố đã ngoài 60, tóc bạc và răng rụng. Lúc quyết định đi, Điệp không kịp nghĩ là bố sẽ tìm mình. Ý nghĩ thử bỏ đi đã lóe lên trong đầu Điệp lúc Lâm chạy xe máy qua nhà. Cả cái làng này ai không biết Lâm chính là bố ruột của bé Sim. Có thời Lâm si mê Điệp, ngày nào cũng loanh quanh ở nhà ông Mậu. Hết bổ củi, đào giếng lại lợp mái nhà. Điệp đi đâu là Lâm lững thững theo sau gọi “em à, em ơi”. Điệp nhỏ nhắn, đi gần chỉ tới nách thằng Lâm chứ mấy. Buổi trưa mùa hè, thấy 2 đứa đi bộ qua con kênh trước nhà, người làng cười “trông vậy mà đẹp đôi đấy chứ, cưới đi thôi”. Điệp ỏn ẻn cười đi trước, Lâm tủm tỉm đi sau. Hai bóng người liêu xiêu vắt ngang qua những ổ vịt, ổ gà, những chiếc lon bia từ một quán nhậu nào đó vứt ra.
Có rất nhiều đám cưới trong làng nhưng không có đám cưới nào thấy Điệp làm cô dâu cả. Chỉ thấy Điệp ôm bụng lùm lùm sau vạt áo đứng ở bên đường nhìn xe rước dâu nhà Lâm đi ngang qua. Lâm là chú rể mặc vest chỉn chu, tay cầm hoa cưới đi rước dâu về. Nhưng cô dâu không phải Điệp mà là một người đàn bà đã qua một đời chồng, có một đứa con riêng. Thiên hạ bảo Lâm hám của nên mới bỏ Điệp mà đến với người hơn tuổi. Lâm chẳng bận tâm, nhà đẹp ở, xe đẹp cưỡi. Ngày ông Mậu hốt hoảng gọi xe chở Điệp đi đẻ, người ta vẫn thấy Lâm ở sới chọi gà.
Chiều ấy, lúc Lâm thất thểu đi về, có người nào đó nói với theo cái bóng dài ngoằng: “Cái Điệp nó đẻ rồi, con gái. Lên bệnh viện mà nhận con, Lâm ơi”. Lâm bực dọc đá vỏ lon bia lăn lóc cóc ngoài đường. Lâm đi ngang nhà Điệp đúng lúc ông Mậu xách cặp lồng cháo gà đi ra. Ông định túm lấy thằng tệ bạc ấy mà nói chuyện phải trái, đúng sai, nhưng nghĩ chắc là Điệp đói lắm. Đau đẻ mấy tiếng liền còn đâu là sức, phải húp nhanh cháo nóng thì mới có sữa về cho cháu ngoại ông ăn. Nên ông đành để thằng con rể hụt đi khuất trong ngõ nhỏ. Mà thật ra, nói với nó cũng chẳng để làm gì. Nó không muốn nhận con thì tội đó nó gánh, còn cháu mình thì mình chăm…
Điệp đứng lơ ngơ ở bến xe mà không biết đi đâu giữa những cánh tay lơ xe rủ rê chèo kéo. Bỗng có một ai đó kéo tay Điệp lên xe: “Chắc là 2 mẹ con xuống thành phố đúng không? Xe chạy luôn bây giờ không cần phải đợi”. Điệp sờ túi quần phát hiện ra điện thoại đã bị kẻ gian lấy mất. Xe chạy được một đoạn đường rồi, Điệp mới giật mình lo sợ, vì đâu có chỗ nào để mà đi? Điệp không biết lúc mình loay hoay giữa biển người xa lạ thì người bố già cũng bắt đầu hành trình đi tìm con cháu. Không có vết lá nào vứt dọc đường để men vào đó mà đi. Ông cũng không có bức ảnh nào của mẹ con Điệp hết. Trong chiếc điện thoại cục gạch chỉ có số của Điệp thôi, nhưng gọi hoài vẫn không liên lạc được. Ông đi từ xã này qua xã khác, cứ dọc đường đê mà đi. Đến đâu ông cũng hỏi về một người mẹ trẻ bế con bỏ nhà đi. “Mẹ con nó mặc áo hoa màu tím. Hôm đi chợ huyện tôi bán 3 con gà mới mua được mảnh vải màu hoa cà ấy đấy. À, mà mẹ con nó cũng có lúm đồng tiền giống tôi. Mọi người nhìn đây này”. Ông cố cười thật tươi, nhưng người ta chỉ nhìn thấy 2 má ông hóp lại vì mấy cái răng hàm đều đã rụng chưa có tiền làm.
Ông lần theo ký ức mà tìm. Sim của ông da thịt thơm tho, miệng cười như nắc nẻ. Mỗi lần đi làm về, ông thường nhấc bổng cháu lên, dụi đầu vào bụng nó. Hai ông cháu cùng ngả nghiêng cười giữa xào xạc cây lá trong vườn, giữa mùi cơm sôi, cá kho đang cạn nước. Những đêm mưa nằm ngủ nhờ bên hiên nhà lạ, ông càng thêm thương mẹ con Điệp hơn. Không biết có mái nhà nào để trú? Có cơm để ăn? Có quần áo lành để mặc? Nước mắt ông cứ thế ứa ra. Giá giờ này mấy ông con đều ở nhà thì tốt biết bao. Ông cháu rủ rỉ chơi với nhau, Điệp ngồi bên máy khâu miệt mài sửa đồ cho khách. Con chó vàng nằm ở góc nhà ghếch mõm nhìn Sim chạy quanh nhà. Cái điện thoại vẫn nằm trong túi áo đấy thôi nhưng nó đã tắt ngóm rồi. Hôm lội qua đoạn đường nước lũ, ông sơ ý làm rơi. Vội vã mò lên cũng không cứu nổi. Lần cuối cùng gọi cho người làng, người ta nói mẹ con Điệp chưa về. Lần đó cũng đã cả tháng rồi, ông không nhớ nổi số ai trong đầu nên đâu thể gọi
Sáng sớm ông tỉnh giấc bên bến đò. Mấy chú chim đậu trên ngọn tre chấp chới hót trong veo. Những tia nắng đầu tiên chiếu xuống dòng sông lấp lánh. Ông đang tính đi tiếp thì nghe 2 mẹ con khách đi đò nói chuyện với nhau: “Tí sang hội chợ nhớ đi sát vào mẹ nghe chưa? Hôm qua mẹ đi qua làng nọ, nghe người ta kể chuyện có người mẹ bế con nhỏ bỏ đi. Cha già yếu hốt hoảng đi khắp nơi hỏi tìm con cháu mà không gặp được nhau. Nghe nói đến lúc mẹ con bế nhau quay về thì thấy nhà bỏ không. Người cha già không biết lang bạt tận nơi nào, còn có sức mà quay về không nữa”. Ông lặng đi vài giây vì thấy hình như rất giống chuyện của mình. Tính níu áo người ta để hỏi mà đò đã ra đến giữa sông. Ông mừng mừng, tủi tủi lập cập bắt xe quay lại quê nhà.
Điệp nằm ngoài võng ngủ với con. Mắt nhìn vời vợi vào khoảng nắng trước nhà. Điệp đang sống trong những ngày dằn vặt lương tâm. Mọi quyết định trong đời Điệp hình như đều sai lầm. Từ việc yêu và trao thân cho Lâm, đến việc bế Sim bỏ nhà đi mà không để lại bất cứ lời nhắn nhủ nào cho bố. Nhưng lần này Điệp nghĩ mình đã quyết định đúng khi không chạy đi tìm bố khắp nơi. Vì Điệp tin là bố sẽ trở về sớm thôi, sẽ hỏi ngay khi vừa bước chân vào đến cổng: “Sim của ông đâu rồi? Ra đây với ông nào. Ông cõng đi chơi”. Chỉ mới nghĩ đến đấy thôi, Điệp đã thấy rưng rưng hạnh phúc…
Vũ Thị Huyền Trang

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Nhân ngãi

Nhân ngãi
Copy từ https://wordpress.com/read/blogs/10024170/posts/20644 ;tác giả: Hoàng Thanh Hương ; đã đăng ngày 04-03-18.
Tranh đinh trường chinh
Tháng cô hồn, ai cũng e ngại, ai cũng kiêng cữ. Dậu nghe mẹ dạy hồi còn bé xí rằng tháng 7 âm lịch “ai còn mẹ thì đừng làm mẹ khóc/ đừng làm buồn lên mắt mẹ nghe không?”. Dậu nghe thế, hiểu sơ sơ nghĩa là phải thương mẹ nhiều, không được làm mẹ buồn, mẹ khóc thế mới là con cái hiếu thảo. Dậu nghe người già kể rằng hàng năm cứ tháng 7 âm lịch Diêm Vương mở cửa địa ngục cho các linh hồn ma quỷ về trần gian hưởng lộc bố thí, cúng dường của người trần từ ngày 2 đến 14. Ai có người thân đã mất, tháng này sắm sanh cúng lễ chu đáo để báo đáp tình nghĩa. Hương linh lang thang không ai thờ cúng thì các gia chủ đều sắm cho mâm lễ ngoài sân mời đến hâm hưởng mà thỏa mãn, không quấy phá gia chủ… Rồi mẹ dặn Dậu phải kiêng tắm khuya, kiêng phơi quần áo ngoài trời đêm, kiêng đi chơi khuya, kiêng nói to gọi nhau í ới trong đêm vắng, kiêng khua chén khua đũa chập tối, mờ sáng… thôi thì bao nhiêu là kiêng cữ trong tháng cô hồn để tránh ma tà xâm phạm đến nhà cửa, bản thân.
Ở đời Dậu chả sợ ma, cũng chả biết ma dạng hình gì, phim ảnh chiếu tùm lum mỗi nước mỗi kiểu ma quỷ, dữ hiền, ghê rợn có hết nhưng đấy chỉ là tưởng tưởng của mấy vị nhà văn, nhà đạo diễn, quay phim còn ma thật Dậu chả gặp bao giờ, dầu cũng từng mong.
