Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Canh chua bông điên điển: đặc sản mùa nước nổi

Copy từ http://www.buaanviet.com/blog/postdetail/639059ba-ea84-4305-863f-12f4fc306c12/canh-chua-bong-dien-dien-dac-san-mua-nuoc-noi;đăng ngày 07/06/2011.

Canh chua bông điên điển: đặc sản mùa nước nổi

 

Canh chua – Một món ăn rất quen thuộc với mọi người mà chắc có lẽ ai cũng đã từng thưởng thức. Những bát canh chua ngọt ngào được nấu với cá lóc; canh chua bạc hà; canh chua lá giang… làm cho những bữa ăn thêm đậm đà.

Mỗi lần mẹ nấu canh chua là bố con tôi lại ăn tốn cơm hơn, vị chua chua, ngọt ngọt cứ kích thích ăn nhiều thêm mặc dù bụng đã no căng.

Bông điên điển

 

Vô Sài Gòn học, một lần đến nhà bạn ở Tiền Giang chơi, tôi được thưởng thức một món canh chua rất độc đáo, phổ biến vùng sông nước Tây Nam Bộ :Canh chua bông điên điển. Có cả câu cả dao nói về món ăn này:

Canh chua điên điển cá linh

Ăn có một mình thì chẳng biết ngon

Vào những mùa nước nổi tháng 7, tháng 8 âm lịch ở các tỉnh Hậu Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp… bông điên điển lại nở vàng rực các con sông, con rạch. Đây cũng là thời điểm những chú cá linh phát triển mạnh, người dân Miền Tây lại có những nồi canh chua cá linh nấu với bông điên điển ngon tuyệt. Ngoài cá linh, thì cá rô khi nấu với bông điên điển cũng rất ngon và đậm đà khó quên.

Để có một nồi canh chua bông điên điển cũng đơn giản như nấu những nồi canh chua khác. Có đầy đủ các loại rau như bạc hà, cà chua, bông súng và những chú cá linh hay cá rô để nguyên con. Nếu nẩu cá rô, khi ăn gắp cá bỏ vào một dĩa nước mắm ớt, để nước mắm thấm đều làm cá thêm đậm đà hơn.Phía trên tô canh chua được rắc thêm ít rau thơm, ớt bột càng làm cho món ăn thêm bắt mắt và ngon miệng hơn.

Canh chua bông điên điển

 

Bông điên điển bỏ riêng, không bỏ chung vào canh giống các loại rau khác. Khi ăn, có thể bắc nồi canh trên một bếp ga nhỏ để giữa bàn ăn. Bật lửa liu riu để nồi canh luôn nóng. Lấy một ít bông điên điển trụng sơ một vài phút trong nước canh rồi lấy ra ngay. Ăn đến đâu trụng bông điên điển đến đấy,ăn chung với các rau khác và một ít cá mới cảm thấy ngon ngay từ đầu lưỡi, vừa đậm đà, chua chua, ngọt ngọt…kích thích vị giác rất nhiều.

Giống như rau má, mướp đắng hay rau đắng…nếu ai chưa quen rất khó ăn bông điên điển vì nó có vị nhầy nhẩy rất khó ăn. Nhưng nếu ai hợp khẩu vị thì sẽ thành ghiền món ăn miệt vườn này. Nhất là những bông điên điển đầu mùa lũ, bông còn tươi khi mới cảm nhận hết cái ngon, cái đậm đà của món ăn.

Nếu ai chưa từng thưởng thức món ăn này, hãy xuôi về các tỉnh miền Tây vào màu nước lũ (tháng 7, tháng 8 âm lịch) để được khám phá hương vị khó quên của món ăn này.

Nguồn: monngonsaigon

 

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Sự thật đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ

Copy từ http://gpsvn.wordpress.com/; đăng ngày 10/02/2010.

Trịnh Thanh Thủy – Sự thật đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ

Posted by gpsvn on Tháng Hai 10, 2010

 

Gần đây Hà Nội tưng bừng với cuộc triển lãm ảnh Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa, do tạp chí Xưa và Nay phối hợp với Thư viện Hà Nội tổ chức. Báo chí toàn quốc đều loan tin và viết bài phóng sự về cuộc triển lãm hiếm có đã quy tụ được nhiều nhà sưu tập ảnh, trong đó có nhà sưu tập bưu ảnh nổi tiếng người Pháp Philippe Chaplain.

Trong số các bài viết, bài “Lý lịch bằng ảnh của một thuộc địa” của Kiều Trinh gây sự chú ý đến người đọc nhiều nhất. Nó tạo sự ngạc nhiên không những bằng vài tấm ảnh áo yếm của phụ nữ bị bóc vỏ mà còn bằng những lời tuyên bố đáng suy ngẫm của một hội viên hội khoa học là ông Lê Cường và những nhận xét của nhà nhiếp ảnh Hữu Bảo.

Đây là một trích đoạn:

Trong số hơn 100 chủ đề được trưng bày trong triển lãm này, những tác phẩm về sinh hoạt hàng ngày thu hút người xem hơn cả. Một chủ đề được người xem quan tâm và đặt nhiều dấu hỏi là áo yếm. Điều kỳ lạ với người xem là độ “hở hang” của những phụ nữ này. Trái với quan niệm “hiện hành” của nhiều người về sự kín đáo của người Hà Nội, phần lớn người trong ảnh đều mặc áo yếm mà hở ngực. Chiếc yếm chỉ che kín phần giữa ngực, còn hai bầu ngực thì lại hoàn toàn lộ ra!

