Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Đàm đạo chuyện đạo đức, khoa học, y tế

Đàm đạo chuyện đạo đức, khoa học, y tế
Copy từ http://tuanvannguyen.blogspot.com/2013/11/am-ao-chuyen-ao-uc-khoa-hoc-y-te.html, đăng ngày 04/11/13.
Tuần vừa qua, báo soha.vn gửi một loạt câu hỏi và có nhã ý mời tôi trả lời. Lần đầu tiên tiếp xúc với soha.vn, mà tôi hoàn toàn chưa nghe đến trước đây, và cũng trong tình trạng bận rộn chuẩn bị cho chuyến công tác sắp tới nên cũng phân vân chưa dám nhận lời. Nhưng thấy họ làm việc cũng professional nên cảm thấy yên tâm, và câu hỏi cũng hay nên thấy cũng xứng đáng tiêu thì giờ bàn chuyện. Thế là tối về trả lời một mạch. Kèm theo đây là những câu hỏi và trả lời.
1- Thưa Giáo sư, ông đã từng nói có một sự “sòng phẳng của lịch sử” trong đó công lý phải được tôn trọng. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều y bác sỹ quá coi nhẹ tính mạng của con người. Chất độc dioxin có thể không còn được sử dụng ở Việt Nam nữa, nhưng những “mũi tiêm độc” thì vẫn còn, giết chết nhiều sinh mạng. Liệu sự vô tâm, bất cẩn của người làm ngành y có thể bị coi là một tội ác?
Nguyễn Văn Tuấn (NVT): Tôi nghĩ có nhiều khác biệt giữa câu chuyện dioxin (hay chất độc da cam) và những “tai nạn” y khoa trong thời gian gần đây. Chuyện dioxin xảy ra trong thời chiến và nó được sử dụng như là một phương tiện có chủ đích là khai quang. Còn các tai nạn y khoa xảy ra gần đây phần lớn là do chểnh mảng và kém ý thức, chứ không có chủ đích gây hại. Chẳng hạn như vụ tiêm vắc-xin dẫn đến tử vong cho hàng loạt trẻ em là một tai nạn lớn và rất nghiêm trọng, nhưng tôi nghĩ không một ai làm việc phòng chống bệnh cố ý gây tác hại đến cộng đồng cả.
Những bất cẩn, hay tôi gọi là “chểnh mảng”, rất đáng lên án, nhưng tôi không muốn nghĩ đến như là tội ác. Ở nơi tôi đang làm việc, chểnh mảng trong công việc để gây thương tật hay tử vong cho người khác được xem là một tội hình sự. Luật pháp về an toàn ở Úc rất nghiêm ngặt. Mỗi tuần chúng tôi đều có nhiệm vụ kiểm tra và cảnh giác những người công tác trong viện về an toàn; nếu người dưới quyền tôi để cho tai nạn nghiêm trọng xảy ra, thì tôi là người bị mất chức đầu tiên, và sau đó là viện trưởng chứ không phải là người cộng sự của tôi. Tôi có cảm giác là ở Việt Nam người ta chưa có những qui trình về an toàn trong viện, hay có thì cũng chẳng ai quan tâm. Ngay cả việc kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện là điều hết sức cơ bản mà hầu hết các bệnh viện ở VN đều chưa đạt chuẩn mực. Do đó, tai nạn có thể xảy ra đây đó là một điều không khó hiểu; khó hiểu chăng là những tai nạn này xảy ra hết năm này đến năm khác.
2- Thưa Giáo sư, tôi không biết ở Úc thì ra sao, nhưng ở Việt Nam thì thời gian đào tạo sinh viên y khoa dài hơn các ngành học khác. Có ý kiến cho rằng, do thời gian đào tạo dài và tốn kém nên sinh viên sau khi ra trường đã cố gắng tìm mọi cách để "thu hồi vốn", bất chấp y đức... Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
NVT: Thời gian đào tạo bác sĩ ở đâu cũng tương đương nhau. Nếu tuyển thẳng từ trung học thì thời gian là 5-6 năm; nếu tuyển từ những người đã có bằng cử nhân thì thời gian là 4 năm. Tuy nhiên, thời gian đào tạo bác sĩ chuyên khoa ở VN thì ngắn so với nước ngoài. Thật ra, hệ thống đào tạo bác sĩ chuyên khoa ở VN cũng rất khác với các nước trong vùng Đông Nam Á và trên thế giới. Chương trình học cũng khác. Sinh viên y khoa nước ngoài không học các môn học về chính trị và triết, thay vào đó họ học về khoa học xã hội và y đức.
Tôi không thấy bằng chứng gì về tương quan giữa thời gian đào tạo và y đức. Bác sĩ ở các nước như Úc và Mĩ trước khi hành nghề phải qua đào tạo ít nhất 9 năm, và tốn khá nhiều tiền, nhưng họ không có “tai tiếng” về đạo đức như đồng nghiệp bên Việt Nam. Y đức bao gồm những qui ước và nguyên tắc về quan hệ giữa người thầy thuốc và bệnh nhân. Y đức có khi thay đổi đôi chút tùy theo văn hóa điạ phương và thời gian, nhưng bản chất và nguyên lí thì vẫn không thay đổi: không làm hại bệnh nhân. Do đó, tôi nghĩ thời gian đào tạo và y đức là hai khía cạnh rất khác nhau.
3- Ở các nước phát triển, thu nhập của các bác sĩ là tương đối cao, và đó là thu nhập hoàn toàn minh bạch. Còn ở Việt Nam, thu nhập được coi là minh bạch của bác sĩ (như tiền lương) lại khá thấp. Giáo sư có cho rằng đồng tiền là yếu tố quyết định sự tồn vong của y đức? Và bác sĩ phương Tây dễ “giữ mình” hơn vì họ được trả lương cao hơn?
NVT: Nếu tính bằng đơn vị tiền tệ tuyệt đối (như USD chẳng hạn) thì thu nhập của bác sĩ ở nước ngoài tương đối rộng rãi (chứ không phải cao như nhiều người nghĩ) so với đồng nghiệp ở Việt Nam. Nhưng nếu tính tương đối và điều chỉnh cho chi phí và điều kiện kinh tế địa phương thì tôi nghĩ sự khác biệt giữa hai nhóm không cao như nhiều người tưởng.
Nhiều người than phiền rằng lương bác sĩ VN quá thấp, và tôi cũng thấy như thế. Thật ra, tôi có lần nói rằng chưa có nơi nào trên thế giới có những qui định về đồng lương cho bác sĩ kì quặc như ở VN, và tôi xem đó là một hình thức khinh thường bác sĩ. Tuy nhiên, tôi thấy ở các thành phố lớn, bác sĩ ở VN giàu hơn bác sĩ nước ngoài, và đó là một thực tế. Có thể ghé qua những bệnh viện lớn (như Bạch Mai chẳng hạn), chúng ta sẽ thấy bác sĩ ở đó giàu như thế nào, và họ cũng thường hay đi nước ngoài. Do đó, trong thực tế một bộ phận bác sĩ ở VN không hề nghèo như nhiều người than phiền.