Dậu chả sợ ma. Dậu sợ người, họ là ma đầu đen. Những kẻ trước mặt Dậu vừa miệng mồm ngọt nhạt như kem như kẹo đấy, Dậu vừa đi khuất lưng, vừa vắng họp là cong môi tâu hớt, phê bình văng vãi. Nên Dậu thích vắng họp, để tìm ra kẻ đối đầu với mình. Miều sẽ nói lại không sót dấu phẩy nào những lời vài kẻ phê bình vùi dập Dậu nơi những cuộc họp dài lê thê chán như con gián với những mặt người quanh quẩn, buồn tẻ. Ma đầu đen đáng sợ gấp tỉ lần ma tưởng tượng.
Dậu nhớ chồng, tháng 7 âm lịch hàng năm nàng làm mâm cúng thịnh soạn, mua áo quần vàng tiền ghi tên đầy đủ đốt gửi anh. Đời Dậu chỉ mong giấc mơ mỗi đêm được gặp anh. Tháng 7 âm lịch 4 năm nay nàng đợi nhưng anh dường như đã uống canh Mạnh Bà rồi, anh đã quên Dậu, quên hết chuyện trần gian với nàng, đã sang kiếp rồi. Nghĩ đến đó, nước mắt nàng lã chã. Không biết tại sao nàng nhớ anh nhiều đến thế, càng cố quên, càng muốn quên để bắt đầu cuộc sống mới mà không quên được.
Người ta bảo chết trẻ thiêng ma, anh chẳng thấy thiêng, anh phiêu dạt cõi nào mà nàng cầu cạnh thầy bà cô cậu bốn phương anh vẫn bặt vô âm tín. Mẹ chồng nàng bảo thôi hết duyên nợ rồi con xả tang mà đi bước nữa. Dậu không nói không rằng. Mẹ chồng ngày nào cũng một câu đó. Dậu ngày nào cũng một biểu cảm đó.
Hai cánh cửa phòng ra mở vào đóng cùng những tiếng thở dài. Căn nhà từ ngày anh mất đêm nào cũng tiếng kinh cầu siêu thu sẵn trong đĩa, nhấn play là phát êm êm, mẹ và nàng hai góc chiếu ngồi như đá dưới ban thờ ngày nào cũng hoa tươi quả mới, nhang khói tỏa bay là là. Đứa em chồng bảo: Chị hết tang anh rồi thì đi bước nữa, trẻ thế ở không người ta lại đổ tiếng ác cho nhà này. Nàng trừng mắt nhìn em chồng, nó cúp mắt, đi vội ra sân. Mẹ đẻ nàng ngày nào cũng gọi điện thúc giục: Thu xếp đồ đạc về với mẹ và các em! Nàng vâng nhẹ như gió thoảng. Tất cả những người mẹ trên đời đều yêu thương con cái của mình vô điều kiện, còn người ngoài phải có điều kiện mới thương mình.
Nàng nhớ chuyện quả táo. Một quả táo chín thơm, người cầm nó, cắt đôi, chia cho bạn một nửa, kẻ đó là bạn của bạn. Người cắn một miếng rồi đưa cho bạn là người đang yêu bạn.Người không ăn miếng nào đưa hết cho bạn đó là cha mẹ bạn. Anh vừa là bạn vừa là người yêu vừa là cha mẹ. Mất anh nàng như đám lục bình trôi dạt lênh đênh. Ở ngoài đời, người ta ham hố đua chen, giành giật lu bù, sống giữa họ nàng thấy u buồn. Ở nhà, Dậu được mẹ chồng yêu thương, chia sẻ kinh kệ, buông bỏ ham hố, nàng thấy nhẹ nhõm. Mẹ nàng ngày nào cũng nói một câu rồi nhìn lên di ảnh Nam.
Một ngày, Dậu bảo mẹ chồng: Con đi thì đi mà con thương mẹ! Chúng nó chẳng đứa nào muốn ở cùng mẹ! Mẹ bảo nàng cứ đi đi! Mẹ ở một mình, mẹ đợi ngày về với bố. Chắc cũng nhanh thôi. Anh mất, mẹ như xác không hồn, mẹ mắc chứng quên. Có hôm, nàng vừa dừng xe trước cửa mẹ ào ra: Sao về muộn thế? Thằng Nam nấu sẵn cơm canh ngồi đợi cả giờ rồi, mẹ đói quá mà cũng phải đợi! Vô nhanh, chứ nó lại nhăn cho mà coi!… Rồi thì đang xem ti vi mẹ đứng phắt lên, quát om: Nam ơi mày ra bấm kênh khác cho mẹ, kênh này xem dở quá… Mấy bận thế nàng phát hoảng. Bác sĩ bảo bà bị chấn động tâm lý, mắc bệnh trầm cảm, bệnh quên và nhiều bệnh khó chữa của tuổi già. Người già như chuối chín cây, được ngày nào hay ngày đó thôi. Dậu nghe thế lòng dạ rối bời. Dậu nhìn di ảnh chồng, nước mắt thi nhau lã chã.
Thằng Bắc, con Tây chẳng đứa nào muốn ở chung với mẹ. Bận trước đi làm về ngang cửa phòng con Tây nghe tiếng thằng chồng nó lầu bầu: Mẹ dạo này ngơ ngẩn, ăn rồi nói chưa ăn, đi nhà vệ sinh xong để nguyên bồn, không nhấn nút xả bẩn kinh, anh dọn phát ớn. Hay nhà mình dọn ra ở riêng cho nhẹ!Con vợ rít lên: Ông vô duyên, đất đai nhà cửa cả mớ vầy, dọn ra riêng để vợ chồng lão Bắc ăn trọn à. Dại. À! con mụ Dậu xong nợ với ông Nam rồi sao không dọn về nhà mẹ đẻ cho rồi, chiếm nguyên cái phòng to đùng, ở thế ở nữa cũng hổng có cái gì từ nhà này đâu, mẹ vui mẹ hứa thế thôi chớ đừng tưởng bở, danh phận gì nữa mà cứ ở lì ra thế không biết… Dậu gõ cộc cộc cộc chõ mồm vào gằn giọng: Cô chú an tâm, tôi chả đào bới gì nhà này đâu mà lo hoắng lên thế, vợ chú Bắc nó nghe được lại vạ mồm.
Vợ Bắc ghê gớm nhất nhà. Con gái đầu lòng nhà buôn trái cây lớn nhất khu chợ Bùng Binh này. Nhà nó giàu nứt đố đổ tường. Nhà nó keo nhất vùng. Nó là gái đảm, chuyện chợ búa nấu nướng cúng giỗ lễ tế nhà nó, nhà chồng mình tay nó làm bằng mấy chị em họ hàng góp tay. Miệng nói, tay làm, chân đi, cứ sang sảng rậm rịch như đàn ông. Nó mồm năm miệng mười, nhìn vào cái gì cũng thấy có thể kiếm ra tiền, nó đã làm là phải có lời ít lời nhiều chứ không bao giờ lỗ một cắc. Nó bảo: Chị Cả xong chuyện cũ rồi, tút tát lại xinh tươi kiếm thằng đại gia cho đời nó tươi. Dậu có đứa em gái xinh đẹp cá tính, nó thích sống độc thân, một cuộc cà phê mấy chị em bàn về hạnh phúc của người phụ nữ. Nó nói một tràng 30 phút về hạnh phúc đàn bà. Dậu nghe kiên nhẫn. Ngẫm cũng đúng dăm bảy phần. Hạnh phúc là sự tự rèn luyện mình, vượt qua khó khăn trong cuộc sống bằng chính sức lực mình, tự do về tư duy, độc lập về tài chánh và được bạn đời, bạn tình tôn trọng… Việc trông chờ dựa dẫm vào ai đó là một sai lầm nghiêm trọng khi kiếm tìm hạnh phúc. Em gái nàng quan niệm khác em dâu nàng về đàn ông và hạnh phúc. Nàng là một đàn bà độc lập. Nàng mê đàn ông ga lăng, nói một lời như đinh đóng cột. Nàng ghét những gã miệng trơn bóng,hứa hươu hứa vượn.
Em chồng nàng nóng tính nhất nhà. Mẹ chồng Dậu hãi nó một phép. Nó thương mẹ chồng. Nó bảo mẹ cứ ngồi im đó con hầu, không phải ngại bố con thằng nào. Mẹ lúc nhớ lúc quên, nhiều khi mẹ nhìn nàng ra nó, nhìn nó ra nàng. Chuyện nọ dọ chuyện kia, tâm sự thủ thì không trúng đối tượng. Nó và nàng nhiều phen ngớ ra rồi cười lộn ruột cả buổi, riết rồi quen, riết thêm thương mẹ chồng. Bà bảo Dậu: Mày đẻ cho mẹ đứa cháu nội, giai/gái gì cũng được, nhơn nhỡn ra mãi thế mẹ buồn lắm, đi ra đường chị em người ta cứ nói to nói nhỏ khoe cháu khoe chắt. Con cái nhà con Tây là cháu chắt nhà người ta chớ mình vơ vào làm sao được. Nàng tủm tỉm: Mẹ ơi con đẻ với ma à? Bà bảo với ma cũng cố mà đẻ đi! Rồi cười sặc sặc. Có bận kia, bà lại thù thì với em dâu: Ơ thế mầy cứ ở lại với mẹ thật à, đi mà lấy đứa nào đi cho nó đỡ buồn, tuổi xuân có thì có lứa, mẹ đã có vợ chồng thằng Bắc lo rồi, đi đi con! Em dâu gào lên: Ối giời ơi mẹ ơi là mẹ, là con vợ thằng Bắc đây, không phải chị Cả đâu mà cứ suốt ngày đuổi như đuổi tà thế. Để con mua cho mẹ hộp sữa canxi mẹ dùng cho khỏe, rõ là thương là tội. Lá vàng khóc lá xanh tội đời lắm ông Nam ơi là ông Nam, ông là tội to lắm, vợ trẻ mẹ già vứt lại đời bi ai thế này đây, giời cao đất dày ơi! Em dâu học hành hết lớp 7, ở nhà buôn bán mà nó nói chuyện vần vè, ca dao tục ngữ ứng vận vào câu cú đối thoại nghe hay ho ra trò. Cái mồm quang quác thế nhưng việc nhà một tay nó lo lắng, thiếu nó chuyện nhà cứ ì ạch như cái xe trật xích. Thằng Bắc sợ vợ như cọp, mẹ chồng sợ nó, nàng cũng sợ nó. Nó giận chuyện gì cứ nói đôm đốp vào mặt, chẳng kể nhà không có ai hay có cả trăm người. Nhiều khi nàng hãi nói chuyện với nó, né né cho yên thân. Nhưng nó thương nàng. Trước cửa phòng nàng thi thoảng có vài gói quà nhỏ của nó treo tặng với tờ giấy ghi ngệch ngoạc: Chị thích thì dùng, không hợp trả lại, em cho người khác, kẻo phí. Nàng phì cười. Em dâu như nó hay ho hơn tám vạn chín ngàn thứ em dâu nhà hàng xóm. Cử nhân, thạc sĩ, cán bộ công chức ban ngành đoàn thể gì gì đó mà nói xấu mẹ chồng như hát hay, gây gổ cãi cọ với chị em nhà chồng như quân thù. Đời ngắn tày gang, ganh đua thua/được chi cho cực thân, cực não. Em dâu nhà nàng quả là thứ hiếm hoi trong thiên hạ trong cái thời @.Ai bảo ít học là văn hóa không cao, tâm tốt thì cái việc làm mới tốt đẹp, Phật dạy thế!