Về điều này, ông Lê Cường, hội viên hội Khoa học lịch sử nói: “Điều này chứng tỏ, nho giáo đã không chạm tay đến tất cả mọi người trong xã hội. Và trong dân gian, tín ngưỡng phồn thực vẫn có sức sống riêng. Điều này không chỉ thể hiện rõ qua những cảnh yêu đương trên những thạp đồng Đào Thịnh, bia chùa Tứ Liên mà còn tồn tại trong sinh hoạt thường ngày. Và ngay cả những người có ý thức nho giáo thì các cụ cũng chỉ nho lúc đông người thôi. Điều đó xin được khẳng định là không hề dung tục”.

Ông Cường cũng cho rằng không nên nghi ngờ về tính “dàn dựng” phi thực tế của bộ ảnh này bởi chúng được xây dựng trên tinh thần dân tộc học rất rõ nét. Tuy nhiên, chính vì thế, bên cạnh tính tư liệu, nó không tránh khỏi cái nhìn về người Việt Nam như một dân tộc lạc hậu.

 

“Sắp xếp chân thực”– dòng chảy khác của nhiếp ảnh

Cũng đánh giá cao tính chân thực của các tác phẩm trong triển lãm, nhà nhiếp ảnh Hữu Bảo nhận xét: “Những bức ảnh ở đây thể hiện rất rõ tâm thế của một “nước lớn” khi tiếp cận những thông tin lý lịch bằng hình ảnh của các thuộc địa của mình. Với những tấm bưu thiếp đẫm ý thức quảng bá du lịch, người xem sẽ hiểu, xứ chồng con mình đang sống là như thế này”. “Các tác phẩm được chụp bởi những tay máy chuyên nghiệp và điều quan trọng là họ rất tôn trọng văn hoá…”

 

Càng nhìn những tấm ảnh hở hang của phụ nữ Việt Nam xưa, tôi càng nghi ngờ, càng thấy rõ tính dàn dựng phi thực tế trong chủ ý của người chụp và dã tâm của người phổ biến chúng vào bưu thiếp như một phương tiện quảng bá ngành du lịch hay một mưu đồ chính trị gian trá của Pháp quốc thời ấy.

Nếu nhìn sâu hơn, chúng ta thấy những bức ảnh này có sự sắp xếp của một nhiếp ảnh gia không chân chính, dù khung cảnh được xây dựng bằng những nét mộc mạc bình dị của người phụ nữ lao động thường nhật. Nó thiếu tự nhiên dù đã được dàn dựng bằng người thật và những vật liệu làm cho giống như thật. Đó cũng chính là gian ý nửa hư nửa thực, mập mờ đánh lận con đen của người chụp những tấm ảnh khoả thân này.

Hãy nhìn vào khuôn mặt người mẫu trong tấm hình ba cô gái đang ngồi (hình số 1), có một cô đang cầm dọc tẩu hút thuốc. Chính giữa là một cô bé có lẽ với động tác châm thuốc, còn hai cô kia đều mặc yếm, nhưng cả hai chiếc yếm bị vén qua một bên với chủ ý phanh ngực ra. Khuôn mặt hai cô gái mang đầy vẻ sượng sùng, khổ não, đau đớn và tủi nhục hơn tâm trạng mong chờ phút sung sướng của một người đang đợi hút. Vì sao? Ta có thể tưởng tượng ra đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ kia là một cường lực vì người chụp là người Pháp, kẻ thống trị hét ra lửa, kẻ nắm trong tay thân phận người dân bị trị.

Còn cái dáng ngồi chàng hảng mời gọi của một trong hai cô gái ngực trần nữa, tiết lộ rõ ràng ở đây có sự sắp đặt của một tay phó nhòm chuyên nghề chụp ảnh khiêu dâm!!!

 

ttt-1

 

Tôi trộm nghĩ cái thời xa xưa đó (có thể là 1888), chắc chưa có nghề người mẫu khoả thân cho các tay chụp hình chuyên nghiệp tha hồ chụp như bây giờ, nhất là các tay phó nhòm lại là người Tây phương. Và vào những năm người Pháp bắt đầu đô hộ chúng ta chưa có phong trào lấy Tây cũng như sự hiện diện của nhà thổ (ra đời khoảng 1940 trở đi). Vậy thì ba giả thuyết: người mẫu chuyên nghiệp, vợ Tây và gái giang hồ có thể bỏ qua một bên.

Chỉ có giả thuyết cuối cùng là những người dân lao động quê mùa này bị ức hiếp, bắt buộc phải tuân thủ làm theo mệnh lệnh “bắt cởi phải cởi, bắt chết phải chết” của người chủ nô lệ.

Khuôn mặt nô lệ buồn bã, chịu đựng của tấm hình số 2 cũng vậy, nó thuần túy một tấm hình khoả thân trần trụi không một nét nghệ thuật văn hoá nào cả.