Theo tôi thấy thu nhập thấp có thể làm cho người thầy thuốc nhắm mắt làm lơ các qui chuẩn về y đức, nhưng đồng tiền chắc chắn không phải là yếu tố duy nhất chi phối đến y đức. Tôi biết nhiều bác sĩ ở VN tuy thu nhập không cao và cũng chẳng có xe hơi, nhưng họ không hề làm gì đi ngược lại lời thề Hippocrate và vi phạm y đức. Vẫn còn nhiều người thầy thuốc “nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Do đó, tôi nghĩ không phải chỉ đồng tiền, mà là cái tâm nó chi phối đến y đức.
4-Thưa Giáo sư, tôi đọc những bài viết của Giáo sư, thấy nhiều bài rất hay nói về các chức danh trong khoa học. Ở Việt Nam hiện nay, nói riêng trong ngành y thì hình như cứ làm lãnh đạo là đều có học hàm, học vị Giáo sư, Tiến sỹ gì đó… Theo ông, đó có phải là một sự lãng phí không (lãng phí về tay nghề chuyên môn, về chức danh, hay lãng phí vị trí lãnh đạo đó…)? Tiêu chuẩn để lựa chọn lãnh đạo trong ngành y ở Úc là gì, thưa ông?
NVT: Ở Việt Nam có một xu hướng thú vị là người ta đặt ra những tiêu chuẩn về học vị và học hàm cho những chức danh hành chính và quản lí. Do đó, hệ quả là nhiều bác sĩ phải đi học để có những văn bằng như tiến sĩ, và phấn đấu để có học hàm như giáo sư, phó giáo sư. Văn bằng tiến sĩ và các chức danh học thuật đó chủ yếu là thuộc về lĩnh vực học thuật và nghiên cứu khoa học. Thế nhưng ở Việt Nam, văn bằng tiến sĩ và học hàm đó là cứu cánh nhưng cũng là phương tiện để họ tiến vào những vị trí quản lí hay nói nôm na là “làm quan”. Xu hướng làm quan này làm phí nhân lực cho nghiên cứu khoa học. Hệ quả là VN có rất ít công trình nghiên cứu y khoa trên các tập san y khoa quốc tế. Ngay cả số công trình trên các tập san quốc tế thì phần lớn (gần 90%) là do ngoại lực chứ không phải nội lực. VN có nhiều giáo sư, tiến sĩ trong ngành y, nhưng đóng góp cho khoa học thì còn rất khiêm tốn.
Ở Úc, tiêu chuẩn lãnh đạo còn tuỳ thuộc vào uy danh của trường hay bệnh viện. Tôi có thể nói ở viện tôi (Viện Y khoa Garvan) thì tiêu chuẩn tuyển lãnh đạo khá rõ ràng: đó là người có viễn kiến (vision) và chiến lược để thực hiện viễn kiến đó; phải chứng minh được có khả năng lãnh đạo và quản lí; phải có một thành tích nghiên cứu xuất sắc đứng vào hạng 1% trong chuyên ngành trên bình diện thế giới. Đó là những tiêu chuẩn về chiến lược, kĩ năng lãnh đạo, và thành tích khoa học. Nhưng tôi nghĩ rất khó so sánh hay áp dụng tiêu chuẩn của các nước phương Tây cho Việt Nam vì những khác biệt về trình độ khoa học, môi trường văn hoá, môi trường học thuật, và thể chế.
5- Theo ông, những “căn bệnh” nguy hiểm nhất của y tế Việt Nam hiện nay là gì? Cội rễ của những căn bệnh này là do đâu? Có “thuốc” nào chữa trị dứt điểm được không?
NVT: Tôi phải nói trước rằng tôi không làm việc trong nước nên chỉ có thể nói theo cái nhìn của người ngoài cuộc, và có thể cái nhìn đó không chính xác, thậm chí sai. Theo tôi, ngành y tế ở trong nước có những vấn đề nổi cộm: quá tải, chi phí điều trị cao so với thu nhập, và đạo đức nghề nghiệp. Tình trạng quá tải đã xảy ra khá lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa được khắc phục. Chi phí điều trị ở VN tuy còn thấp nếu tính bằng đôla, nhưng không thấp đối với người nghèo. Giá thuốc ở VN có thể nói là khá cao so với nước ngoài. Tôi đã từng biết có người tự tử chết vì cái toa thuốc chưa đến 1 triệu đồng. Còn vấn đề y đức thì đã quá phổ biến đến nổi mở bất cứ tờ báo nào, theo dõi bất cứ diễn đàn nào, chúng ta cũng đều thấy đề cập đến vấn đề đạo đức trong ngành y.
Hệ quả là ngành y đánh mất sự tin tưởng ở một bộ phận lớn công chúng. Những người có điều kiện tài chính đều chọn điều trị ở nước ngoài. Ngay cả một số quan chức cao cấp cũng được điều trị ở bệnh viện nước ngoài. Câu hỏi “do đâu” là một câu hỏi đắt giá, và khó có thể nói đầy đủ trong một bài viết. Tôi nghĩ “trái tim” của bất cứ vấn đề gì là con người. Khi nói “con người” tôi muốn nói đến hai khía cạnh: chuyên môn và phẩm chất. Có thể nói rằng sự phát triển ngành y và chất lượng đào tạo trong ngành y không/chưa theo kịp sự gia tăng về nhu cầu sức khỏe.
Một yếu tố tôi nghĩ đến là năng lực quản lí. Rất dễ dàng thấy mỗi khi có “sự cố” xảy ra, thì các quan chức thường hành xử bằng thanh tra và … chỉ thị. Chỉ thị qua công văn trên giấy tờ. Cấp trên cho rằng họ đã chỉ thị cấp dưới, và cấp dưới lại chỉ thị cho cấp thấp hơn, v.v. cuối cùng chúng ta thấy người làm thực tế thì ít mà người chỉ thị thì khá nhiều. Hình như người ta cho rằng đã ra chỉ thị hay đã ra nghị định gì đó là xong phần việc của họ, còn thực hiện hay không là chuyện khác. Đó là một mô hình, một loại tư duy quản lí rất lạ lùng.
6- Thưa Giáo sư, nếu quy trách nhiệm về hiện trạng ngành y Việt Nam hiện nay (sau hàng loạt bê bối như nhân bản kết quả xét nghiệm ở bệnh viện Hoài Đức, sai sót khi tiêm vắc xin khiến trẻ tử vong) cho một số cá nhân thì có chính xác không? Theo ông, chỉ thay đổi một vài cá nhân thì có thay đổi được hiện trạng không?
NVT: Tôi nghĩ mỗi sự việc đều có nguyên nhân đặc thù đằng sau mà có lẽ người ngoài như chúng ta khó mà biết được. Vụ “nhân bản xét nghiệm” có thể đã xảy ra từ lâu và ở nhiều nơi, nhưng chỉ mới bị phát hiện ở một bệnh viện. Đó là cách mà người ta “làm tiền” bảo hiểm. Cũng có thể xem đó là một hình thức ăn cắp một cách có hệ thống, và người bệnh chính là nạn nhân vì người bệnh chi trả cho các phí tổn đó.
Vụ tiêm vaccine dẫn đến tử vong cho vài trẻ em thì quả là một “tai nạn” rất nghiêm trọng. Nghiêm trọng là vì dẫn đến tử vong cho cả chục trẻ em. Ấy thế mà có người xem đó là một mức độ rủi ro có thể chấp nhận được. Thật là khó hiểu và khó chấp nhận lí luận “rủi ro có thể chấp nhận” khi hàng chục trẻ em chết vì tiêm vaccine hay tiêm nhầm vaccine!