Quán phở ven đường có từ hai tháng nay, gã chủ quán thấp mập, áo vàng, đồng hồ vàng, cổ đeo dây chuyền vàng, mặt đẹp trai như người mẫu Bình Minh, nếu cao 1m8 gã đã không bán phở góc đường này từ hai tháng nay. Gã làm thoăn thoắt, thuần thục, mắt cười, miệng cười đon đả, miệng gã không ngớt:Người đẹp ăn phở nhé, hủ tiếu hay mì quảng, ít mỡ hay không mỡ, rau nhúng qua nước sôi hay để tươi giòn… mỗi câu hỏi là một danh từ người đẹp êm tai khiến Dậu buồn cười. Gã vừa làm vừa ngân nga “ Em ơi, tình chỉ đẹp khi tiền đang nở/ Em ơi, đời mất vui khi tiền đã hết rồi”. Nàng nghe nhiu nhíu mày. Thiên hạ lồng lộn lên vì tiền. Vì tiền người ta chà đạp, triệt hạ nhau. Vì tiền bạn bè thành thù. Cả tuần nay ăn uống qua loa, công ty mới, đồng nghiệp mới, những dòm ngó, soi mói mới khiến nàng thấy mình sai sai khi lựa chọn nơi làm mới. Nhưng tính nàng mãnh liệt. Nàng tự nhủ sẽ đi qua hết những thử thách, nghi kị bon chen để tồn tại. Nàng luôn có cách làm mình vui, kể cả khi số phận và người đời xô đạp nàng trầy trụa. Người đàn bà mãnh hổ trong nàng lâu rồi đã quên cách dựa vào một đàn ông để vui. Người đàn ông của nàng đã chết khi vừa dạy nàng chớm biết cách yêu đời.Gã bán phở hỏi nàng sao đêm nào cũng ăn phở, không chán à? Nàng không cần trả lời gã, cắm mặt vào tô phở lềnh bềnh vớt, nuốt, húp, nuốt. Lần nào nàng ăn xong, gã đều mau miệng: Chào người đẹp nhé, mai ghé nhé! Nàng chả đẹp. Nhưng nghe gọi thế hoài cũng thích. Đàn bà ai chả thích đẹp. Đàn bà xấu không được tặng quà. Đàn bà đẹp là bà chúa. Một nụ cười là đổi đời. Một nghiêng ngửa là đổi đời. Nàng chả đẹp. Nàng cũng chả xấu như Chung Vô Diệm. Nàng đủ để anh mê tít và vì nàng mà cưng chiều thương yêu như một bà chúa. Dậu bơ vơ như giun dế giữa cuộc sống nhạt như nước luộc khoai 4 năm nay. Không phải sống mà là tồn tại. Ngày nào nàng cũng nghĩ đến anh. Đêm nào nàng cũng mơ anh. Những giấc mơ lộn xộn, mỏi mệt rã rời. Nàng đi khỏi nhà anh, nàng đến một nơi ở mới, chọn một công việc mới. Không quá cách xa nhà mẹ chồng. Không quá gần để gặp mặt nhau giữa những đường qua lối lại, nơi công cộng. Dậu học cách mấy cô nàng Hàn Quốc thể hiện trong những phim dài tập có nội dung mẹ chồng nàng dâu thương yêu nhau, ghét nhau. Nàng đọc đâu đó trên facebook “Một cái bếp không nên có hai người đàn bà. Nếu có, người đàn bà trẻ nên biết nhịn nhường cái bếp sẽ gọn gàng, cơm canh sẽ ngon ngọt”. Ông bà dạy cấm có sai: Lời nói đâu mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Đời nàng may mắn có mẹ chồng tốt, có chồng tốt nhưng số nàng không phải số hưởng. Thế mới biết không phải niềm vui nào là mãi mãi.
Mẹ chồng gọi điện hỏi: Con và thằng Nam đi công tác lâu thế? Mai về à? Mai có vô ăn với mẹ hông?Từ “hông” kéo dài nghe thương thương. Mẹ là dân Bắc di cư mấy chục năm, dân buôn bán chợ phố nên âm giọng lai nửa Nam nửa Bắc nghe duyên lắm. Nước mắt Dậu lại cứ thế rơi. Nàng chẳng ghé nổi quán phở ven đường mà ăn. Nàng lên cơn sốt. Gã bán phở cho người mang đến tận phòng nàng bì phở bò tái viên nóng hổi, không tính tiền ship giá vẫn 20k. Nàng không nuốt nổi. Chẳng biết tự bao giờ nàng và gã bán phở hay trò chuyện, toàn chuyện tào lao không cuối không đầu, chuyện chồng nàng tai nạn qua đời, chuyện con bạn nọ hơi thân thân nói xấu nàng số sát phu, nói nàng xui xẻo, chảnh chọe, chuột sa chĩnh nếp… Nàng kể với gã con đó là hồ ly tinh, có chồng mà còn ngoại tình hai, ba gã, mấy gã đó cho nó tiền mua xe máy, điện thoại, vòng vàng. Mấy bà vợ già rình rập hoài mà chưa bắt trúng. Mấy cha này vừa giỏi che giấu vừa già mồm nên mấy mẹ vợ già bó tay chấm com, đành ấm ức ghen tuông vu vơ. Nàng nhớ mấy lần bị nó phỉnh đi làm bình phong cho nó nhậu nhẹt, hú hí với trai mà thấy có tội to với chồng nó, lại còn hào hiệp gọi điện cho chồng nó để gã chồng an tâm, tin tưởng. Nàng thấy mình tội lỗi. Đàn bà đã không xấu xa thì thôi, xấu xa rồi thì hơn thú vật. Cũng tại nàng cứ tin đắm đuối lời nó chê trách gã chồng gia trưởng, vũ phu, tồi tệ cùng tận. Tin quá mà tội nghiệp mà bênh che cho nó làm đủ chuyện mèo mả gàđồng. Đến khi nó thấy nàng nguy hiểm vì một trong số mấy gã nhân tình già của nó ngắm nghía nàng mấy cuộc đi chung thì nó quay sang “cắn” nàng. Thế là tan một tình bạn hơi thân thân. Nàng đâu ngạc nhiên. Nhưng nàng vẫn tin nó chừa nàng ra, vì nàng là ân nhân của nó. Gã bán phở bảo nàng chỉ con xấu xa đó để gã cho nó một trận bẽ mặt. Nàng ngăn phắt: Vô duyên, bỏ đi, bận lòng chi chuyện cáo chồn tào lao, có bao việc tốt đẹp để làm kìa ông. Nàng xưng hô với gã ông tui, do bằng tuổi, do cũng hơi thân thân. Nàng ít bạn gái thân. Nàng thích thân bạn trai hơn. Bạn trai không nhiều chuyện, không nhỏ bụng như bạn gái. Hồi mới biết nhau thấy gã gọi em ngọt sớt, xưng anh ngọt sớt Dậu cũng ừa ừa. Quen, chơi, thân mới biết bằng tuổi, nàng đổi cái rẹc. Gã bảo nàng đúng là thứ đàn bà bướng bỉnh.
Gã từng ở tù. Gã vào trại 4 tháng, vợ gã theo người ta vô Phú Yên làm ăn, có con với người ta. Gã bảo mừng cho vợ đã tìm được chỗ nương tựa. Hồi gặp nhau cà phê nó cứ ôm gã khóc. Nước mắt đàn bà mặn như muối. Gã sợ nước mắt đàn bà, sợ hơn máu. Gã bảo đời gã làm trâu chó cũng chịu miễn vợ con hạnh phúc. Gã đâm chết người ta trong cơn đánh trả cuồng điên một mình với 5 tên say lên cơn dâm để cứu vợ bị sàm sỡ trong một đêm mưa lất phất. Khi tỉnh lại, thấy vợ ngồi khóc gào thảm thiết, bên cạnh một thằng mặt non choẹt mắt trợn ngược, công an, dân phố lớp trong lớp ngoài xôn xao, la ó. Vợ không việc làm, gã đi tù, nó cần tiền ăn, tiền son phấn áo quần, nó theo thằng lái xe chở mì làm vợ. Nó ấm thân. Gã nhận tin, chỉ cười nhếch mép. Đàn bà đã không mất nết thì thôi. Mất nết rồi thì cột nó vô chân giường nó vẫn hỏng. Gã bảo gã biết trước ngày này rồi. Buông nhẹ tênh. Gã ra tù trước hạn vì chấp hành án tốt. Trong tù gã quen mấy thằng phạm trọng tội nhưng tụi bạn gã là những đứa nghĩa tình. Đời và người xô đẩy dữ dội mà buộc phải ác. Ai chẳng muốn làm người lương thiện. Gã cứ toàn nói chuyện con vợ bỏ gã theo trai, mấy gã bạn phạm nhân hồi ở tù cho nàng nghe. Nàng nói toàn chuyện buồn/vui công ty, mẹ chồng, chồng cũ, đứa bạn xấu, sếp tốt sếp dở với gã. Những câu chuyện tào lao, không đầu không cuối song làm nàng thấy nhẹ người. Lâu nay nàng không có bạn. Giờ có gã.