Chiếc áo yếm nô lệ này không có nét hấp dẫn nửa kín nửa hở nào như các nhà phê bình ngày nay hay ca tụng vẽ vời đầy rẫy trên các trang web. Nó chỉ mang một tính lịch sử đau đớn của tổ tiên ta mà thôi

 

ttt-2

 

Tôi rất ngạc nhiên gần như sốc khi thấy các tấm hình này và tự hỏi không lẽ các bậc phụ nữ tổ tiên ta ngày xưa hở hang đến thế sao. Trong khi từ bé mẹ tôi răn dạy tôi rằng: “Con gái phải kín đáo, áo mặc chớ hở hang, đi đứng nhẹ nhàng khoan thai, ngồi thì khép chân lại, lúc nào cũng phải giữ ý tứ”.

 

ttt-3

 

Hỏi lại thì mẹ tôi trả lời thế này. Thời bà ngoại tôi sống, lúc đó chưa có áo ngực (su chiêng) thì mặc áo yếm, nhưng áo yếm chỉ là áo lót, bên ngoài phải mặc áo ngắn, áo cánh hay áo dài. Khó khăn hơn thì phải bịt chặt ngực lại hay nén ngực chứ không phải hớ hênh vậy đâu. Thời Pháp thuộc, người dân ai cũng sợ lính Tây lắm, nhất là lúc chúng qua làng đi ruồng bố. Mẹ kể, em gái của mẹ khi đó gánh hai gánh phân đi trên đường làng, tụi Tây thấy la “gái gái” và ào tới lột quần áo cưỡng hiếp cô (mặc cho phân rơi rớt) ngay trên đường làng trước mắt bao nhiêu người mà không ai dám can thiệp. Do đó việc chúng bắt phụ nữ cởi truồng hay trần cho chúng chụp hình là chuyện thường tình.

Bố tôi thì kể thêm về cái yếm như thế này. Gia đình bên mẹ tôi khá giả nên còn có áo mặc ra ngoài chiếc yếm, còn bên bố tôi hồi ấy nghèo quá. Bà nội tôi chỉ có độ một, hai cái áo thôi lại còn bị vá chùm, vá đụp. Bà thường thường chỉ có mặc yếm ra đồng làm việc mà cất chiếc áo đi sợ rách, sợ khi thời tiết trở lạnh, không có áo mà mặc.

Năm Ất Dậu, nạn đói tràn lan vì chính sách thâm hiểm của Nhật – Pháp nhằm dồn cả một dân tộc vào thảm họa diệt chủng. Bố tôi đi làm phu lục lộ không đủ tiền mua thực phẩm cho cả gia đình. Bà chịu hy sinh nhịn đói mà chết, để nhường miếng ăn cho chồng, cho con. Mỗi lần nhớ tới bà, bố tôi lại rơi nước mắt ân hận không nuôi nổi mẹ phải để mẹ chết vì thiếu ăn.

 

Qua câu chuyện trên, tôi biết thêm là người phụ nữ nhà quê thời ấy vì nghèo không đủ quần áo nên phải mặc phong phanh chiếc yếm không như vậy (nhưng rất kín đáo, che hai bầu ngực), chứ không phải vì đó là một thứ “văn hoá phồn thực” vượt ra ngoài vòng rào nho giáo như ông Lê Cường, hội viên Hội Khoa học Lịch sử phát biểu.

Nếu xét theo văn hoá truyền thống, phụ nữ Việt Nam thời ấy ăn mặc rất kín đáo, trong lệnh vua phép nước cũng có ghi chép rõ ràng. Theo tài liệu sách Đại Nam thực lục tiền biên, dưới thời các chúa Nguyễn, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong. “Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở….” Riêng tại Kinh đô Huế, nơi luật lệ thực thi nghiêm ngặt, đàn bà ra đường thường mặc áo dài kể cả lúc đi bán hàng rong. Tục lệ này còn lưu giữ cho tới bây giờ.

Nếu xét theo thực chứng, chúng ta xem thêm rất nhiều những bức hình chụp cảnh dân cư Hà Nội lúc đó, ta thấy phụ nữ ăn mặc rất đàng hoàng, kín đáo thậm chí đến nỗi bít bùng hai ba lớp nữa kia. Chỉ có vài ba tấm hình phụ nữ ở trần này nằm lẫn lộn vào gây ấn tượng mạnh làm bẻ cong sự thật.

Khi tôi viết bài này, qua những email truyền đi trên mạng thì tôi và bạn bè tôi, hầu hết ai cũng nhận được các bức hình khoả thân với tựa đề “Hình ảnh phụ nữ VN khoả thân của đầu thế kỷ trước” được phát tán và lưu hành khắp nơi. Loạt hình đó, theo lối sắp xếp dàn dựng cảnh và người thì ai cũng đoán ra cùng một nhiếp ảnh gia là tay chơi thích chụp những hình ảnh khiêu dâm. Trong bộ sưu tập ảnh hoàn toàn khoả thân này có vài ba tấm hình hở ngực đã được đem ra trưng bày trong buổi triển lãm vừa qua. Tôi còn lưu giữ những tấm ảnh này nhưng chỉ đưa ra ba tấm ảnh hở ngực còn những tấm kia hoàn toàn trần trụi và mang đầy vẻ dung tục.