Những sai sót hay tai nạn vừa đề cập xảy ra là đáng tiếc, nhưng tôi nghĩ không nên tập trung vào những cá nhân. Nói ví von một chút, ở Mĩ, khi một đội bóng đá của trường đại học thắng, người ta tìm một nhân vật tiêu biểu để vinh danh; nhưng khi đội bóng đá thua trận thì người ta cấm tuyệt đối không đổ thừa cho cá nhân, mà phải xem xét lại qui trình tại sao dẫn đến thua trận. Tương tự, khi tai nạn xảy ra chúng ta cần phải xem xét lại hệ thống và qui trình, chứ không phải cá nhân. Hệ thống quản lí như thế nào mà để ra vụ nhân bản xét nghiệm. Qui trình tiêm chủng như thế nào để cho nhầm lẫn vaccine. Đó là những câu hỏi chưa có câu trả lời. Dĩ nhiên, việc truy tìm cá nhân và qui trách nhiệm sẽ làm cho nhiều người hài lòng vì tâm lí “tôi không có lỗi, họ có lỗi”, nhưng sẽ không giải quyết vấn đề đến nơi đến chốn.
7- Thưa Giáo sư, ở Úc, khi đi khám chữa bệnh, người gốc Việt được đối xử như thế nào? Có sự kỳ thị nào không? Có chuyện phân biệt bệnh nhân giàu - bệnh nhân nghèo không? Chất lượng phục vụ ở bệnh viện công và bệnh viện tư có khác gì nhau không?
NVT: Ở Úc, không bao giờ có sự phân biệt sắc tộc, hay giới tính, thành phần kinh tế, hay bất cứ khía cạnh nào trong các dịch vụ y tế. Rất hiếm thấy có chuyện quan chức được ưu tiên hơn thường dân. Người được thay tim đầu tiên là một cô gái thuộc giai cấp lao động. Phân biệt đối xử ở Úc có thể xem như là một tội phạm. Rất khó so sánh chất lượng phục vụ giữa bệnh viện công và bệnh viện tư ở Úc vì theo tôi thấy rất tương đương nhau. Trước đây, tôi có tham gia một công trình nghiên cứu về sai sót trong y khoa, và kết quả cho thấy tỉ lệ sai sót trong bệnh viện công có phần thấp hơn (không đáng kể) so với bệnh viện tư.
8- Giáo sư đã làm việc ở các cơ sở khám, chữa bệnh tại Việt Nam bao giờ chưa? Xét về thái độ làm việc, cung cách đối xử với bệnh nhân, ông nghĩ y bác sĩ Việt Nam đạt mấy điểm (ví dụ là trên thang điểm 10)?
NVT: Tôi không có làm việc ở VN, nhưng hay theo bạn bè và bà con vào bệnh viện, và âm thầm theo dõi. Vì thế tôi cũng có vài kinh nghiệm thú vị. Tôi thấy khá nhiều (không phải tất cả, nhưng “khá nhiều”) bác sĩ Việt Nam có thái độ hống hách, phách lối, và hành xử như là người ban ân huệ. Họ xem bệnh nhân như là những người dốt nát, không đáng để họ tốn thì giờ giải thích. Dĩ nhiên, có khi họ quá bận, nhưng tôi đang nói về trường hợp trong bệnh viện và họ có thì giờ để giải thích cho bệnh nhân. Hình như họ không quan tâm đến chữ “service” hay chăm sóc bệnh. Nhưng bên cạnh những người như thế, ngành y vẫn còn những người đàng hoàng và họ làm việc với tinh thần phục vụ, nhưng tôi e rằng con số đó không nhiều. Do đó, nếu phải chủ quan đánh dấu một điểm về dịch vụ và thái độ giao tiếp với bệnh nhân một cách toàn cảnh tôi sẽ cho điểm 3/10.
9- Theo ông thì bao nhiêu năm nữa, Việt Nam mới vươn tới được như nền y tế Úc, chỉ tính riêng về mặt y đức. Hay là không bao giờ?
NVT: Tôi không thích so sánh về các lĩnh vực mang tính định tính như đạo đức, vì bất cứ so sánh nào như thế cũng đều khập khiễng. Vả lại, những chuẩn mực về đạo đức mang tính phổ quát, không phải chỉ có áp dụng cho Việt Nam mà không áp dụng cho nước khác.
Không ai có thể tiên lượng hay tính toán bao lâu nữa nền y tế VN sẽ bằng nền y tế Úc hay một nước tiên tiến nào đó. Y đức là những qui ước về đạo đức hành nghề, chứ không phải là những chỉ tiêu định lượng có thể cân đo đong đếm nên rất khó so sánh bằng con số. Y đức là một phần của hệ thống đạo lí (morality) xã hội. Ở Việt Nam, đã có nhiều tiếng nói về sự suy thoái đạo lí từ những ba mươi năm qua. Chúng ta biết rằng suy thoái về kinh tế thì có thể hồi phục theo thời gian, nhưng hệ quả của suy thoái về đạo đức thì rất khó phục hồi do tính “di truyền” của nó.
10- Giáo sư có thể cho biết, các nước phát triển (trong đó có Úc - nơi ông đang công tác) có quy định nào cụ thể về y đức không? Nếu có thì nó được xây dựng trên cơ sở nào?
NVT: Có chứ. Bất cứ nước nào cũng có qui định về y đức. Các chuẩn mực về y đức được xây dựng trên cơ sở số 1 là không làm hại người bệnh, và dựa trên 4 nguyên tắc chính. Bốn nguyên tắc đó là: (i) tôn trọng quyền tự chủ của cá nhân; (ii) đem lợi ích đến cho người bệnh, giúp người bệnh kiểm soát sức khỏe của họ; (iii) công lí, tức bệnh nhân phải được bình đẳng trong chăm sóc, không được phân biệt đối xử; và (iv) tôn trọng quyết định cá nhân. Sau này, các nguyên tắc về y đức còn được mở rộng cho các hoạt động nghiên cứu y khoa trên người và trên động vật khác (ví dụ như trên chuột). Can thiệp trên chuột cũng phải xin phép ủy ban y đức, phải tuân thủ theo các chuẩn mực đạo đức. Tôi có tìm hiểu những chương trình giảng dạy về y đức ở trong nước, và thấy phần lớn nội dung cũng phù hợp với các chương trình ở nước ngoài, nhưng đây đó vẫn có vài điểm chưa hẳn thuộc về y đức mà có vẻ tuyên truyền chính trị.
11- Xin ông chia sẻ một vài câu chuyện gây bức xúc trong dư luận Úc về vấn đề y đức. Những trường hợp đó bị xử lí như thế nào?
NVT: Rất ít trường hợp vi phạm y đức được đưa lên mặt báo, nhưng khi có thì hình phạt rất nặng. Mấy năm trước, một bác sĩ gốc Việt bị tố cáo sàm sở với nữ bệnh nhân, khi ra tòa, anh ấy bị rút bằng hành nghề. Một bác sĩ cấp cao người Úc vì ham tiền nên ghi danh nhiều bệnh nhân vào một công trình nghiên cứu và vi phạm y đức, nên ông bị ra toà, và hình phạt bao gồm trả lại tiền và bị rút bằng hành nghề suốt đời. Có một trường hợp bác sĩ gây tử vong cho hàng loạt bệnh nhân thì hình phạt có thể là tù giam.
12- Sự khác biệt giữa ngành y tế các nước là tất yếu nhưng rõ ràng sự khác biệt không chỉ nằm ở điều kiện trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật. Yếu tố con người ảnh hưởng như thế nào đến sự khác biệt này, thưa ông?