Ngày gã và Dậu làm mâm cơm mời hai họ và bà con xóm giềng chứng kiến hai người về một nhà. Người khen kẻ bĩu môi. Ả chủ nhà trọ bình dân đầu xóm la lên: Ối, thạc sĩ thạc sẽo hẳn hoi, tưởng lấy ai, hóa ra lấy thằng mãn tù về. Nàng nghe mà muốn rút lưỡi ả vứt cho Milo nhai. Thêm mụ kia trong công ty to nhỏ với mấy anh ả đồng nghiệp phòng C, K, L: Con nhỏ thạc sĩ này khác người, lấy hàng dữ à nhen. Gò má cao, mắt xếch thế kia không biết thằng chồng có thọ không? Nàng nghe Miều nói lại không sót dấu phẩy. Nàng không mời ai trong công ty hôm lễ cưới của gã và nàng. Không ai cả. Nàng không muốn thấy những thơn thớt nói cười được giấu che giả tạo sau môi son mắt phấn sành điệu. Sau tuần trăng mật, nàng gọi mụ kia đến phòng họp. Cửa đóng sập. Nàng nói chuyện theo cách của nàng, kiểu của vợ gã bán phở hè phố như chồng nàng dạy. Từ đó trở về sau và sau sau nữa, mụ đồng nghiệp nhìn thấy nàng là né né. Mắt mụ luôn cụp xuống mỗi lần nàng nhìn hay hỏi bất cứ điều gì. Gã từng bảo nàng: Em không phải dạng vừa đâu. Nàng bảo: Lành với bụt ai lành với ma. Sống một lần thôi, sống cho thẳng thớm. Gã bảo: Bây giờ gã tin trên đời này có thần linh, có Phật. Gã theo nàng ngày rằm mồng 1 tụng niệm cho Nam, ăn chay, làm việc thiện để mong Nam phù hộ cho gã và nàng rổ rá cạp lại mãi mãi. Gã bảo đời gã trúng số độc đắc. Thế mới biết, chẳng có nỗi buồn đau nào là mãi mãi!
Nàng về họp gia đình chồng cũ, mẹ chồng bảo phải có mặt con Dậu. Nàng về. Ngồi chỗ nào cũng thấy lúng túng. Ngôi nhà rất quen thuộc, tháng về đôi bận thăm mẹ chồng, ngồi với bà nói chuyện cũ/mới mà hôm nay thấy mình vô duyên. Mẹ chồng vẫn nhớ nhớ quên quên. Bà có một bà bạn luật sư tên Lâm. Bà Lâm đang ngồi kia cười nói oang oang với em dâu. Nó vừa gọt xoài vừa nói oang oang chuyện buôn bán trái cây ngoài chợ Bùng Binh, nó chửi bọn buôn trái cây bẩn, thuốc ngâm, thuốc ủ, thuốc bôi lan tràn nhiễm độc người mua, nó bảo chưa bao giờ thấy người Việt ác với nhau vì tiền như lúc này. Trái cây, rau củ quả, bánh, sữa, gạo, mắm… cái gì cũng giàu hóa chất, con đường ra nghĩa địa từ miệng nhanh hơn bao giờ hết. Ai cũng gật gù tán thưởng và tỏ vẻ âu lo. Mẹ chồng ngồi nhìn nàng âu yếm, bà bảo: Có cháu đi cho mẹ kịp bồng. Nàng dạ nhẹ như gió thoảng. Em dâu đã sẩy ba lần, ba lần nó ra nhà nàng khóc oang oang rồi chạy vềchợ,lại ngày qua ngày quần quật bán buôn. Con Tây đẻ hai đứa con gái, gia đình nhà chồng nó suốt ngày mát mẻ bóng gió vô phước vô hậu, sau này chết không ai ôm di ảnh, không ai cúng giỗ. Con Tây lộn ruột không cho con về nhà nội chơi. Ông bà nhớ cháu lại phải bắt taxi sang thăm. Con Tây được dịp mát mẻ, bóng gió: Bố mẹ bảo anh Đức kiếm vợ nhỏ mà đẻ đứa cháu trai, con trứng thối hết rồi, bó tay. Nhanh nhanh còn kịp kẻo sau này anh ấy bia rượu riết rồi ươn hết người, chả có nổi đứa cháu chống gậy đâu bố mẹ à! Ông bà nội từ đó không sang nhà sui gia lần nào nữa. Vợ chồng con Tây ba bữa, dăm bữa lại đánh chửi nhau như chó với mèo. Những khi ấy, bà nội nằm trong buồng, mở ti vi hát oang oang.
Những lúc ấy, em dâu đang quần quật bưng bê hàng, đăm đăm đếm tiền dưới chợ, thằng Bắc đi nhậu với bạn bè. Những lúc ấy, Dậu bên gã chồng bán phở đẹp trai cơ bắp cuồn cuộn, chạy bàn tới lui mỏi nhừ hai cẳng… Cuộc sống quá nhiều vui buồn lộn xộn. Với nàng cuộc sống đơn giản như tô phở chồng múc cho cuối giờ chiều, khi vừa tan sở, mệt bã bời và đói hoa mắt. Tô phở làm ấm ruột, hồng hào da dẻ, tay chân căng giãn, đủ sức chạy bàn đến 9 – 10 giờ mỗi đêm và thu dọn quán xá về nhà ôm nhau ngủ trước 12 giờ mỗi khuya. Và anh luôn khép lại ngày bằng câu: Tất cả để lại đấy, mai anh lo!… Cuộc họp trôi qua, mẹ chồng quyết định chia tài sản cho các con, bà muốn ở với nàng, với vợ chồng thằng Nam con Dậu. Nàng lại khóc như mưa. Ôi mẹ chồng, 6 năm rồi bao thay đổi, đổi thay. Mẹ chồng vẫn nghĩ Nam còn sống, vẫn nghĩ nàng và Nam đang bên nhau. Mẹ bảo mai mẹ dọn quần áo đồ đạc ra nhà chị cả Dậu, tụi bay tự lo lấy nhau. Không ai nói tiếng nào. Em dâu bảo chiều mẹ đi, chẳng được mấy nỗi nữa. Bà lẫn lắm rồi! Bà cho chị 800 triệu, tụi em thống nhất, bác Lâm làm di chúc cho mẹ đầy đủ lắm, chị xứng đáng. Vợ chồng em ở căn nhà này, đất bên phường Tây Sơn mẹ cho cô Tây, tiền tiết kiệm lâu nay của mẹ đấy, mẹ cho chị. Bà ở với chị tụi em cũng yên tâm lo làm ăn. Bà mất, nhà ta lo cho bà nằm bên ông và anh Nam mồ mả đẹp đẽ. Cả nhà ai ý kiến gì giơ tay? Im phắc. Tiếng đồng hồ tạch tạc. Bác Lâm bảo thế là xong xuôi tốt đẹp. Cái Dậu về nói với chồng chuyện là vậy để chú ấy hiểu mà thương lấy mẹ chồng cũ. Nàng cười trong nước mắt. Nước mắt của đứa con gái lấy chồng xa quê, được mẹ chồng bày vẽ từng chút từ chuyện nấu cá, kho dưa, bóp gỏi đến chuyện báo đáp hiếu hỉ nội ngoại xóm giềng, được mẹ bóp gió xoa dầu cho ngày trở giời nhức mỏi, được mẹ chườm đá cho khi dính cơn sốt giữa chiều, được bà che chắn mỗi khi chồng ghen tuông hờn dỗi, được nhớ nhớ quên quên cùng mẹ ngày anh tai nạn qua đời… Còn bây giờ, anh và nàng sẽ bán phở mỗi chiều đến khuya quán nhỏ đầu đường lối vào hẻm nhà nàng. Quán thuê giá 2tr/tháng. Nàng và mẹ chồng sẽ phụ bưng bê dọn dẹp. Chiều nào cũng như chiều nào. Ngày nắng cũng như ngày mưa.
Ngày vợ chồng Dậu khai trương quán phở đường Nguyễn Tuân, hoa chúc mừng hai hàng đặt từ sân vào đến cửa rực rỡ thơm ngát. Mẹ chồng mặc áo dài nhung tím, ngồi thong thả nhận lời chào, chúc mừng của bạn bè gần xa đến chung vui với vợ chồng nàng. Bà luôn miệng cười nói vui lắm, vui quá. Quán giờ đã có 4 nhân viên phục vụ trẻ đẹp, nhanh thoăn thoắt nhưng cứ cuối giờ chiều khách đến ăn đã quen với hình ảnh bà cụ áo bà ba nhung tím, xanh, nâu, trắng bưng rau, bưng chanh ớt cho khách rồi vỗ vỗ vào lưng dặn dò rưng rưng: Ăn no rồi đi về cẩn thận đấy nhé con! Khách cũng quen bóng cô chủtóc búi cao, hay cười him him mắt chạy ra chạy vô rối rít bưng bê, lau chùi, thu tiền và cúi đầu cảm ơn khách rối rít. Khách địa phương gọi quán phở cô Ba him, khách du lịch gọi đúng tên quán: Nhớ.
Gia Lai, 22/10/2017
Hoàng Thanh Hương


Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2018

Sự tích chiếc xe trâu của Phùng Quán

Truyện sưu tầm
Sự tích chiếc xe trâu của Phùng Quán
Nguyễn Quang Lập
Copy từ http://dtphorum.com/pr4/showthread.php?4584-Truyen-suu-tam ;tác giả: Nguyễn Quang Lập ; nickname thuykhanh đã đăng ngày 30-06-2015 lúc 19:36 trong mục Truyện sưu tầm.
Những năm tám mươi mình ở quê, mỗi lần ra Hà Nội mình thường trọ hai nơi, một là nhà Phạm Xuân Nguyên, hai là nhà Phùng Quán. Chỉ hai nơi đó là mình cảm thấy hoàn toàn tự do như ở nhà mình.
Nhà thằng Nguyên bằng cái lỗ mũi, chưa đầy chục mét vuông. Vợ chồng nó còn trẻ, có mình chúng nó như bị cấm đoán chuyện vợ chồng, rất khổ nhưng chúng nó vẫn vui vẻ. Mình cũng ái ngại lắm.
Thường trước khi ngủ mình nốc rượu thật say, một là để ngủ cho ngon, khỏi phải tưởng tượng lung tung, hai là ngầm thông báo cho chúng nó là mình say rồi, “chết” rồi, muốn làm gì thì làm, hi hi.