Theo tôi, việc đem những tấm ảnh hở ngực trưng bày chen lẫn với những tấm ảnh và bưu thiếp đứng đắn về Hà Nội xưa dễ làm người xem lầm lẫn. Điều tai hại là hậu ý tạo nên cái nhìn sai lạc về một văn hoá và lịch sử của một dân tộc. Ai xem xong cũng tưởng thời ấy phụ nữ Việt ta bệ rạc bên bàn hút, nhếch nhác thả ngực trần như vậy kể cả lúc quang gánh lao động.

Điều đau lòng hơn là người Pháp đã dùng những tấm hình ngực trần ấy làm bưu thiếp. Ngày ấy bưu thiếp rất phổ thông và đa dụng. Người ta sử dụng bưu thiếp với nhiều mục đích như phát triển nghệ thuật, thương mại như du lịch và chính trị như truyền bá một tư tưởng nổi loạn hay hình ảnh một lãnh tụ.

Với một ý đồ chính trị là khai thác chiếc yếm bỏ ngỏ, người Pháp đã dùng những tấm bưu thiếp này lăng nhục phụ nữ Việt Nam như một dân tộc thuộc địa mọi rợ. Nó cũng có tác dụng lôi cuốn đàn ông Pháp càng thấy thích thú hơn trên con đường nhập ngũ viễn chinh qua Việt Nam.

Bàn rộng thêm một chút về chiếc áo yếm xưa

Thực ra, đôi bờ vú luôn luôn là niềm hãnh diện của phụ nữ, là niềm hoan lạc của phái nam, mà cũng là thức ăn thiên nhiên dinh dưỡng vô bờ của trẻ nhỏ. Chiếc yếm che ngực đã được tạo ra như một trang phục truyền thống không những để che thân mà còn là một vật làm đẹp (yếm lụa, yếm gấm) cho các phụ nữ khá giả có tiền, có của.

Việc kín/hở hay cởi /mặc áo yếm đã móc ngoặc vào đức hạnh các phụ nữ như một đặt để trói buộc vô hình. Người đàn bà Việt Nam bị các ông đồ Nho bắt phải đậy, các ông Tây buộc phải cởi, thật là tội cho họ. Họ phải câm khi bị lăng mạ, bị bóp cổ, bị hành hạ, đánh đập, giết chóc, đối xử phi nhân như một món đồ chơi mà không có chọn lựa, không có tiếng nói. Sống mà như hấp hối, không cười, không vui, cô thế và cô đơn.

Đã thế, nỗi thống khổ của cái nghèo, cái sợ, cơn đói kinh niên, áp lực chồng con theo đuổi họ mãi như cái bóng thiết tha nhất. Họ sống lặng lẽ như những bóng ma. Nhưng khác với bóng ma ở chỗ họ kiên cường phục vụ chồng, nuôi nấng con cái và nhất là hy sinh mạng sống lúc cần phải hy sinh. Như câu chuyện của bà nội tôi, của người đàn bà trong truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng.

Pascal có một suy tưởng, viết tóm tắt như thế này: “Con người, ai cũng có dĩ vãng, kỷ niệm là dĩ vãng của một cá nhân. Quốc gia nào cũng có dĩ vãng, lịch sử là một dĩ vãng của một dân tộc! Cá nhân, ai cũng yêu kỷ niệm của mình thì dân tộc nào cũng phải yêu lịch sử của họ.”

Tôi là một công dân Việt Nam, dù dĩ vãng dân tộc tôi thế nào, tôi vẫn yêu mến lịch sử dân tộc tôi. Dù những hình ảnh phụ nữ Việt Nam xưa bị lăng nhục như thế nào tôi vẫn yêu mến họ. Những người đàn bà yếu đuối kia là tổ tiên tôi, họ là mẹ là bà cố, bà sơ của người Việt chúng ta hiện nay, dưới bất cứ hoàn cảnh nào (kể cả khi lịch sử bị bẻ cong) chúng ta cũng cần phải yêu quý họ, phải không các bạn?

 

Tài liệu tham khảo:

Kiều Chinh, “Lý lịch bằng ảnh của một thuộc địa”

Dân Hùng, “Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa”

© 2010 Trịnh Thanh Thủy

© 2010 talawas

Source: http://www.talawas.org/?p=16077

 