NVT: Như nói trên, tôi nhìn yếu tố con người như là trái tim của một hệ thống. Đặc biệt ngành y, yếu tố con người rất quan trọng, vì đó là một ngành nghề mang tính nhân văn chứ không thuần túy khoa học. Bệnh viện có thể có trang thiết bị tốt nhưng không có chuyên viên biết sử dụng thì cũng chỉ là một đống sắt vụn. Có thể nói rằng nhiều bệnh viện lớn ở VN có trang thiết bị không kém gì so với bệnh viện nước ngoài, nhưng tại sao bệnh viện VN vẫn chưa tạo được cái uy tín và uy danh quốc tế. Tôi nghĩ câu trả lời nằm ở phẩm chất và chuyên môn của nhân sự ngành y và môi trường chung quanh. Cho dù ngành y có những bác sĩ rất tài giỏi nhưng môi trường chung quanh (như nhiễm trùng bệnh viện chưa kiểm soát được) và dơ bẩn thì ấn tượng để lại trong “khách hàng” không mấy đẹp.
13- Một vị lãnh đạo ĐH Y có nói rằng: "Một sinh viên học đầy đủ y đức trong trường Y là có thể chắc chắn trở thành bác sỹ có y đức", ông có đánh giá như thế nào về vai trò của việc dạy y đức trong nhà trường? Có phải cứ dạy đủ y đức là sẽ có bác sĩ có y đức, bất luận môi trường xã hội ra sao?
NVT: Tôi rất có cảm tình với nhận xét của vị lãnh đạo, nhưng tôi thấy khó chia sẻ nhận xét đó. Chúng ta nên nhớ rằng có tình trạng “trả chữ cho thầy”. Y đức là một bộ phận của hệ thống đạo lí xã hội. Người bác sĩ tương tác với xã hội và chịu sự chi phối của môi trường đạo lí xã hội. Do đó, cho dù người bác sĩ đã học về y đức trong nhà trường, nhưng khi tiếp xúc với môi trường ngoài xã hội có thể bị lệch. Vấn đề còn là giảng dạy y đức theo chương trình nào nữa. Vấn đề cần đặt ra vì những điều lệ về y đức của VN hiện nay rất khác với điều lệ y đức trên thế giới.
14- Thưa Giáo sư, ông có thể khái quát về quá trình đào tạo bác sĩ ở Úc hiện nay? Nó khác như thế nào so với Việt Nam? Đã từng thỉnh giảng ở một số đại học Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về khả năng của sinh viên và khả năng đào tạo y khoa ở Việt Nam? Theo ông điều gì sinh viên ngành y Việt Nam đang thiếu so với sinh viên ngành y ở Úc?
NVT: Ở Úc có 2 mô hình đào tạo bác sĩ. Mô hình thứ nhất có thể tạm gọi là “mô hình cử nhân”; theo đó, các học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông xuất sắc được tuyển chọn qua kì thi và phỏng vấn cá nhân. Sinh viên được tuyển thường theo học 5-6 năm (tuỳ trường) và tốt nghiệp với bằng cử nhân y khoa và cử nhân giải phẫu (MBBS). Mô hình thứ hai là mô hình sau đại học, các thí sinh đã tốt nghiệp cử nhân với hạng xuất sắc muốn theo học y khoa sẽ được tuyển chọn qua một kì thi và phỏng vấn cá nhân. Với mô hình thứ hai, sinh viên theo học y khoa 4 năm, và cũng tốt nghiệp với văn bằng MD (doctor of medicine).
Chương trình huấn luyện cấp cử nhân (MBBS hay MD) thường được cơ cấu thành 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 là chương trình học cơ bản (7-8 course), như quá trình phát triển của một cá nhân, lão hoá, môi trường, xã hội, và y đức. Giai đoạn 2 là học tiền lâm sàng. Giai đoạn 3 là tập trung học về lâm sàng, nhưng vẫn học khá nhiều môn về khoa học cơ bản và khoa học xã hội. Nhìn qua chương trình đào tạo ngành y ở VN (tôi chỉ nói các trường lớn và tương đối lâu đời) tôi thấy không khác so với các trường bên Úc. Nhưng trong thực tế thì có sự khác biệt lớn về nội dung và cơ sở vật chất giữa Úc và Việt Nam. Ở Úc và nhiều nơi trên thế giới (ngay cả Thái Lan), sinh viên y khoa học khá nhiều về khoa học cơ bản và sinh học với thực hành trong labo, nhưng ở VN thì vẫn còn thiếu thầy cô có kinh nghiệm và labo cho sinh viên. Vì thế không ngạc nhiên khi rất nhiều bác sĩ VN chưa cập nhật nổi những kiến thức cơ bản về sinh học, di truyền học, và sinh hoá vốn rất quan trọng cho ngành y.
Rất khó đánh giá chất lượng đầu ra của các trường y bên VN vì tôi không có dữ liệu. Nhưng có thể so sánh với một số nước chung quanh về tỉ lệ thi tuyển y khoa. Ở Úc, các bác sĩ tốt nghiệp ở ngoài nước Úc có thể hành nghề y nếu họ qua một kì kiểm định về kiến thức và kĩ năng lâm sàng do Hội đồng Y khoa Úc điều hành. Kết quả kiểm định của các bác sĩ tốt nghiệp từ Việt Nam không được khả quan. Chẳng hạn như năm 2009, có 19 bác sĩ thi về kiến thức y khoa, và chỉ có 7 người (~37%) được đỗ. Tỉ lệ này tương đối thấp khi so với bác sĩ Miến Điện (100% đỗ), Ấn Độ (52%), Nam Phi (68%), và Trung Quốc (43%). Tỉ lệ bác sĩ tốt nghiệp từ Việt Nam đỗ về lâm sàng cũng chỉ dao động trong khoảng 30-50%, và thấp hơn các bác sĩ từ các nước như Philippines, Ấn Độ và Miến Điện.
15- Trong một bài viết của có tựa đề "Y đức và đạo lý", ông cho rằng GPTM không thuộc ngành y, vậy theo ông, trách nhiệm vụ bác sĩ thẩm mĩ phi tang thi thể nạn nhân thuộc về đâu? Ông đã bao giờ nghe đến trường hợp bác sĩ làm chết rồi phi tang xác như trường hợp của bác sĩ Tường trên thế giới chưa ạ?
NVT: Tôi viết rằng xét trên khía cạnh mục tiêu và đối tượng thì GPTM không thuộc ngành y. Tôi chỉ nói giải phẫu thẩm mĩ (cosmetic surgery) chứ không đề cập đến giải phẫu chỉnh hình (constructive surgery). Dĩ nhiên, quan điểm đó của tôi không được nhiều người tán thành, có người thậm chí còn nói một cách nặng nề rằng tôi cố ngụy biện để tránh luận tội Bs Tường! Người ta có thể phản đối bằng cách chỉ ra rằng bác sĩ làm phẫu thuật thẩm mĩ là … bác sĩ. Cố nhiên, tôi cũng có thể chỉ ra rằng một người xuất thân là bác sĩ cũng có thể kinh doanh. Bác sĩ thực hiện phẫu thuật làm đẹp ứng dụng kĩ năng y khoa, kiến thức khoa học để đem lại cái đẹp cho khách hàng rất khác với bác sĩ điều trị bệnh nhân trong cơn thập tử nhất sinh.
Tôi chưa bao giờ nghe hay biết bác sĩ thẩm mĩ nào phi tang thi thể nạn nhân như vị bác sĩ ở Hà Nội. Có lẽ đó là một trường hợp đầu tiên trên thế giới. Nhưng tôi nghĩ không nên nhân một trường hợp cá biệt mà suy luận về tình trạng y đức cho toàn ngành y.
HẾT