Lúc đầu cứ ra Hà Nội là mình tấp vào nhà thằng Nguyên. Một hôm, anh Quán đến chơi nhà thằng Nguyên gặp mình ở đấy.
Tàn cuộc anh kéo mình ra ngõ, nói mày vô nhà lấy đồ anh chở lên nhà anh. Mình ngạc nhiên, nói răng rứa anh. Anh cười, vỗ nhẹ vai mình, nói mày có vợ rồi mà tồ lắm. Mày nằm chềnh ềnh ra đó, tụi nó biết mần ăn ra răng.
Mình ok liền, vui vẻ theo anh về nhà.
Bây giờ mình mới để ý chiếc xe đạp của anh Quán, nó to quá cỡ, trông thô kệch kinh hồn, chưa bao giờ mình thấy chiếc xe đạp nào to kềnh càng và thô kệch như xe này, ống tuýp khung xe to hơn cổ tay, nan vành xe chiếc nào chiếc nấy to bằng đầu đũa, không thèm nói ngoa.
Anh Quán nói đó là xe trâu, người Nga dùng nó làm xe thồ, chở vài tạ vẫn chạy tốt. Mình hỏi sao anh mua xe này. Anh cười cái hậc, nói tiền đâu mà mua, có tiền cũng chẳng có mà mua, xe này khắp Hà Nội bói không ra một chiếc.
Mình nói: ủa, rứa răng anh có.
Anh nói người ta tặng. Mình hỏi ai tặng, anh nói Lênin. Mình cười phì, nói anh không biết nói trạng. Lênin chết năm nào, anh sinh năm nào mà bảo Lênin tặng anh chiếc xe đạp này.
Anh cười hì hì, nói rứa mới tài.
Mình không hỏi nữa vì biết thế nào anh cũng kể, tính anh thích kể có đầu có đuôi, ít khi kể gọn lỏn một câu. Anh hay kể mấy chuyện liên quan đến sự viết của anh.
Anh kể cái truyện Vượt Côn Đảo tất nhiên anh bịa, hồi đó nghe người ta kể lại một phần anh bịa ra chín phần.
Cho đến ngày anh ngồi kể cho mình nghe, khoảng năm 85 - 86 chi đó, anh vẫn chưa biết Côn Đảo méo hay tròn.
Trong đó có mấy câu anh tả con đường từ nhà tù ra bãi dương (trường bắn) được lót xương của các tù nhân bị án tử hình.
Là anh bịa ra thế để nâng cao lòng căm thù Đế quốc thực dân chứ xương người làm sao lót được đường.
Chẳng ngờ trong hồi ký của một ông ở tù Côn Đảo về (ông này nổi tiếng lắm, không dám nêu tên, hi hi) khi viết về con đường này cũng tả y chang như anh tả, cũng con đường lót xương các tù nhân, he he.
Cũng chuyện tù Côn Đảo, trong Trường ca Võ Thị Sáu (thực ra là bài thơ dài, in nguyên một trang báo Tiền Phong) anh viết tuổi 16 chị Sáu vẫn hái hoa lê-ki-ma cài tóc.
Buổi sáng ngày bị hành hình, chị đã ngắt một nhành hoa lê-ki-ma cài lên mái tóc, trên đường ra pháp trường chị vừa đi vừa hát.
Anh đâu biết lê-ki-ma là cây gì, nghe cái tên đẹp thì tưởng hoa của nó chắc đẹp lắm.
Sau này mới biết lê-ki-ma thực ra là cây quả trứng gà, hoa đã xấu lại đầy nhựa, “ngắt một nhành hoa cài mái tóc” có mà dở hơi.
Ai dè bác Nguyễn Đức Toàn lấy cảm hứng từ bài thơ của anh để viết bài Biết ơn Võ Thị Sáu (chắc khi đó bác Toàn cũng không biết cây lê-ki-ma là cây gì):
Mùa hoa lê-ki-ma nở ở quê ta miền đất đỏ
Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng
Đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma nở…
Chị Sáu đã hy sinh rồi
Giọng hát vẫn như còn vang dội vào trái tim…
Anh Quán cười khà khà, nói sau này hễ viết về chị Võ Thị Sáu thì người ta lại bê nguyên chi tiết này vào, vui quá là vui.
Đến ngày thứ ba anh Quán mới kể sự tích chiếc xe trâu. Bữa đó trời mưa, anh đi đâu về, chạy rật rật vào nhà, miệng nói tay chỉ, Lập Lập mày bê chiếc xe đạp vào nhà cho anh.
Mình chạy ra, vừa nhấc lên đã lè lưỡi, nặng quá là nặng. Mình vừa thở vừa nói xe này đúc bằng sắt hay sao, nặng như chiếc xe máy.
Anh Quán cười nhẹ, nói thì bằng sắt chứ sao, có tí nhôm nào đâu, có rứa mới gọi là xe trâu. Anh lôi chai rượu vừa kiếm đâu về rót ra hai ly, nói uống đi. Xe này anh kiếm được thời viết văn chui đấy, chuyện hay lắm.
Anh kể đâu như năm 69 - 70, bé Đỗ Quyên, con gái đầu của anh, đang học cấp I. Mùa hè thì không sao, cứ đến mùa đông là nó thường xuyên đi học muộn. Trời rét mướt cả nhà ngủ khì trong chăn ấm, đến khi tung chăn vùng dậy đã bảy, tám giờ rồi.
Con gái bị cô giáo phê bình liên tục, anh xót lắm, nghĩ bụng không biết làm thế nào kiếm được cái đồng hồ báo thức.
Đồng hồ báo thức Liên Xô hồi đó bán phân phối giá 20 đồng, đối với anh Quán là cả một món tiền to.
Nhưng giá có kiếm được 20 đồng cũng chả đến lượt anh, sổ gạo còn hồi hộp sợ có ngày bị cắt mất, anh đâu dám mơ được phân phối đồng hồ.
Đến chơi nhà Trần Dần, anh thấy có tờ họa báo Phụ nữ Liên Xô, vừa lật vài trang chợt thấy thông báo thể lệ cuộc thi viết về Lênin. Ngó xuống phần giải thưởng, giải khuyến khích là đồng hồ báo thức, bút máy và một vài thứ khác.
Lập tức anh về nhà viết ngay, quyết giành cho được cái giải khuyến khích. Chừng hai ngày anh viết xong cái truyện "Như con cò vàng trong cổ tích".
Tất nhiên anh không lấy tên thật. Anh thư vào Nghệ An cho chú em họ đang làm công nhân lâm trường gì đấy, xin phép được lấy tên anh ấy. Sở dĩ anh lấy tên chú em họ, vì chuyện thi cử anh không dám mượn tên mấy ông bạn nhà văn anh vẫn mượn tên, hơn nữa lấy tên một người thuộc giai cấp công nhân chắc người ta sẽ ưu tiên hơn.
Mới gửi thì thấp thỏm lắm, thỉnh thoảng có bưu tá gọi ra ngõ lấy thư, trống ngực đập to hơn trống làng, cứ tưởng bở thư chú em họ báo tin giải thưởng.
Hơn nửa năm vẫn biệt vô âm tín, tuyệt vọng luôn. Trách mình to đầu mà dại, tự nhiên đơm đó ngọn tre, đấu với các anh tài của cả 12 nước Xã hội Chủ nghĩa, cái giải rút cũng đừng có mà mơ.
Một hôm rượu say anh ngủ như chết, chị Trâm, vợ anh, véo cho cái rõ đau. Anh giật mình mở mắt, chị Trâm cầm tờ giấy báo trúng giải chú em họ vừa cầm ra đưa qua đưa lại trước mắt anh, ối cha mẹ ơi giải nhất!
Anh tự véo đùi mình hai ba cái để xem mình tỉnh hay mơ.
Chú em họ mặt nhăn như bị, nói anh mần ri chết em rồi. Anh hỏi sao. Chú em họ kể giấy thông báo về buổi sáng, buổi chiều đã ồn khắp lâm trường, một ngày sau thì ồn ra cả tỉnh.
Một ông công nhân ở nơi khỉ ho cò gáy bỗng nhận cái giải nhất của Liên Xô, lại giải nhất viết về Lênin, thế mới kinh.
Đài lâm trường, đài huyện, đài tỉnh đua nhau nói râm ran. Các nhà báo kéo nhau về lâm trường ầm ầm, chú em họ hãi quá, nửa đêm nhảy tàu ra nhà anh.
Chuyện nghiêm trọng. Việc này nếu lộ ra chẳng những anh mất toi cái giải nhất mà việc viết văn chui của anh hơn chục năm qua nhất định bị lật tẩy, khéo không tù tội như chơi.
Anh lạy lục chú em họ đã thương thì thương cho trót, cố làm sao đừng để chuyện này lộ ra.
Anh diễn giải phân tích cái truyện, đặt ra đủ loại câu hỏi rồi trả lời, để chú em họ đối phó với đám nhà báo.
Chú em họ cay đắng ra về, thôi thì đâm lao phải theo lao, nếu lộ ra anh Quán chết thì anh cũng chết theo, chẳng phải chuyện chơi.
Được hơn một tuần, nửa đêm chú em họ lại mò ra, lôi trong bị ra cái đồng hồ báo thức và năm chục đồng đưa cho anh Quán, nói của anh đó, anh cầm đi rồi tha cho em, hai ba tuần nay vợ chồng em mất ăn mất ngủ, kiểu này rồi cũng “tăng xông” đứng tim mà chết, chẳng sống được đâu.
Hỏi thì chú em họ kể, hết lâm trường mít tinh biểu dương đến huyện, sở hội họp khen ngợi. Lại còn Tỉnh ủy gọi lên chiêu đãi, tặng 50 đồng; Ủy ban tỉnh gọi lên chiêu đãi, tặng đồng hồ báo thức. Hai vợ chồng chú em họ sợ hết hồn, cứ mỗi lần có trát gọi là tim họ nhảy lên sau gáy, mặt mày xanh như đít nhái.
Rồi cũng qua. Ngày anh Quán đưa chú em họ đến Đại sứ quán Liên Xô nhận chiếc xe đạp là ngày cuối cùng trong suốt ba tháng trời căng thẳng hồi hộp.