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Xóm đạo Tha la

Xóm đạo Tha la
Copy từ http://www.thegioivohinh.com/diendan/showthread.php?t=22926 ; đăng ngày21/01/11 ,do nick name "Hết xài" đưa lên,mục Đạo Thiên chúa .
Tha La là một địa danh thuộc ấp An Hội xã An Hòa, huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh.
Nơi đây có 1 xóm đạo mà bà con theo đạo Thiên Chúa lâu đời nhất Tây Ninh, lịch sử họ đạo đã có trên 160 năm.
Có 1 xóm đạo Công giáo giữa vùng Thánh địa đạo Cao Đài Tây Ninh
Theo sách Tây Ninh Xưa và Nay của tác giả Huỳnh Minh, xuất bản năm 1972 thì vào cuối thời Minh Mạng, khoảng 1840, có một nhóm giáo dân độ vài chục gia đình được cha Cosimo Trí dìu dắt, chạy nạn tới khu rừng Tha La, khai quang lập ấp xây dựng cuộc sống, đồng thời cố gắng bảo tồn gốc đạo và niềm tin. Để tránh sự theo dõi và phát giác của viên chức triều Nguyễn đang ở thời kỳ e ngại đạo ngoại lai khiến bị theo dõi, những buổi lễ thường phải lưu động. Một tàn cây cổ thụ, một mái lá đơn sơ, hoặc túp liều tranh ủ dột cũng mang đủ ý nghĩa và mang tính chất của cái nhà thờ. Nhiều lúc phải làm lễ ban đêm. Khắp vùng xã An Hoà xưa hầu như đều có dấu chân của con Chúa. Cha chủ chiên Cosimo Trí đã thấp một ngọn nến giữa rừng âm u, vừa khai hoang lập ấp vừa ẩn náu, vừa mưu sinh, vừa khai sáng nguồn suối tâm linh tươi mát cho các con chiên, để nó trôi chảy cho đến ngày hôm nay. Nếu triều đình có lệ phong thần cho những vị có công khai làng mở mang bờ cõi thì chính cha Trí cũng là vị rất xứng đáng được phong Thánh Hoàng bổn cảnh của dân chúng An Hoà.
Sau năm 1863, khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Nam Nam kỳ thì hoàn cảnh thuận tiện hơn. Việc truyền đạo Chúa được nhà cầm quyền Pháp khuyến khích và giúp đỡ. Giáo dân gom tụ lại Tha La đông hơn và họ đạo Tha La được chính thức thành lập, trực thuộc Toà Thánh La Mã. Nhà thờ có nơi cố định, đầu tiên được xây cất, với vật liệu đơn sơ. Từ điểm nầy, các vị cha tiếp nối đi đến các địa phương khác để truyền đạo và lập thêm xứ đạo mới. Ngày nay ở Tây Ninh, đạo Công Giáo vẫn phát triển song hành với các tôn giáo khác. Đi đâu cũng thấy nhà thờ, ngay cả vùng thánh địa Cao Đài cũng có.
Vì nhờ sự cho phép của người Pháp họ đạo Tha La phát triển ngày càng mạnh mẽ và vững vàng. Vào đầu thế kỷ 20 nhà thờ được xây cất qui mô hơn. Tuy vậy người Công Giáo Tha La không quay lưng lại với dân tộc. Chúng ta không đủ tài liệu để biết Tha La có tham gia phong trào Cần Vương và Văn Thân chống Pháp hay không, nhưng chắc chắn vào mùa Thu năm 1945, thanh niên Tha La, nhất là thành phần trí thức đã tích cực tham gia phong trào kháng chiến ở đất Nam Kỳ. Và chính thời điểm nầy, nhà thơ Vũ Anh Khanh cũng gia nhập đi theo phong trào kháng chiến, ông đã làm bài thơ để đời, trong đó có những câu cho thấy rằng người Tha La đã đặt tình yêu quê hương tổ quốc lên trên hết:
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. ờ...Ơ...Hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Tha La qua thi ca và âm nhạc: Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh...">
Mặc dù đã có lịch sử lâu đời nhưng xóm đạo Tha La chỉ được mọi người thực sự biết đến khi nhà thơ Vũ Anh Khanh(sinh năm 1926 tại Phan Thiết Bình Thuận, mất năm 1956) sáng tác bài thơ "Tha La xóm đaọ" sau khi ông đến thăm Tha La.
Tác phẩm của ông gồm có: truyện dài Nửa bồ xương khô, Bạc xíu lìn, Cây ná trắc, truyện ngắn có Đầm ôrô, Ngũ Tử Tư, Sông máu, Bên kia sông. Tác phẩm của Vũ Anh Khanh có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng Pháp ở Nam Bộ. Nhưng, dường như nhiều người chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ Tha La xóm đạo:
"Đây Tha La xóm đạo,
Có trái ngọt, cây lành.
Tôi về thăm một dạo,
Giữa mùa nắng vàng hanh,
Ngậm ngùi, Tha La bảo:
- Đây rừng xanh, rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng
Đây Tha La một xóm đạo ven rừng.
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây! Khách hỡi! Có ai chờ?
Ai đưa đón?
Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi: - Khách buồn nơi đây vắng?
- Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn.
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít,
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch.
Gặp cụ già đang ngắm gió bâng khuâng
Đang đón mây xa... Khách bỗng ngại ngần:
- Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng: "Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi, đau đất nước lầm than".
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. Ờ... ơ... hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh
Ờ... ơ... hơ... Có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
- Lạy đức Thánh Cha!
Lạy đức Thánh Mẹ!
Lạy đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...
Rồi... cởi trả áo tu,
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân,
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang,
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
Ờ... ơ... hơ... Ờ... ơ... hơ... Tiếng hát;
Rung làm lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc,
Buồn tênh hênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách quá đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dâng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh..."
Trước năm 1975, nhạc sĩ Dũng Chinh đã phổ nhạc bài thơ Tha La xóm đạo. Ca sĩ Giao Linh hát bài này
Nhạc sĩ Sơn Thảo cũng phổ bài thơ thành ca khúc Hận Tha La, ca sĩ Thanh Tuyền hát.
Viễn Châu, một soạn giả cải lương nổi tiếng cũng đã mượn ý và lời bài thơ của Vũ Anh Khanh để viết tình khúc tân cổ giao duyên Tha La xóm đạo, nghe nghệ sĩ Thành Được hát , ngoài ra Chí Tâm cũng có thể hiện bài tân cổ Hận Tha La
Thành công của những ca khúc, tình khúc phổ từ bài thơ đã tạo cho bài thơ Tha La xóm đạo ngày càng bay bổng, vang xa, lan tỏa rộng hơn.
1 số hình ảnh về xóm đạo Tha La (10 ảnh)
Không có ghi chú cho hình trên, nhưng có vẽ như đang chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh.
Không có ghi chú cho hình trên.
Không có ghi chú cho hình trên.
hình ảnh trong ngày lễ lớn 1/11 ở xóm đạo Tha La
hình ảnh trong ngày lễ lớn 1/11 ở xóm đạo Tha La
hình ảnh trong ngày lễ lớn 1/11 ở xóm đạo Tha La
hình ảnh trong ngày lễ lớn 1/11 ở xóm đạo Tha La
Họ đạo Tha la-Ảnh của Vinh-SaiGon.
Tha La - Trảng Bàng- lễ nguyện cầu cho những linh hồn đã mất.
Tha La by Night-Tuy không theo đạo nhưng tôi vẫn cảm nhận được sự ấm áp, sự gần gũi giữa những người đã khuất với những người còn sống. Trong ngày đầy ý nghĩa này mọi người trong bất cứ gia đình nào dù ở đâu cũng trở về vây quần bên nhau , xua đi cái lạnh lẽo của nghĩa trang, họ cùng nhau thắm những ngọn nến lung linh trên mộ người thân của họ. Cả nghĩa trang Tha La như bừng sáng bởi những ngọn nến ấy. Tha La đêm nay bỏng trở nên nhộn nhịp , sôi nổi, thắm đậm tình làng xóm , tình người để những người ngoại Đạo như tôi không cảm thấy lạc lõng.Rolleiflex 2.8E Fujipro 160s out date 2008 convert BW//Xóm đạo Tha La,Ấp An Hội - xã An Hòa-huyện Trảng Bàng - Tây Ninh 1-11-2011
Tha La by Night
Tha La - nguyện cầu. Ảnh của Tamngu/
Tha La - cõi tâm linh.
Tha La bynight ảnh của clicking.
(Tổng hợp sưu tầm từ nhiều nguồn trên internet)