Vỡ vạc từ cự thạch Hàng Gòn

Vỡ vạc từ cự thạch Hàng Gòn
Copy từ http://chimviet.free.fr/lichsu/phanxipang/phanxipn_CuThachHangGon.htm , đăng trên số ngày ,muc .
Di tích Hàng Gòn là mộ cự thạch đầu tiên do ngành khảo cổ học tìm thấy tại Việt Nam. Với những tấm đan và trụ đá to lớn quá độc đáo, mộ cự thạch đó là dạng kiến trúc duy nhất được phát hiện trên toàn quốc tính đến nay.
Ghé thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, viếng thăm mộ cự thạch Hàng Gòn, tôi liên tục ngạc nhiên. Bởi từ di tích này, quá nhiều điều đã, đang và sẽ vỡ vạc.
Vỡ vạc nên kể trước tiên: ngay cả bộ sách công cụ nổi tiếng uyên áo mang tầm quốc gia được hơn 1.200 nhà khoa học hợp soạn mà cũng... trật trệu lắm chỗ buồn cười! Tập 1 Từ điển bách khoa Việt Nam (Hà Nội, 1995) giải thích từ cự thạch: "Thuật ngữ khảo cổ học chỉ những công trình dựng từ những khối đá lớn để nguyên hình dạng tự nhiên hay đã qua gia công. Cự thạch bao gồm đônmen, menhia, crômlêch, quan tài đá, v.v. Cự thạch ban đầu được phát hiện ở vùng Địa Trung Hải, sau phát hiện được ở hầu khắp thế giới (trừ châu Úc), nhưng thường gặp ở vùng duyên hải hơn cả. Cự thạch có niên đại kéo dài từ thời đại đá mới đến đồng thau (khoảng thiên niên kỷ III - I trước Công nguyên). Ý nghĩa của cự thạch không phải bao giờ cũng rõ ràng, thường là nơi chôn người chết hay liên quan đến tang lễ, nhưng có khi lại là đài thiên văn cổ". Thú thật, nghe cắt nghĩa kiểu đó thì toàn thể thiên hạ đều nhún vai, lắc đầu. Vì người ngoài ngành khảo cổ không hiểu đônmen, menhia ômlêch; trong khi bộ sách công cụ này chẳng chua nghĩa. Vì người trong ngành khảo cổ không thể tán đồng những luận điểm mà Từ điển bách khoa Việt Nam đã nêu.
Cự thạch nghĩa là gì? Tiếng Hán ghi 巨石 mà Bính âm phát jushi. Cự: to, lớn, bự. Ví dụ: cự công, cự danh, cự lợi, cự phú. Thạch: đá. Ví dụ: thạch bi, thạch nhũ, thiên thạch, hoá thạch. Tiếng Pháp: mégalithe. Tiếng Anh: megalith. Tiếng Tây Ban Nha: megalitismo. Tiếng Bồ Đào Nha: megálitico. Tiếng Nga: мегалиты . Tiếng Ukraina: мегаліти. Những từ vựng của các ngôn ngữ ở châu Âu cùng xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ với μέγας (megas) nghĩa lớn, λίθος (lithos) nghĩa đá.
Biết vậy, song đừng định nghĩa cự thạch là "đá đại chang" nếu không muốn bị chê vụng kém!
Cự thạch chỉ khối đá lớn được dùng 1 tảng, hoặc lắp ghép nhiều tảng với nhau theo cơ chế tự khoá chứ không sử dụng vữa hoặc chất kết dính nào khác. Cự thạch có các dạng cấu trúc khác nhau. Đây là một số dạng: mộ đá (dolmen / cromlech - một số người gọi trác thạch / 桌石/ bàn đá), cột đá thẳng dài dựng đứng (menhir), cột đá thẳng dựng đứng có tảng đá khác kê phía trên tạo hình chữ T (taula), 2 tảng đá dài dựng đứng để đỡ 1 tảng đá nằm ngang (trilithon), v.v. Đàn đá / thạch cầm / 石琴 / lithophone cũng được nhiều nhà nghiên cứu xem là một dạng cấu trúc cự thạch.
Thuật ngữ cự thạch dùng chỉ công trình bằng đá ở nhiều khu vực trên hoàn vũ thuộc các thời kỳ khác nhau, kể cả hiện đại. Một di chỉ cự thạch nổi tiếng thế giới mang tên Stonehenge ở hạt Wiltshire, miền Nam nước Anh, được dựng từ 2.500 ~ 2.000 năm trước Công nguyên. Năm 1989, UNESCO xếp hạng Stonehenge vào danh mục di sản văn hoá thế giới. Châu Úc, còn gọi châu Đại Dương, cũng có các di tích cự thạch ở Australia và New Zealand. Không chỉ cự thạch trên đất liền, người ta còn phát hiện cự thạch dưới đáy biển: năm 1995, tại Nhật Bản, một thợ lặn tìm thấy di tích cự thạch Yonaguni-jima / 与那国島 / Dữ Na Quốc Đảo có niên đại 8.000 năm ở ngoài khơi Okinawa. Công trình cự thạch thời nay được nhiều người biết là Coral Castle ở Homestead, bang Florida, Hoa Kỳ, do Edward Leedskalnin (1887 - 1951) xây dựng vào thập niên 1920.
Việt Nam có những di tích cự thạch nào? Đã tìm thấy các dolmen tại Xín Mần (Hà Giang), Hòa An (Cao Bằng), Nà Hang (Tuyên Quang), Lục Nam (Bắc Giang), Tiên Du (Bắc Ninh), Sóc Sơn (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Những địa phương vừa kể chẳng phải duyên hải / ven biển. Thế nhưng, tại Việt Nam, di tích cự thạch được phát hiện sớm nhất chính là cổ mộ Hàng Gòn ở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Tiến sĩ (TS) Phạm Quang Sơn - cán bộ Trung tâm Khảo cổ học trực thuộc Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM - thêm:
- Tính đến nay, mộ cự thạch Hàng Gòn còn là di tích khảo cổ thuộc loại kiến trúc bằng những tấm đan(1)và trụ đá chỉ duy nhất được phát hiện tại Việt Nam. Chẳng những chất chứa giá trị lớn về lịch sử, di tích này còn nẩy sinh nhiều vấn đề của xã hội hiện thời: tín ngưỡng dân gian, tham quan du lịch, vân vân.
Biểu tượng của nền văn minh sông Đồng Nai
Ảnh: Phanxipăng
Từ quốc lộ 1A, quốc lộ 56 dài 49km chạy từ ngã ba Tân Phong đến ngã ba Hoà Long. Tuyến đường này nối liền thị xã Long Khánh với thị xã Bà Rịa. Đến km05, trên vùng đất đỏ basalte tương đối bằng phẳng, khách thập phương thấy cách lề đường 150m hiện ra di tích cự thạch Hàng Gòn kề cận khuôn viên trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ.
Thuở trước, đây là Société Indochinoise des Plantations d'Hévéas de Xuân Lộc. Viết tắt, nói tắt thành SIPH de Xuân Lộc. Đó là đồn điền cao su của Pháp, rộng 350 mẫu, thuộc xã Xuân Lộc, tổng Bình Lâm Thượng, tỉnh Biên Hoà. Năm 1956, gọi ấp Hàng Gòn, xã Thới Giao, quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Năm 1976, đổi thành ấp Xuân Thành, xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Từ tháng 8-2003, là xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Quốc lộ 56 vốn là đường liên tỉnh số 2. Năm 1927, mở trục lộ này, thấy dưới gốc cổ thụ có tảng đá nhô lên, kỹ sư cầu đường Jean Bouchot người Pháp liền báo cáo trường Viễn Đông Bác Cổ / École française d'Extrême-Orient (EFEO) và được giao nhiệm vụ tiến hành khai quật. Quá bất ngờ khi dưới lòng đất hiện dần ra di tích cự thạch vô cùng đặc sắc. Các hạng mục di tích đều bằng đá. Nằm theo hướng đông tây, hầm mộ hình khối hộp chữ nhật, dài 4,2 mét, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét, được ghép bởi 5 tấm đan bằng đá hoa cương(2). Chung quanh hầm mộ có 10 trụ đá. 8 trụ bằng sa thạch (3), cao 2,5 ~ 3m, mặt cắt ngang hình bầu dục, đầu mỗi trụ đều khoét lõm hình yên ngựa. 2 trụ còn lại bằng đá hoa cương, cao 7,2m, mặt cắt ngang hình chữ nhật, một đầu lõm, một đầu có đoạn phình ra đôi bên.
Kết quả cuộc khai quật ấy được công bố trên tập san của Hội Nghiên cứu Đông Dương / Bulletin de la Société d'Enseignement de l'Indochine (BSEI) vào năm 1927 và 1929. Điều đó thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học: Henri Parmentier, Emile Gaspardone, Louis Malleret, Edward Saurin, Henri Fontaine, v.v.