Anh nấp sau gốc cây bên kia đường, đối diện cổng Đại sứ quán, căng thẳng đến độ mồ hôi đầm đìa toàn thân, ướt sũng cả áo quần, chỉ sợ đến phút chót mọi việc bị lật tẩy.
Chờ suốt ba tiếng đồng hồ mới thấy chú em họ đẩy chiếc xe đạp đi ra.
Anh ôm chầm lấy chú em họ nghẹn ngào không nói được. Hồi lâu mới nấc lên, nói em ơi, ơn em đời đời kiếp kiếp.
Anh theo Vệ quốc quân vào sống ra chết không biết bao nhiêu lần, chưa lần nào anh sợ như lần này.
Nghe đến đây tự nhiên mình muốn khóc.
Nguyễn Quang Lập

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2018

Những câu chuyện của gió

Những câu chuyện của gió
Copy từ http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/van-hoc-nghe-thuat/nhung-cau-chuyen-cua-gio-527205 , tác giả: Kim Nhung , đã đăng ngày 23/12/2017 21:47
QĐND - Ngày còn nhỏ, mỗi lần mẹ tôi đội lên đầu thúng gạo đã làm sạch rồi men theo lối đi nhỏ vòng quanh mấy quả đồi đem lên trang trại cho ông bà nội thì tôi cũng vội vàng chạy theo dù đang chơi hay làm gì. Mẹ quay lại lấy cái nón gác trên vách đưa tôi đội rồi tất tả bước đi. Tôi phải vừa đi vừa chạy mới theo kịp mẹ.
Tôi thích theo mẹ lên trang trại của ông bà nội vì con đường quanh co chạy vòng quanh chân đồi có rất nhiều quả rừng ăn được. Mùa nào thứ nấy, khi thì quả sim, lúc lại quả mua căng tròn chín mọng, có khi là những quả chuối rừng hấp dẫn. Còn hoa dại hai bên lối đi thì nhiều vô kể. Những bông ké màu tim tím phơn phớt nhỏ xíu, quả của chúng bám đầy vào gấu quần như những con vật nhỏ bám chặt lấy những gì chúng chạm phải, lì lợm nhưng cũng ngộ nghĩnh. Và thích nhất là khi lội qua con suối cạn. Những hòn đá trơn nhẵn nhiều màu sắc nằm dưới lòng suối giống như một thế giới khác, mà mỗi hòn đá là một tâm hồn bí ẩn.
Ngôi nhà của ông bà nội nằm sát chân đồi được làm từ những cây gỗ, cây tre ông đốn trên rừng từ lâu lắm. Ấy là tôi nghe mẹ kể thế chứ tôi cũng không rõ lâu lắm là từ khi nào. Xung quanh ngôi nhà là những nương sắn, nương ngô và một chòi canh ở lưng chừng đồi. Đêm đêm ông thường lên chòi canh nằm. Mẹ bảo ông canh thú, ngăn chúng về bắt gà, phá nương. Tôi nhìn lên chòi canh thấy chỉ toàn là gió nên thầm nghĩ chắc ông lên đó nằm canh gió. Lúc đó, ông bà nội tôi đã chừng tám mươi tuổi nhưng còn khỏe lắm. Ông nội cao to, dáng đi thẳng, khuôn mặt phương phi. Bà nội tuy lưng hơi còng nhưng tóc bà vẫn đen nhánh. Màu đen ấy cũng bí ẩn như những ngọn đồi trên kia tôi chưa đặt chân đến.
Minh họa: Phạm Hà.
Trang trại của ông bà ở xa làng và nằm biệt lập nên rất ít người qua lại. Bố mẹ tôi nhiều lần thuyết phục ông bà xuống làng ở vì có tuổi rồi, nhưng ông bà nhất định không nghe. Những lần mẹ tôi xay lúa, đội gạo lên cho ông bà, khi ra về tôi đều thấy gương mặt mẹ buồn buồn, có lần mẹ còn lén lau nước mắt. Không ít lần tôi thấy ông bà mắng mẹ những câu gì đó mà tôi nghe không rõ. Còn mẹ lẳng lặng đổ gạo vào thùng rồi lại cắp thúng về làng. Tôi nghĩ chắc ông bà mắng mẹ cũng như những lần mẹ mắng tôi nghịch dại mà thôi. Dọc đường về mẹ chỉ cho tôi thấy những ngọn đồi xa xa với những cái tên nghe dân dã mà cũng đầy bí ẩn, như: Đồi Hầm, Chín Chôm, Ao Voi, Hố Nai, Dốc Rụt. Những cái tên và những ngọn đồi đã in vào tâm trí tôi. Nhiều đêm, trong giấc mơ tôi thường thấy mình đặt chân lên những ngọn đồi đó để kiếm tìm một điều gì không rõ.
Tôi lớn lên một chút, bố đi làm ăn xa vì những vụ mùa thất bát. Tôi bắt đầu biết giúp mẹ nấu cơm, quét nhà. Tôi không còn cùng lũ trẻ hàng xóm nghịch đất cát hay chơi đồ hàng ngoài ngõ. Công việc tôi thích nhất là lùa mẹ con con Vàng lên khu trại của ông bà nội để chăn. Bà tôi thường nấu ăn bằng những chiếc niêu đất màu vàng nâu nhỏ xíu. Khi ăn tôi luôn nghĩ liệu ông bà và tôi có bị đói không khi những chiếc niêu quá nhỏ. Nhưng niêu cơm của bà đã nuôi tôi suốt thời ấu thơ nghèo đói.
Tôi đi học. Chữ nghĩa dắt tôi đi xa hơn con đường vòng quanh những quả đồi để đến khu trại của ông bà nội. Chỉ ngày cuối tuần tôi mới có thời gian chăn bò. Mẹ con con Vàng quen đường đi không cần phải dắt. Lúc chúng gặm cỏ ven sườn đồi cũng là lúc tôi leo lên chòi canh của ông nội ngồi đọc sách. Có những lúc tôi bước vào thế giới của sách vở mà quên bẵng đi khu trại xinh đẹp nơi chân đồi từng là cả thế giới tuổi thơ tôi.
Ông nội tôi về cõi vĩnh hằng vào một đêm nhiều gió trên chòi canh. Mộ ông ở ven chân đồi, nơi mà suốt cả cuộc đời ông đã gắn bó. Ông ẩn mình vào màu xanh bất tận của núi đồi. Cha tôi đặt xuống mộ ông cây cung cũ kỹ hằng ngày tôi vẫn thấy trên gác bếp. Mỗi lần bà nội thổi cơm là thêm một lần khói ám vào nước gỗ màu của thời gian. Khi mộ ông xanh cỏ thì bà nội xuống làng ở cùng cha mẹ tôi. Lúc đó tôi cũng đã đi học cấp ba. Bà tôi không còn mắng mẹ nữa, bà lặng lẽ ra vào quét tước nhà cửa, vườn tược tinh tươm. Thi thoảng bà ra chái nhà nhìn lên phía khu trại cũ, nơi ông tôi yên nghỉ. Màu xanh của núi đồi xa xa lẫn vào màu tóc đen nhánh nhưng nhức của bà lúc trời chiều chạng vạng.
Rồi tôi cũng dần xa những buổi chiều nhìn nội lẫn vào bóng hoàng hôn. Đêm trước ngày đưa bà về cạnh ông nơi chân đồi, cha tôi khóc nhiều lắm. Đó là lần đầu tiên tôi thấy cha khóc. Rồi cha kể cho tôi nghe câu chuyện mấy chục năm về trước.
Ngày cha muốn cưới mẹ về làm vợ, nhà ngoại biết ông nội tôi là thợ săn có tiếng nên đã thách cưới một con lợn rừng. Nhưng xưa nay ông nội tôi chỉ săn thú nhỏ như chồn, cáo, sóc, chim. Ông bảo thú lớn là sự linh thiêng của rừng nên kiêng kỵ. Nhưng rồi vì lễ cưới của cha tôi nên ông đã bước qua điều kiêng kỵ đó. Sau nhiều đêm phục kích, ông bắn được con lợn rừng lớn làm lễ cưới cho cha mẹ tôi. Nhưng cũng từ đó trở đi ông không còn săn bắn được con thú nhỏ nào nữa, dù là một con chim. Đó cũng chính là lý do mà sau này ông bà nội luôn mắng trách mẹ tôi.
Bây giờ khu trại của ông bà nội tôi đã không còn dấu vết ngày xưa. Mộ ông bà nội cũng đã được đưa về làng. Nơi ấy chỉ còn lại gió thổi vi vút trên những đồi bạch đàn như kể huyền thoại của vùng đất này. Gió cứ hoang hoải thổi mãi vì đã không còn nội tôi trên chòi canh gió ngày xưa.
Y7611+13.0116.Bản Dọi.Tân Lập.Mộc Châu.Sơn La
Minh họa - Ảnh của flickr.com .
ngôi nhà nhỏ trên đồi
Ngôi nhà nhỏ trên đồi - Ảnh trên flickr.com của Ngoc Thao Nguyen.
Tùy bút của Kim Nhung

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Chiếc áo màu thiên thanh

Chiếc áo màu thiên thanh
Truyện ngắn của Phan Thị ThuLoan
Copy từ https://thanhnien.vn/van-hoa-nghe-thuat/van-hoc/chiec-ao-mau-thien-thanh-truyen-ngan-cua-phan-thi-thu-loan-300050.html ;tác giả: Phan Thị Thu Loan ; đã đăng ngày 11-03-06 lúc 04:37.
Chạy đi bà con ơi! Có thằng điên vừa trốn trại kìa!". Tiếng kêu kinh hoàng lan truyền rất nhanh trong dãy nhà tập thể. Già trẻ lớn bé rầm rập chạy về, cố thủ trong mỗi pháo đài.