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Thanh Nga (Tổng hợp các bài viết -1)

Thanh Nga (Tổng hợp các bài viết -2)
Copy từ http://www.vietdongtam.net/showthread.php?t=3998; đăng ngày 15/01/11, mục Điện ảnh - Diễn viên điện ảnh - Việt Nam.
Bài viết của các tác giả: Mai Quân, Liêu Giang, Lê Quang Thanh Tâm, NSƯT Bạch Tuyết, Hồ Quang, Thanh Thanh, Thanh Vân, Lê Huy…
Thanh Nga- Nữ Hoàng Sân Khấu
Từ lúc 10 tuổi, Thanh Nga bắt đầu ca vọng cổ phụ họa và rất thành công trên sân khấu Thanh Minh, do nghệ sĩ Năm Nghĩa – dưỡng phụ của Thanh Nga – làm bầu gánh.Nhờ nhạc trưởng Út Trong của đoàn Thanh Minh rèn luyện cho nhiều bài bản cổ nhạc, Thanh Nga được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt khi bắt đầu chính thức diễn trên sân khấu khi mới 12 tuổi qua vai đào con trong các tuồng như Phạm Công Cúc Hoa, Đồ Bàn Di Hận, Lửa Hờn…Biệt hiệu “Thần Đồng Thanh Nga” có từ giai đoạn này.
Rèn luyện cho chín mùi, cô bước vào vai chính đầu tiên lúc 16 tuổi: Vai Sơn Nữ Phà Ca trong tuồng “Người Vợ Không Bao Giờ Cưới”..
Nỗ lực dìu dắt tận tình tiếp theo của những nghệ sĩ bậc thầy như Năm Châu, Phùng Há, Kim Cúc, Cô Ba Thanh Loan…giúp Thanh Nga - với sắc đẹp dịu dàng, lộng lẩy, quyến rũ cùng lối ca diễn truyền cảm đặc biệt – đã mãi gây ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn giới mộ điệu qua những vai kế tiếp như Xuân Tự trong tuồng “Áo Cưới Trước Cổng Chùa”, Giáng Hương trong “Sân Khấu Về Khuya”, Diệp Thúy trong “Đôi Mắt Người Xưa”, Uyên trong “Ngã Rẽ Tâm Tình”, Trinh trong “Con Gái Chị Hằng”, Mía trong “Bọt Biển”…Từ lúc lên sân khấu lúc 8 tuổi với vai diễn đầu tiên là Nghi Xuân trong vở “Phạm Công Cúc Hoa”. Mười năm sau bắt đầu được biết tới với vai Phà Ca trong “Người vợ không bao giờ cưới” của sọan giả Kiên Giang cô đã làm cho khán thính giả xúc động theo mối tình ngang trái của nàng Phà Ca và chàng Kiểu Mộng Long – con của Sứ Quân Kiểu Thuận ở đất Sơn Tây. Chính lối ca chân phương và cách diễn thật thà, chân chất mà Thanh Nga đã xuất sắc trong vai này.
Thanh Nga bước thẳng đến đài vinh quang trở thành nghệ sĩ đoạt huy chương vàng đầu tiên của Giải Thanh Tâm, khi ở tuổi 16. Có lẽ khó có ai ca diễn hay hơn nữ nghệ sĩ tài danh nhưng hồng nhan bạc mệnh này qua những vai người phụ nữ trong cảnh đời ngang trái, trớ trêu; trong xã hội đầy dẫy bất công, thiếu tình người và sẵn sàng khai thác, vùi dập những cô gái lỡ mang kiếp đọan trường, bất hạnh. Vở tuồng “Tiếng Trống Mê Linh” là một vở tuồng kinh điển của cải lương sau năm 1975. Đoàn Thanh Minh Thanh Nga vẫn tiếp tục khẳng định được phong cách của thương hiệu mình, vào giai đoạn này, tài năng của nghệ sĩ Thanh Nga đã chín muồi.
Thanh Nga cũng có nhiều thể nghiệm khác dưới ánh đèn sân khấu hoặc vô tuyến truyền hình. Đầu năm 1970 Thanh Nga làm cho giới nghệ thuật và khán giả phải nể phục và chú ý khi sáng tác tuồng theo ch ủ đề “Không” tung lên màn ảnh nhỏ truyền hình Sài Gòn.Từ loạt vở này, Thanh Nga được mọi người đặt thêm biệt hiệu “Người đẹp không tên”.Diễn cải lương cho đoàn nhà, Thanh Nga còn là gương mặt sáng trên Truyền hình Sài gòn.Khi đóng kịch lúc diễn cải lương. Ngoài ban Thanh minh- Thanh Nga, cô còn hợp tác diễn chính cho các ban Kiều Mai Lý, ban Phụng Hảo trong các vở như: “Người thua cuộc” của soạn giả Nguyên Thảo(diễn chung với Hùng Cường, Kiều Mai Lý, Bảo Quốc…), “Yêu trong mộng tưởng”của soạn giả Trần Qụân(diễn với Dũng Thanh Lâm, Thanh Sang, Bạch Lê, Bảo Quốc…”…
Ở bộ môn kịch nói, Thanh Nga cũng rất duyên dáng và điệu nghệ không kém gì so với bộ môn cải lương. Có cả những vở kịch cô hóa thân làm gái hippi, hoặc thủ vai nữ chúa của một băng đảng, lái motocycle trong bộ y phục nóng bỏng, gọn gàng thời trang, khác hẳn khi cô yểu điệu tha thướt trên sân khấu cải lương. Mái tóc cô được cột ra phía sau bằng một giải lụa dài. Vòng chân bước ra khỏi chiếc motocycle, cô dùng tay rút chiếc khăn buộc tóc và xổ tung mái tóc một cách rất điệu nghệ. Trông cô giống như một trong những người đẹp của điệp viên hào hoa 007 James Bond.
Sau thành công rực rỡ qua vai diễn đầu tiên trong phim nhựa mầu “Đôi Mắt Người Xưa” hồi đầu thập niên 60, Thanh Nga đã trở thành một trong những minh tinh màn bạc xuất sắc ở Miền Nam trước năm 1975, qua những cuốn phim khác như: Hai Chuyến Xe Hoa, Mùa Thu Cuối Cùng, Bụi Phấn Hồng, Thương Muộn, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang, Xa lộ không đèn, Nắng chiều, Lan và điệp, Loan mắt nhung, Mãnh lực đồng tiền, Người cô đơn…