Mộ cự thạch Hàng Gòn được khởi tạo bao giờ? Từ thời đại đồ đồng như L. Malleret đoán định ư? Ed. Saurin cho rằng di tích hình thành cách ngày nay 3.950 ± 250 năm. Tiếc thay, J. Bouchot đã làm thất tán cả loạt mẫu vật cần thiết, chẳng hạn các vòng đá và nhất là "những bình nhỏ bằng gốm nung đựng lớp đất lẫn tro than màu xám" nên không thể xác minh độ tuổi thông qua bao cách thức khả tín như carbon 14 (14C), kali-argon, uranium!
Vậy ai là chủ nhân di tích? Đã xuất hiện ý kiến khác thường: phải chăng là những người Lemuria khổng lồ, với chiều cao trung bình mỗi cá nhân những 3m? Theo giả thuyết nọ thì di tích Hàng Gòn đã hình thành cách nay khoảng 78.000 ~ 20.000 năm, đó là điều khó chấp nhận khi đối chiếu loạt mẫu vật tại mộ cổ Hàng Gòn đã được giám định niên đại nhờ các phương pháp khoa học.
Riêng vật liệu thi công đã tạo thắc mắc chưa thể giải đáp rốt ráo. Xét chủng loại đá di tích Hàng Gòn, các nhà địa chất học hiện đại xác định rằng không thể có ở địa bàn tỉnh Đồng Nai, còn những địa phương khác gần nhất sẵn đá ấy là Đà Lạt và Phan Rang. Mỗi tấm đan, mỗi trụ đá nặng xấp xỉ chục tấn. Người xưa khai thác, gia công đá (cưa cắt, đẽo đục, gọt khoét, mài nhẵn, đánh bóng, v.v.) thế nào? Trong hoàn cảnh bị hạn chế đến mức tối đa về nhiều mặt (đường xá, trang thiết bị, phương tiện giao thông, v.v.), làm sao họ di dời và vận chuyển những phiến đá to nặng qua mấy trăm cây số?
Ảnh: Phanxipăng
Vợ chồng nhân viên bảo vệ di tích cự thạch Hàng Gòn hiện nay là Lê Thị Cẩm Tú và Phạm Quang Hữu Tâm. Ngày 11-10-2009, Cẩm Tú cho tôi biết:
- Nghe kể rằng từ khi phát hiện mộ cổ nơi đây, dân chúng trong vùng gọi là mả ông Đá và lập miễu thờ. Rằm, mùng 1, Tết nhất, người ta tới cúng bái. Ngày 13 tháng 9 âm lịch hằng năm, lễ giỗ ông Đá được cử hành khá long trọng.
Tại mả ông Đá, Ban Quản lý di tích danh thắng tỉnh Đồng Nai dựng biển bảng giới thiệu sơ lược cổ mộ Hàng Gòn với đoạn kết: "Mộ cự thạch Hàng Gòn cho đến nay vẫn còn là một bí ẩn, cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề về chủ nhân, về nguồn gốc vật liệu, về kiến trúc, kỹ thuật chế tác, xây dựng và mối quan hệ giữa chủ nhân mộ cự thạch Hàng Gòn với chủ nhân các di chỉ khảo cổ học trong vùng như Suối Chồn, Đá, Cầu Sắt, Long Giao."
Sau khi phát lộ một năm, năm 1928, dolmen Hàng Gòn liền được EFEO đưa vào danh mục các di tích lịch sử "mộ Đông Dương". Năm 1930, trong bảng di tích ở Nam Kỳ, cự thạch Hàng Gòn đứng thứ 38. Khu vực cổ mộ này đã có những đợt khai quật vào các năm 1968, 1973 và 1975. Ngày 24-12-1982, Bộ Văn hoá Thông tin ban hành quyết định số 47/VH-QĐ xếp hạng mộ cự thạch Hàng Gòn là di tích khảo cổ học cấp quốc gia.
Mộ cự thạch Hàng Gòn đã trở thành một biểu tượng của nền văn minh lưu vực sông Đồng Nai.
Giải mã bí ẩn
Năm 1991, công tác chỉnh trang giúp mộ cự thạch Hàng Gòn có hàng rào bao bọc, hố khai quật cũ được gia cố, một số cây cảnh được trồng, song đã xảy ra lắm sơ suất đáng buồn: tấm đan nơi hầm mộ bị nứt vỡ, một số trụ đá bị gãy lìa!
Ảnh: Phanxipăng
Đưa tay vuốt vết nứt vỡ nham nhở trên tấm đan hoa cương, Thiên Hương - nữ thương gia ở địa phương - bỗng đọc câu thơ của Hoàng Cầm cực kỳ phù hợp:
Sao xót xa như rụng bàn tay!
Thời gian qua, Ban Quản lý di tích danh thắng tỉnh Đồng Nai phối hợp với Trung tâm Khảo cổ học trực thuộc Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM thực hiện các đợt điều tra - đào thám sát vào năm 2006 và khai quật vào năm 2007. Chủ trì cả 2 đợt này là TS. Phạm Quang Sơn cho biết:
Trước kia, nhiều nhà nghiên cứu nghĩ rằng cộng đồng người xây dựng mộ cự thạch Hàng Gòn từng sống trong hoà bình yên ổn dài lâu. Năm 1982, tại Long Giao, cách Hàng Gòn khoảng 5km, giới khảo cổ phát hiện cả kho vũ khí xưa gồm 19 chiếc qua bằng đồng, nên suy nghĩ ấy buộc phải thay đổi. Thì ra cộng đồng nọ đã trải qua xung đột vũ trang nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa cư dân bản địa với thế lực ngoại bang. Năm 2006, đào 58 hố thám sát trong khu di tích Hàng Gòn, phát hiện thêm hiện vật góp phần củng cố ý vừa nêu: 2 chiếc tù và bằng đồng.
Tôi hỏi:
- Qua đó, có thể xác định niên đại và chủ nhân mộ cự thạch Hàng Gòn?
Ảnh: Phanxipăng
TS. Phạm Quang Sơn đáp:
- Sau khi nhận kết quả phân tích bằng phương pháp 14C các mẫu than đã đào ở Hàng Gòn, chúng tôi cho rằng mộ cự thạch này có niên đại ngay trước hoặc đầu Công nguyên. Tức muộn hơn giai đoạn mộ chum thời đại sắt sớm và sớm hơn hoặc trùng với thời kỳ khởi đầu văn hoá Óc Eo và vương quốc Phù Nam, nghĩa là thế kỷ thứ II. Chủ nhân của di tích là một thủ lĩnh đầy quyền uy của bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc có kinh tế hùng mạnh, thông thạo binh nghiệp.
Ngay các cột đá chung quanh cổ mộ Hàng Gòn cũng làm rộ lên những luồng kiến giải khác nhau về chức năng và quy cách bố trí. Soạn bài Vestiges mégalithiques à Xuân-Lộc (4)đăng tập san của EFEO năm 1928, nhà khảo cổ học Henri Parmentier (1871 - 1949) cho rằng phải có 14 cột đá được dựng làm trụ đỡ hệ thống ròng rọc hoặc dây kéo nâng nắp mộ để đặt thêm than tro hoả táng người quá cố.
Ngày 31-1-2010, TS. Phạm Quang Sơn nói với tôi:
- Tại mộ cự thạch Hàng Gòn, nhờ phát hiện thêm, đến nay đã có 14 cột mang vết lõm hình yên ngựa cả thảy, đúng như Parmentier dự đoán. Tuy nhiên, dùng trí tưởng tượng hoặc máy tính mà sắp xếp các cột đá theo nguyên tắc song song và đối xứng từng cặp, chúng ta thấy thừa 1 cột dài (3m) và thiếu 1 cột ngắn (0,7m). Thêm điều cần chú ý: vết lõm hình yên ngựa trên đầu các cột lớn đều nằm ngang, tuy nhiên một số cột thì vết lõm chạy xéo từ trên xuống dưới. Trên 3 cột ngắn lại có vết lõm vuông góc với vết lõm xéo kia. Phải chăng những cột này dùng đỡ những đà xiên như đòn tay trong cấu trúc mái nhà?
Tôi thắc mắc:
- Theo anh, những cột đá đó không phải trụ đỡ ròng rọc, mà là cột nhà mồ à?
TS. Phạm Quang Sơn trả lời:
- Cột nhà mồ. Để phục dựng nhà mồ Hàng Gòn với quy mô hết sức đặc biệt, ngành khảo cổ rất cần sự hợp tác chặt chẽ của quý vị kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng, và các chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học khác.
Nếu thế, hàng loạt vấn đề tiếp tục nẩy sinh, đòi hỏi hậu thế nhọc công giải quyết. Chẳng hạn mái lợp thế nào? Hầm mộ được đóng mở ra sao? Chắc chắn thêm quá nhiều điều sẽ vỡ vạc.
Hiện nay, để phục vụ du lịch, tín ngưỡng, và công tác nghiên cứu, khu vực cổ mộ Hàng Gòn cần được tu bổ khang trang, đáp ứng các yêu cầu khoa học. Trước mắt, nên thành lập nhà bảo tàng gần mả ông Đá nhằm trưng bày hiện vật và các tư liệu liên quan di tích Hàng Gòn, cùng các kiến trúc cự thạch khác trong lẫn ngoài nước Việt.
Đã đăng: Thế Giới Mới 882 (3-5-2010) - Kiến Thức Ngày Nay 747 (10-5-2011)