Bố tôi chẹn cửa chính bằng một thanh gỗ lớn. Mấy chị em tôi ra sức kéo hai cánh cửa sổ, móc chặt vào khuy sắt. Vừa xong việc thì cửa chính bị đạp rầm rầm. Bố tôi đứng ngay sau cửa, tay nắm chặt cái chày giã cua, sẵn sàng xung trận. Bọn trẻ con chúng tôi nép vào góc nhà, run bần bật. Nhưng rồi cánh cửa ngừng rung, người điên đã bỏ đi. Nhoáng một cái, bên nhà bà Côi vọng lên tiếng hét thất thanh. Bố tôi hé cửa, nhìn ra ngoài. Mấy chú bảo vệ của trại điên, mặc áo blu trắng, tay cầm cuộn dây, chạy ngang qua. Chúng tôi xúm lại, tranh nhau ngó nghiêng qua khe cửa. Kìa, thằng điên đã bị trói gô lại dẫn về trại. Cả nhà tôi ùa sang phòng bà Côi. Bà cụ bế đứa cháu mới hai tháng tuổi từ trong cái chậu nhôm ra, vừa khóc vừa kể lể:
- Khổ thân cháu tôi! Nó bị thằng điên giằng lấy, bỏ vào thau đặt lên bếp than...
Thằng Nhỡ giãy giụa, khóc ngằn ngặt. Bố tôi ôm lấy thằng bé lật ngang lật ngửa, rồi bảo:
- May mà chưa bị phỏng. Nó sợ quá đấy thôi.
Bà Côi tạm yên tâm vì bố tôi là bác sĩ khoa Nhi của bệnh viện tỉnh. Bà ôm thằng Nhỡ, à ơi nựng nó, giọng vẫn còn khản đặc:
- Ờ, ờ, nín đi cháu! Nhờ trời thằng điên bị bắt ngay, không thì cháu tôi chỉ có nước chết...
Xung quanh chúng tôi, mọi người đã kịp xúm lại, bàn tán ồn ào. Bố tôi xua chúng tôi về đi học, rồi ông vội đạp xe đến cơ quan.
Khi đã lớn lên thành một thiếu nữ, tôi vẫn không sao quên được thế giới của những người điên. Họ bị nhốt trong trại, cách khu tập thể bệnh viện chỉ chừng vài trăm mét. Lũ bạn tôi thường lẻn sang bên ấy, khi người lớn đi làm. Trại được rào dây thép gai, mỗi phòng giam như một xà lim nhỏ khoảng bốn, năm mét vuông, nhốt một sinh linh điên dại. Cửa phòng lắp song sắt. Chúng tôi vẫn có thể quan sát được toàn bộ những gì diễn ra phía trong dãy nhà ngoảnh mặt ra bãi cỏ. Lạ cái ở đây toàn là ông điên, chẳng có bà điên nào! Hay là họ bị nhốt riêng ở dãy nhà bên trong nhỉ? Bọn trẻ con chúng tôi cứ túm vào nhau, xì xào bàn tán.
Tôi cùng cậu em trai lò dò lần đi, mắt trước mắt sau lấm la lấm lét. Bởi vì nếu không may, rất có thể sẽ nhận ngay một mẩu gạch vỡ hay cả một cục phân từ trong bay vèo ra. Nhiều đứa đã bị như thế. Chúng luôn miệng cảnh báo tôi. Nhưng cuối cùng tính tò mò đã thắng. Tôi nhìn thấy một ông điên ngồi thẫn thờ, trên người không một mảnh vải, đang dùng chiếc que nhỏ chọc chọc vào tổ kiến lửa ở hốc tường. Khi bị cả bầy kiến bò lên đốt, ông ta cào cấu lia lịa, la hét ầm ĩ. Mấy dãy trại giam lập tức nổi lên những tiếng rú chói óc, sởn da gà. Tôi vội dắt cậu em trai bỏ chạy khỏi cái nơi đáng hãi đó. Sau lần ấy, ai rủ thế nào, tôi cũng không dám trở lại đấy nữa.
Những lúc không sang trại điên, bọn trẻ chúng tôi lại rủ nhau đi nhặt hoa đại rụng. Hoa đại màu vàng nhạt, cánh hoa viền trắng thơm ngát. Dẫu đã rơi xuống đất, hoa đại vẫn rất thơm. Cánh hoa tươi nguyên như lúc còn đậu trên cành. Tôi thường dùng chỉ xâu lại từng vòng, đeo quanh cổ. Trong mùi hương hoa đại, tôi thường nằm lăn trên thảm lá rụng, thả mình vào thế giới mộng mơ. Ở đó không có những người điên tự hành hạ mình và làm người khác nơm nớp lo sợ. Chỉ có những cô tiên xinh đẹp tuyệt trần múa hát trong muôn sắc hoa tươi. Tôi nhìn lên trời, ngắm màu xanh nhưng nhức mà mẹ tôi vẫn gọi là màu thiên thanh, lòng ước ao có một ngày mình được mặc chiếc áo da trời tuyệt vời ấy.
Đang thả sức tưởng tượng, tôi chợt thấy lũ bạn túa ra như bầy ong vỡ tổ. Bất giác tôi nhỏm dậy, bàng hoàng. Cách chúng tôi chỉ chục bước chân, một thanh niên vạm vỡ - một người điên - trên thân thể anh ta không có lấy một mảnh vải, và từ chỗ kín trên người anh một vật gì đó nhô ra, căng cứng. Chúng tôi đứng lặng, cảm thấy bối rối. Người điên không tỏ ra hung dữ, trái lại anh ta còn nhìn chúng tôi với cặp mắt âu yếm, long lanh...
- Chạy đi tụi mày ơi! Thằng điên đó!
Một chú nhóc chợt bừng tỉnh, hét lên. Chúng tôi co giò chạy. Không nghe tiếng chân đuổi theo, tôi chợt ngoảnh lại nhìn. Người điên nằm vật ra bãi cỏ dưới gốc cây đại, vơ lấy vòng hoa tôi đánh rơi, phủ lên mặt mình và khóc rưng rức. Lạ lẫm, cả bọn dừng lại, sững ra nhìn. Có đứa còn nghịch ngợm, tháo vòng hoa trên cổ, ném vào người điên. Nhận ra chúng tôi đang quan sát mình, anh ta chồm dậy, đuổi theo. Chúng tôi vắt chân lên cổ, chạy bán sống bán chết. Về đến nhà, tôi vẫn còn run. Theo tay tôi chỉ, mẹ nhìn ra. Bóng người điên lướt qua khung cửa. Mẹ tôi nhìn lảng đi, lẩm nhẩm: "Người ấy điên tình!".
- Điên tình là sao hả mẹ?
- Là điên vì tình. Lớn lên rồi con sẽ hiểu.
Mẹ tôi bảo rồi tiếp tục đan chiếc áo len màu thiên thanh. Tôi không chịu thôi, lại giật gấu áo mẹ:
- Sao ở đâu ra lắm người điên vậy mẹ?
- Ừ. Nhiều người bị trời hành, khổ thân vậy đó con.
Tôi thấy mọi việc càng rối như canh hẹ qua cách lý giải của mẹ. Nằm trên phản gỗ, tôi nghịch cuộn len, hết tháo ra lại cuốn vào, nhưng mẹ tôi chẳng nói năng gì, vẫn thoăn thoắt đan. Nét mặt mẹ thật muộn phiền. Trong lòng tôi chợt dâng lên một nỗi buồn vô cớ...
Sau ngày bố mẹ ly hôn, mẹ tôi dường như trở thành một người khác. Mẹ hay cáu gắt, la hét mỗi khi không hài lòng. Tôi không bao giờ còn thấy lại hình ảnh dịu dàng của mẹ ngồi đan len bên cửa sổ. Mẹ vật vã, khóc lóc hằng đêm và cuối cùng phải nghỉ việc vì suy nhược thần kinh.
Trong cảnh túng thiếu, mẹ tôi càng bức xúc hơn. Tôi phải bỏ học đi làm để chăm nuôi mẹ. Nhưng hình như mẹ chẳng bao giờ thanh thản. Luôn luôn có lý do để mẹ tự hành hạ mình và làm tôi nơm nớp lo sợ. Mẹ cũng điên vì tình ư? Một câu hỏi khủng khiếp vang lên trong đầu tôi. Nghĩ đến người con trai điên tình nồng nỗng chạy ngoài đường, tôi mời bác sĩ đến. "Không phải bệnh nhân tâm thần nào cũng xé quần áo, chạy lang thang. Chỉ cần người ta bị sốc nặng hay bị ám ảnh bởi điều gì đó không giải tỏa nổi, cũng có thể đã mắc bệnh rồi". Bác sĩ bảo tôi thế.
Từ ngày ấy, tôi biết thêm nhiều dạng bệnh tâm thần khác nữa. Cô bạn thân của tôi có một người em trai bị chứng điên tiền. Đang phồng mang trợn mắt như hóa dại nhưng hễ có ai cho tiền là tự nhiên nhũn nhặn hẳn. Nhiều khi đang ở yên ở lành, nghe ai hứa cho tiền nhưng chưa nhận được, lại bức bối lên cơn ngay. Điên mà cứ như giả vờ, chỉ chăm chăm vun vén. Có được đồng nào thì suốt ngày giở ra, đếm đi đếm lại, không lẫn một xu. Lại được cái nết năng viết thư xin tiền, bất kể quen sơ. Xin không được thì dọa mua xăng đốt nhà người ta. Báo hại cô bạn tôi cứ phải vác tập bệnh án của cậu em đi van vỉ từng người một, xin họ đừng để bụng thù ghét một kẻ điên.
"Những người không ý thức được hậu quả việc làm của mình là những người điên. Họ không phải chịu trách nhiệm về năng lực hành vi...". Tôi đã nghe luật sư nói như vậy trong phiên tòa xét xử một người bố giết con. Nhìn thẳng vào mặt bị cáo, thấy ánh mắt gian xảo của hắn cứ liên tục đảo qua liếc lại, tôi đâm ngờ cái lý lẽ chắc như bắp của luật sư. Không đợi tòa tuyên án, tôi vội vã ra về vì đã hẹn đi thăm thủ trưởng cũ. Ba tháng trước, ông bị đột quỵ, hôm nay mới được đưa về nhà từ bệnh viện tâm thần. Tôi không nhầm đâu. Đúng là từ khoa tâm thần về đấy. Nghe bảo ông bị bệnh tự kỷ ám thị. Một năm trước đây, ông đã bí mật điều chỉnh lại lý lịch, hạ tuổi mình xuống ba năm. Nhưng cậu phó giám đốc trẻ biết chuyện, lén đi gặp tổ chức cấp trên khai báo. Thủ trưởng cơ quan tôi đang rung đùi tự đắc thì đùng một cái, ông nhận được quyết định về hưu, không hề được báo trước. Kẻ thay thế ông lại chính là cậu phó giám đốc tinh tướng, năng nổ kia. Đọc xong tờ quyết định về hưu được trao từ tay trợ thủ xuất sắc của mình, ông ngã lăn ra, cấm khẩu. Được đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời, ông thoát chết nhưng bị liệt nửa người, phải ngồi xe lăn. Tỉnh cơn hôn mê, ông trở nên lẩn thẩn, suốt ngày lẩm nhẩm tên thủ trưởng mới của cơ quan tôi và nghiến răng kèn kẹt.
Tôi hoảng quá, đến nỗi sau lần đi thăm ông về, lập tức làm đơn xin nghỉ việc. Quá hãi hùng cho cái bệnh điên vì quyền của các quan chức, tôi xin vào làm tư vấn cho một công ty xây dựng tư nhân.
Đang vi vu trên đường với tâm trạng của một người khoái trá vì thành công, tôi đột ngột phanh xe ở một ngã tư sau tiếng còi của cảnh sát. Khi nào thì chúng ta sôi sục muốn tiến về phía trước? Là mỗi khi phải dừng lại trước tín hiệu giao thông! Ai đã nói như thế nhỉ? Tôi xuống xe, toan móc tiền ra nộp phạt, nhưng lại bị giữ xe vì quên đem bằng lái. Vừa bước xuống đường thì điện thoại di động réo inh lên. Tôi nghe và tức muốn phát khùng. Được cử làm đại diện cho công ty, tôi tham gia đấu thầu một công trình xây dựng lớn. Mọi thủ tục "đầu tiên" đã xong xuôi. Chín mươi chín phần trăm công ty tôi trúng quả. Đang định chiều nay ăn mừng với hội đồng quản trị thì cú điện thoại của chủ tịch hội đồng làm tôi bật ngửa: "Cô tư vấn kiểu gì lạ thế? Bên A ra điều kiện phải chi tiếp ba tỉ nữa!". "Các vị ấy đã công bố là công ty mình trúng thầu mà. Chỉ còn đợi họp báo thôi...". "Muốn trúng thì chi ra ba tỉ nữa! Cô về mà tư vấn xem đào đâu ra chừng ấy tiền?". Ông cúp máy cái rột và tôi tưởng mình phát điên. Cứ làm như chính tôi đang nã tiền các vị ấy không bằng! Chỉ vì chưa thuộc lòng bài học "lại quả" mà tôi phải chịu trách nhiệm vì lòng tham không đáy của ông A ông B nào đó ư? Đừng hòng! Tôi sẽ làm đơn xin nghỉ việc. Vừa lên gân tự ra quyết định xong, tôi buồn nẫu cả người. Thế là một lần nữa, tôi lại từ bàn giấy bắn ra lề đường vì chỉ biết luật mà không biết lệ.
Bỏ luôn cuộc họp mặt với hội đồng quản trị, tôi tắt di động, tạt vào một quán cà phê. Rốt cuộc thì tôi điên hay vị đại diện bên A điên? Ông ta đã có ba tòa biệt thự giá đến hàng chục tỉ, còn biết bao của nổi, của chìm không thể liệt kê hết được, đi đâu một bước đã có người o bế, thậm chí tiền vào tay cũng chẳng biết tiêu vào việc gì! Mọi sở thích của ông đều đã được vây cánh lo liệu chu toàn, vậy cần nhiều tiền thế để làm gì chứ?
Tôi nhớ lại những người điên tôi đã biết từ khi còn nhỏ. Phần lớn họ đều mất trí, hay xé quần xé áo, chạy lung tung. Bây giờ rất nhiều kẻ khôn lanh, mặt mày trịnh trọng, quần áo bảnh bao cũng xử sự như những tên khùng. Họ thản nhiên vơ vét, cứ làm như khi chết sẽ đem theo được hết xuống mồ!
"Tương lai của hắn là ngồi bóc lịch trong nhà đá!". Tôi kết luận rồi vẫy người bán báo lại, mua một tờ báo. Vừa khuấy cà phê, tôi vừa lướt nhanh các tít in đậm trên trang bìa. Lại thêm một kiểu người điên. Điên vì quá sướng! Tôi đọc bài phóng sự về ông tỉ phú chân đất, vừa bán sạch ruộng vườn được một núi tiền, đem phung phí trong các quán bia ôm, cà phê đèn mờ, boa em út mỗi đêm bằng một chiếc Dream! Và kết cục là tự sát, lao vào bánh xe tải khi đã tiêu đến đồng bạc cuối cùng, để lại bốn thằng con trai nghiện gái và ma túy. Đúng là sướng quá hóa rồ! Còn nữ. Ba vũ trường và quán karaoke trá hình vừa bị triệt phá. Hàng trăm "thiếu gia" và "thiên kim tiểu thư" dư của thừa tiền đem nướng mỗi đêm hàng triệu đồng vào thuốc lắc và thú vui xác thịt! Đấy là chưa kể những tay yêng hùng xa lộ, tự quấn khăn tang cho mình trước khi vào cuộc để quyết tâm chiến thắng. Những con thiêu thân thời hiện đại! Tôi gấp báo lại, tự an ủi mình: Có nhiều tiền chắc gì đã sướng.
Tôi thong thả bước ra đường. Trời đã gần tối. Một nhóm xe ôm đang xúm lại, vây quanh một người đàn ông áo quần tơi tả. Tôi tưởng đó là một vụ loạn đả, định vội vàng tránh xa. Nhưng một anh xe ôm chạy lại, xởi lởi:
- Cô về đâu để tôi chở?
- Có chuyện gì mà đông thế anh? - Tôi hỏi.
- À, thằng điên ấy hả? - Anh ta bật cười - Cô cứ chờ tí nữa mà xem. Vui lắm!
Tôi nhìn theo tay anh chỉ. Bên kia đường, một người đàn bà còn khá trẻ, gánh hàng đồng nát đi tới. Đám xe ôm tranh nhau rút tiền lẻ ra, giúi vào tay người điên nọ. Họ giục giã, thúc khuỷu tay vào lưng hắn, đẩy về phía người đàn bà. Nhìn thấy chị ta, người điên phóng vút tới, như một con hổ đói vồ mồi. Gánh đồng nát lăn lổng chổng. Người đàn bà ngã nhào dưới sức mạnh hủy diệt của bản năng đàn ông đang lên cơn điên dại. Đám xe ôm ngoác miệng cười. Thái dương tôi giật liên hồi. Tôi hét to muốn vỡ cổ họng:
- Các người còn cười được hả? Nếu là vợ con các người thì sao?
Đám xe ôm trố mắt nhìn tôi. Có lẽ lần đầu tiên, họ gặp sự phản kháng quyết liệt như thế. Bên kia đường, người điên giật mình vì tiếng thét. Hắn ngơ ngác nhìn quanh rồi từ từ đứng dậy, chậm rãi bỏ đi.
Tôi chạy đến bên người đàn bà. Chị ta lồm cồm bò dậy, xốc lại áo quần và khóc. Nước mắt loang ra trên gương mặt hao hao giống mẹ tôi. Tôi giật mình nghĩ đến mẹ, lao mình chạy bộ về nhà. Theo sau tôi, anh xe ôm vừa nãy trờ tới, giọng sượng ngắt:
- Cô lên xe tôi chở cho!
- Biến đi! - Tôi gắt, kinh ngạc nhiên vì sự táo tợn của mình.
- Thôi mà cô, tại tụi tôi buồn chán quá nên mới khùng vậy. Cô bỏ qua đi.
Tôi đang cáu, vậy mà nghe cái giọng não nuột của anh ta cũng không cầm lòng được. Leo lên xe, tôi ngoái cổ lại nhìn. Đám xe ôm đang xúm lại nhặt nhạnh những gì còn vương vãi trên đường, bỏ vào gánh đồng nát. Người đàn bà đặt chiếc đòn gánh lên vai, tiếp tục bước đi.
Mở cửa vào nhà, tôi yên tâm thấy mẹ đang đứng bên cửa sổ nhìn ra vườn. Quay về phía tôi, mẹ nói:
- Bố vừa đến thăm mẹ con mình! Ba tháng trước ông ấy bị tai nạn giao thông...
- Bố bị nặng không hả mẹ? - Tôi hồi hộp hỏi.
- Ông ấy bị mất một chân, phải đi nạng. Bố con... rất cần được giúp đỡ.
Sunset
- Kìa mẹ!
Tôi thốt lên, nghĩ đến người đàn bà đẹp kia chắc đã bỏ rơi bố trong cơn hoạn nạn. Bố đang tìm đường quay về, và mẹ đã mở rộng vòng tay đón bố.
- Mẹ sẽ đan len để lấy tiền công phụ thêm cho hai bố con...
Mẹ hạ giọng rồi đi về góc nhà, mở tủ lấy ra một cái bọc ny lon gói rất kỹ. Ngồi xuống chiếc ghế bên cửa sổ, mẹ mở bọc ra: trên tay mẹ là chiếc áo len màu thiên thanh đang đan dở. Mới đó mà đã gần chục năm trời. Mẹ ướm thử thân áo lên người tôi, vẻ xót xa:
- Con vất vả quá, chẳng lớn thêm được bao nhiêu... - Rồi mẹ thoăn thoắt đan. Khuôn mặt mẹ không còn hằn nỗi ưu phiền tù đọng tôi quen nhìn thấy từ ngày bố bỏ đi.
Tôi nhớ đến quyết định bỏ việc lúc chiều. Không! Tôi không thể lùi bước dễ dàng như thế được. Bố mẹ đang cần tôi biết bao.
Tôi ngồi bên mẹ, tay cầm cuộn len gỡ ra cuốn vào giống những ngày bé bỏng xưa. Tim tôi đập rộn lên vì vui sướng. Ơn trời, có lẽ lần này mẹ tôi khỏi bệnh... Tôi không còn nhỏ để mộng mơ đến một thế giới không có người điên, mà chỉ có những nàng tiên múa hát. Nhưng tôi vẫn ước ao sẽ sớm được mặc chiếc áo màu thiên thanh mà mẹ tôi đang thoăn thoắt đan bằng đôi tay dịu dàng với cái nhìn bình thản.
Phan Thị Thu loan