Ảnh chưa phân loại

Ảnh chưa phân loại
Lấy code html từ imageshack.us.
Claire Danes: diễn viên vào vai Juliet
Mấy cô người Việt mình chắc không dám như cô Claire Danes này - như 2 cái gai chọc vào những ánh mắt tò mò...
Trông không giống Claire Danes.
Chắc cô này không phải Claire Danes.
NGỌC TRINH - Người đẹp Việt Nam.
Y phục toàn đỏ.
 
 
Câu được cá to.
Kỳ họp thứ 6
 
Sưu tầm từ imageshack.us

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Ảnh diễn viên Krysten Ritter

Ảnh diễn viên Krysten Ritter
Copy từ imsgeshack.us.
Y phục toàn tím- tươi
Ngây thơ, hoang dại, y trang giản dị.
51646723 -Chloe- Như ảnh tù nhân - size lớn.
Hai gò bồng đảo quá xinh. Size nhỏ
Ảnh nhỏ, áo trắng.
Tóc đen
Tóc vàng, áo trắng hồng- Chắc không phải Krysten Ritter.

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Đi tìm đứa bé trong "Cánh đồng hoang"

Đi tìm đứa bé trong "Cánh đồng hoang"
Copy từ http://laodong.com.vn/Phong-su/Di-tim-dua-be-trong-Canh-dong-hoang/86540.bld , đăng ngày 05/10/12, mục Phóng sự .
“Cánh đồng hoang” là phim truyện Việt Nam đầu tiên đoạt giải vàng Liên hoan phim Mátxcơva (1981), có vị trí đặc biệt trong lịch sử điện ảnh nước nhà. Làm nên thành công này, ngoài tài năng của đạo diễn và các diễn viên gạo cội, còn có sự đóng góp rất quan trọng của một “diễn viên” mới... 9 tháng tuổi.
Hình ảnh đứa bé vui đùa bất chấp hiểm nguy giữa vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) mênh mông; giữa bom đạn, máy bay của kẻ thù, đã khái quát sức mạnh tiềm ẩn và vô tận của nhân dân ta. Tôi đã thử đi tìm “đứa bé” ngày ấy.
Diễn viên Thúy An và bé Thuận lúc đóng phim (chụp lại ảnh tư liệu).
Trước khi lên đường, tôi chỉ có mỗi thông tin ít ỏi: Đứa bé ấy là con của một gia đình nghèo ở ĐTM. Phải làm sao đây? Chợt nhớ trong bộ phim có cảnh quân giải phóng ngồi họp trên xuồng, trong ấy có ông Đặng Trung Tâm - lúc ấy là Chủ tịch UBND huyện Mộc Hóa (tỉnh Long An) - cũng tham gia đóng cho vui, tôi đã tìm đến người cán bộ về hưu ngoài 80 tuổi này. Và tôi đã tìm đúng địa chỉ.
Ông Tâm nói vanh vách: “Đứa bé ấy tên Nguyễn Văn Thuận, con ông Nguyễn Văn Việt, cháu gọi đạo diễn Hồng Sến là bác ruột, ở tại xã Vĩnh Bửu, huyện Tân Hưng, quê hương của Hồng Sến”. Nhắc tới đứa bé trong “Cánh đồng hoang”, ông Tâm như hào hứng hẳn lên, ông nói: “Theo tôi, đứa bé mới là “diễn viên chính” của bộ phim. Để làm tăng hoàn cảnh khó khăn và ý chí của vợ chồng Ba Đô, Hồng Sến đã khai thác những tình huống rất “đắt” với đứa bé như cảnh chạy trốn máy bay địch phải cho con vào bao nylon dìm xuống nước, cảnh đứa bé bị rơi xuống dòng nước lũ...”.
Cảnh trong phim là thật
Từ đầu xã, hỏi thăm “nhà đứa bé trong phim Cánh đồng hoang”, thật lạ, hầu như ai cũng biết. Sau đó tôi được biết, bộ phim sau khi hoàn thành đã được đem về đây chiếu cho dân xem (năm 1979) và trở thành sự kiện lớn trong vùng, từ đó “bé Thuận” nổi tiếng cho tới bây giờ. Đi thêm độ 5 cây số, qua thêm 1 con sông, đến ấp Vàm Gừa, một người dân chỉ tôi: “Đó, ngôi nhà mới là của cha con “bé Thuận”, còn ngôi nhà cũ bên cạnh là nhà ông Hồng Sến, khu nhà mồ đó là của ông bà, cha mẹ Hồng Sến”.
Nhà của “cha con bé Thuận” khá khang trang, còn màu sơn mới, được cất trên nền cao “vượt đỉnh lũ”. Bước vào sân, tôi gặp một phụ nữ đang phơi lúa, đó là bà Trương Thị Thu - mẹ của “bé Thuận”. Bà Thu cho biết “bé Thuận” đi gặt lúa ngoài đồng, còn ông Hai Việt - cha của Thuận - “đang nhậu bên hàng xóm”. Có 2 đứa trẻ quấn quýt bên chân - bà Thu cho biết đó là 2 đứa con của Thuận. Một người phụ nữ trẻ bưng nước lên mời tôi, bà Thu nói: “Vợ thằng Thuận đó”.
Bà Thu nhớ lại: “Lúc bác Hồng Sến về chọn diễn viên, Thuận mới 4 tháng tuổi, đến khi đoàn làm phim về quay thì được 9 tháng”. Sai đứa cháu đi kêu chồng về “có khách”, bà Thu kể tiếp: “Vì bác Hồng Sến là người nhà, biểu sao vợ chồng tui nghe vậy. Những lúc Thuận đóng cảnh té ngã xuống nước hay bỏ vào túi nylon dìm xuống nước, bác Sến đều khéo léo kêu tôi đi nơi khác. Đến khi coi phim, thấy “ghê” quá, tui đã bật khóc vì thương con”.
Ông Hai Việt về tới, ông niềm nở bắt tay tôi như thể người quen đã lâu. Ông kể: “Tui cũng có tham gia đóng phim đó, vai một du kích”. Ông Việt còn cho biết, từ thời chiến tranh ông đã có lần được bác Hồng Sến đưa đi Bến Tre để tham gia đóng phim “Đường về phía trước”. Nhắc về cảnh quay “bé Thuận” từ trên sàn rơi tõm xuống nước, ông Việt cho biết đó là cảnh quay thật hoàn toàn, chính ông phải lặn trước xuống nước để đón đứa con khi nó rơi xuống.
Có tiếng lao xao ngoài bờ sông, ông Việt cho biết Thuận chở lúa gặt ngoài ruộng về tới. “Đứa bé” 9 tháng tuổi ngày nào giờ đã là người đàn ông vạm vỡ tuổi 34, tay cầm sào điều khiển cho ghe lúa cặp bờ một cách gọn gàng. Thuận trở nên rụt rè khi ông Việt nói: “Có nhà báo tới kiếm mày”. Thuận chưa kịp chuyện trò gì với tôi thì 2 đứa con nhỏ đã chạy tới ôm lấy chân kêu “ba Xựng, ba Xựng về...”.
Ở ĐTM trời tối như nhanh hơn, chúng tôi chưa tròn câu chuyện thì tiếng bù tọt đã kêu vang ngoài đồng, trên trời mây vần vũ báo hiệu một cơn mưa đang đến. Tôi định kiếu từ ra về, ông Việt nói: “Từ đây về tới thị trấn Tân Hưng khoảng 30 cây số đường vắng, trời tối lại chuyển mưa, hơi nguy hiểm, hay là chú ngủ lại mai về...”.
Ông Việt “hú” anh em, bạn bè hàng xóm: “Có nhà báo tới chơi, ở lại đêm”. Trong nháy mắt, 5 – 6 người đàn ông đến nhà ông Việt, bắt tay vui vẻ với tôi. Cũng trong nháy mắt, các món mồi nhậu đặc sản vùng ĐTM được bưng lên. Chủ nhà không đãi rượu đế, mà là bia lon, kêu chở tới một lúc 2 – 3 thùng.
Thuận cũng được cha kêu ngồi nhậu với khách, “cậu bé” có tửu lượng khá, càng uống càng tỉnh. Đêm vùng ĐTM tĩnh lặng, ngoài bàn nhậu sôi động của chúng tôi, bốn bề vắng tanh. Khi đã ngà say, “bé Thuận” mới bắt đầu bộc bạch “chuyện đời” mình...
Đứa bé giờ là tỉ phú
Thuận cho biết, chính anh khi lớn lên xem lại những cảnh phim do mình đóng cũng xúc động và thích thú, anh thầm mơ một ngày nào đó được theo nghề của ông Tư Hồng Sến. Càng lớn Thuận càng đẹp trai, to lớn, có nụ cười giống hệt Hồng Sến. Và cậu bé đã dấn thân “đi theo ông Tư” khi vừa tròn 17 tuổi. Về Sài Gòn, Thuận ở chung nhà gia đình Hồng Sến để nhờ “ông Tư” giúp thi vào trường điện ảnh. Nhưng Thuận đã không có duyên với điện ảnh, vì ngay sau đó Hồng Sến đổ bệnh và qua đời năm 1995.
Hết chỗ nương tựa, Thuận đành trở về quê làm ruộng. Sau đó Thuận cưới vợ, sinh con, gắn bó với nghề nông, ước mơ làm diễn viên điện ảnh chỉ còn là kỷ niệm. Thuận tâm sự: “Nhưng có khi vậy mà may, nghe nói nghề diễn viên điện ảnh lông bông, nghèo khó, còn em bây giờ cuộc sống ổn định”. Khái niệm “ổn định” của Thuận sau đó được ông Việt diễn giải đầy đủ hơn: Thuận đang có trong tay 10ha ruộng trồng lúa 2 vụ, có 1 máy gặt đập liên hợp, 1 máy cày... Tính sơ sơ tài sản của “bé Thuận” đã lên tới 3 – 4 tỉ đồng.
Thuận cùng vợ con. Ảnh: Kỳ Quan
Ông Việt nhớ lại: “Sau giải phóng, vợ chồng tui rất nghèo, chỉ có hơn hécta ruộng, trồng lúa 1 vụ rất bấp bênh. Thằng Thuận nó nghỉ học ở Sài Gòn về làm cùng tui, từ từ tích lũy mua thêm ruộng, lúc đó làm ruộng khó khăn, người ta kêu bán rất nhiều. Sau khi nó cưới vợ, tui cho “ra riêng” với 5ha ruộng. Thời may nó là đứa chí thú, làm lụng tích lũy mua thêm ruộng, rồi máy gặt đập... Chớ nó mà đi theo nghề điện ảnh của ông Tư, hổng biết bây giờ ra sao”.
Rồi ông Việt và mấy người hàng xóm nhắc về sự tài hoa của Hồng Sến và cái nghèo của vợ chồng Hồng Sến – Thúy An, nghèo cho đến chết! Rượu vào lời ra, một người hỏi “bé Thuận”: “Trong phim có cảnh mày bú vú bà Thúy An, đố mày vú ai?”. Tất cả cười rần, họ đã biết câu trả lời, chỉ có tôi là lơ ngơ.
Ông Việt giải thích: “Nó bú mẹ nó, chứ bà Thúy An lúc đó mới ngoài 20 tuổi, chưa có con, lấy đâu ra sữa mà cho bú”. Ngày ấy bà Thu vì ăn uống kham khổ, không đủ sữa, bé Thuận phải “bú” thêm nước cơm, nên ốm nhom, mà bây giờ đã là “tỉ phú” ở ĐTM với ruộng đất “cò bay thẳng cánh”. Mọi người kể chuyện 34 năm trước mà cứ ngỡ mới vừa hôm qua.
Kỳ Quan-Báo Lao Động

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

10 năm lặn lội minh oan cho chồng

10 năm lặn lội minh oan cho chồng
Copy từ http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131105/nguoi-vo-miet-mai-di-tim-cong-ly-cho-chong.aspx , đăng ngày 05/11/13, mục Chính trị - Xã hội .
(TNO) Trong hơn 10 năm, bà Nguyễn Thị Chiến (48 tuổi, thôn Me, xã Nghĩa Trung, H.Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) không còn nhớ nổi mình đã gửi bao nhiêu lá đơn kêu cứu và gửi đi những đâu để kêu oan cho chồng là ông Nguyễn Thanh Chấn.
Trong ngày đón chồng về nhà, bà Chiến liên tục ngất xỉu
Trong buổi chiều ngày 4.11.13, khi chiếc xe chở ông Chấn về tới làng Me, đông đảo người làng đổ dồn sự chú ý tới ông Chấn. Họ mong được thấy ông Chấn gầy hay béo, có gì khác so với hồi năm 2003 (thời điểm trước khi đi tù). Chẳng mấy ai để ý tới người đàn bà đang ngất lên, ngất xuống. Bà Chiến, trong ngày mà những nỗ lực miệt mài kêu oan cho chồng suốt hơn 10 năm đã được đền đáp, gục ngã vì niềm hạnh phúc.
Theo những gì bà Chiến nhớ lại, thời điểm ông Chấn bị bắt đi, ngôi nhà cấp bốn hiện nay chỉ được xếp bằng gạch, lợp bằng prô xi măng. Thương các con khổ cực, đau đáu với nỗi đau chồng bị oan sai, bà Chiến chỉ còn biết cắn răng làm việc bằng năm, bằng mười người khác.
Việc đầu tiên là bà lo dựng lại ngôi nhà, sao cho 4 người con có chỗ ở tử tế, để những ngày vác đơn đi kêu oan, bà Chiến không phải thấp thỏm âu lo.
“Khi đó, tiền bán hàng, tiền đi làm được bao nhiêu là tôi lại dành dụm để cứ vài tháng lại đón ô tô khách lên trại giam trên Vĩnh Phúc thăm ông ấy một lần. Mỗi lần đi như vậy cũng mất 2 - 3 ngày”, bà Chiến kể. Chưa hết, số tiền dành dụm được, bà Chiến cũng mang hết ra dùng làm lộ phí đi đường để đi khắp nơi kêu oan cho chồng.
“Vì làm được đồng nào, tôi lại dùng để đi kêu oan cho bố chúng nó, nên chỉ có mỗi thằng út được học hết cấp 3, những đứa còn lại chỉ được học tới lớp 9”, nói tới đây bà Chiến lại khóc.
Ông Chấn nhận quyết định tạm đình chỉ thi hành án
Ông Chấn trong vòng vây người làng Me
Niềm hạnh phúc vỡ òa sau hơn 10 năm miệt mài đi tìm công lý cho chồng khiến bà Chiến không chịu đựng nổi, liên tục ngất xỉu
Đau khổ đến đổ bệnh
Ông Thân Ngọc Hoạt (ở xã Nghĩa Trung, H.Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), anh em cột chèo với ông Chấn, là người đã giúp đỡ bà Chiến rất nhiều trong việc đi kêu oan cho chồng. Trong suốt quãng thời gian này, ông Hoạt đã cầm cố 3 sổ đỏ đế lấy tiền cho bà Chiến làm lộ phí đi đường, tiền thăm nuôi ông Chấn.
Bà Phạm Thị Là (63 tuổi, ở thôn Me, xã Nghĩa Trung, H.Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), là dì ruột của ông Chấn, cho hay trong hơn 10 năm liên tục đi kêu oan cho chồng, cộng với việc phải chứng kiến các con mình sống trong sự ghẻ lạnh của người làng, bà Chiến chẳng may mắc chứng bệnh liên quan tới thần kinh. Không ít lần, bà Chiến phải đi điều trị tại Bệnh viện Tâm thần T.Ư.
Trao đổi với Thanh Niên Online, ông Nguyễn Văn Hoàn, Trưởng Công an xã Nghĩa Trung, cho biết chứng kiến cảnh bà Chiến ốm đau, bị không ít lời đàm tiếu, mà vẫn kiên trì đi kêu oan cho chồng, nhiều người bày tỏ sự thán phục.
Vẫn theo ông Hoàn, từ những thông tin đứt quãng, chưa thật rõ ràng của một người họ hàng với Lý Nguyễn Chung (nghi phạm mới ra đầu thú về tội mà ông Chấn đang gánh chịu) nói ra, bà Chiến đã âm thầm lần theo từng manh mối, để làm cơ sở minh oan cho chồng.
Cũng từ đây, tất cả những cuộc nói chuyện với người nhà Lý Nguyễn Chung đều được bà Chiến bí mật ghi âm lại. Về nhà, bà Chiến mày mò ráp nối lại các thông tin có được. Dần dà, chân dung nghi phạm ra tay giết hại chị Hoan được dựng lên.
Theo bà Chiến, điều khiến bà nghi ngờ nhất là sau khi vụ án xảy ra, Chung gần như không còn xuất hiện ở làng Me nữa. Tìm hiểu, bà Chiến được biết hiện anh này đã lấy vợ, có con và đang làm ăn sinh sống ở tận Đắk Lắk.
Tất cả những thông tin quý giá trên được bà Chiến thể hiện trong đơn gửi các cơ quan chức năng. Trên cơ sở này, Cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao đã phối hợp cùng Bộ Công an, TAND Tối cao, khẩn trương tiến hành điều tra, xác minh, vận động Chung ra tự thú.
Bài, ảnh: Hà An

Cười chút nhưng buồn lâu lâu

Cười chút nhưng buồn lâu lâu
Phỏng vấn nhanh vài đức ông chồng
Tại sao trong ngần ấy năm trời anh không hề nói với vợ một lời nào?
- Ồ, không có chuyện gì đâu! Chẳng qua là tôi không muốn ngắt lời cô ấy.
Khế chín trên cây
*** *** ***
- Có đúng là những người có vợ sống lâu hơn những người độc thân không?
- Không, họ chỉ cảm thấy cuộc sống dài lê thê mà thôi.
*** *** ***
- Sao anh lại buộc ngón tay mình thế kia?
- Vợ tôi buộc đấy, để tôi khỏi quên gửi thư.
- Thế anh đã gửi thư chưa?
- Bà ấy đã quên không đưa thư cho tôi.
*** *** ***
- Kỳ nghỉ hè này, gia đình anh sẽ đi đâu?
- Tôi thì muốn ra biển còn vợ tôi thì lại thích lên núi.
- Thế ư? Vậy anh chị quyết định thế nào?
- Hình như anh chưa lập gia đình thì phải?
*** *** ***
- Anh bỏ kính ra trông rất trẻ, đẹp trai!
- Vợ tôi cũng vậy.
- Nhưng tôi chưa thấy chị ấy đeo kính bao giờ?
- À vâng, ý là khi không đeo kính tôi thấy cô ấy trẻ đẹp hơn.
 
 
thnien sưu tầm trên net.