Khi địa vị của Thanh Nga không những sáng chói trên sân khấu mà còn bận rộn với liên tục hợp đồng đóng phim, Thanh Nga vẫn dành cho sân khấu sự ưu tiên số một trong chọn lựa. Sân khấu là nơi Thanh Nga đón nhận nhiều tiếng vỗ tay với hàng trăm vở diễn thành công khác như “Sắc đẹp nàng vô tội” (của Nguyễn Liêu), “Mưa rừng” (của Hà Triều - Hoa Phượng), “Gió ngược chiều” (của Nguyễn Thanh Châu), “Hoa Mộc Lan”, “Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài”, “Mạnh Lệ Quân”, “Dương Quý Phi”, “Tiếng Hạc Trong Trăng”, “Giữa Chốn Bụi Hồng”, “Mộng Bá Vương”, “San Hậu”, “Phụng Nghi Đình”, “Đời Cô Lựu”, “Sau Ngày Cưới”, “Truyền Thuyết Về Tình Yêu”, “Bóng Tối và Ánh Sáng”, “Tấm Lòng Của Biển”, “Bên Cầu Dệt Lụa”..
Thanh Nga lúc nhỏ có tên là Juilette Nga, được Dưỡng phụ Năm Nghĩa gởi cho học trường Ðầm và từ đó mà sau này cô có một số bạn bè thuộc gia đình khá giả, quí phái, dù rằng cô chỉ là con của một nghệ sĩ, một bầu gánh hát cải lương. Trong số những người bạn của Thanh Nga có cô gái con của một nhà đại tư bản, vẫn thỉnh thoảng liên lạc biếu tặng những món quà giá trị, và đáp lại thì Juilette Nga cũng gởi tặng vé hát, dù rằng lúc nhỏ cô chưa lên sân khấu. Sự quen biết kéo dài theo thời gian cho đến khi Thanh Nga lớn lên được đào tạo trở thành đào hát cải lương cũng vẫn còn tiếp tục, chớ không phân biệt được giữa con nhà đại tư bản và con của đào kép hát cải lương.Nếu giải Thanh Tâm đưa “Phà Ca” sáng lên như ngôi sao mới mọc (1958), thì cũng đưa vào đời một Thanh Nga bắt đầu biết mộng mơ biết làm thơ. Và những lời đồn đại, cả giấy mực viết ra, là có thật về chuyện Thanh Nga có người yêu đi vào chiến khu theo Cách mạng, tâm đầu ý hợp với anh chàng ạn diễn Út Hậu, hay mối tình thầm kín của Thanh Nga và soạn giả Hà Triều năm lên 18… Mối tình thầm kín của Hữu Phước dành cho Thanh Nga, đến ngày trở thành đôi tình nhân đẹp trên sân khấu với NS Thành Được, cuộc hôn nhân tan vỡ đầu tiên với người đàn ông tên Mẫn… Hồng nhan bạc phận…Bà phải sống những ngày đoạn trường và đối mặt với dư luận cay nghiệt của một đời nghệ sỹ . Những rắc rối không đâu cứ ùa đến, có cả việc vu oan, tố cáo. Từ chỗ tưởng như ngã quỵ, Thanh Nga chỉ còn tình yêu sân khấu, thành công nối tiếp thành công đã giúp cô đứng lên với một người bạn bên cạnh, tay trong tay đến giờ phút cuối cùng trong cuộc đời: ông Phạm Duy Lân.
Thanh Nga là người tin số mệnh và đa cảm. Bà và ông Lân không sinh cùng ngày, nhưng chết cùng giờ, thậm chí cách nhau chỉ vài phút, cùng một chỗ, một tình cảnh và một hung thủ lạ mặt, cứ y như ứng với câu thơ tiền định: Anh và em sống giữa cõi mây này. Chẳng có lúc nào chẳng nhớ nhau. Như mây bay mãi, bay bay mãi. Sinh chẳng cùng năm - nguyện chết cùng ngày... Năm 1960, hay 1961 đạo diễn Hoàng Anh Tuấn làm bộ phim truyện có tựa "Hai Chuyến Xe Hoa"(đây cũng là một trong những vở cải lương nổi tiếng của NSUT Thanh Nga). Vai nữ chánh của cuốn phim là Thanh Nga.
Ðúng là nhân vật nó vận vào mình. Thanh Nga, không những một đời chỉ có 2 chuyến xe hoa…Những câu chuyện về “mùi hương” của Thanh Nga, mà vào thời đó ngay cả chính cô cũng thắc mắc tại sao người ta cứ hỏi cô về dầu thơm, là món mà dù là nghệ sĩ, cô cũng chẳng hề để ý.
Số là khoảng 1961 lúc đoàn Thanh Minh lưu diễn ở vùng Cao Nguyên Trung Phần, mà chặng đầu tiên là thành phố Ban Mê Thuột, hát tại rạp Tường Hiệp và Thanh Nga thì ở khách sạn Darlac gần đó. Cũng cùng thời gian này thì có một phu nhân giầu có từ Ðà Lạt sang thăm đồn điền cà phê ở Ban Mê Thuột, và cũng ở tại khách sạn nói trên. Hai phòng cạnh nhau ở trên lầu, và bà chủ khách sạn lại là chị em với bà phu nhân này, và sẵn thấy Thanh Nga ở trong phòng đang mở cửa, bà chủ khách sạn mời cô sang giới thiệu với bà phu nhân giầu có. Lúc bà chủ rời phòng thì Thanh Nga vẫn còn ở lại nói chuyện, đến chừng khi chồng bà phu nhân về thì hai ông bà tiếp tục trò chuyện với Thanh Nga về hoạt động cải lương thêm một lúc, cô mới về phòng của mình. Không biết mùi hương của Thanh Nga kỳ diệu ra sao, thu hút phái nam như thế nào, mà sau đó bà phu nhân tìm hỏi Thanh Nga xài loại dầu thơm gì chỉ cho bà mua, và Thanh Nga trả lời là cô không có xài thứ gì cả. Tưởng đâu cô đào cải lương giấu để xài một mình, bà phu nhân mới nhờ bà chủ khách sạn giúp cho, nhưng rồi bà ấy cũng thất bại luôn.Vấn đề Thanh Nga xài loại nước hoa đặc biệt, hay thân thể của cô thoát ra mùi hương là một trong những huyền thoại về người Nữ Hoàng sân khấu cải lương này.
Thanh Nga có sở thích là “sưu tầm búp bê”.Trong nhà của nữ nghệ sỹ này có rất nhiều búp bê đủ kiểu đủ loại. Đó là những chiến tích mà Thanh Nga sưu tầm được sau những chuyến lưu diễn, những chuyến xuất ngoại và của những khán giả ái mộ tặng cô.Thanh Nga rất sợ con dán.Từ hồi nhỏ, mỗi khi ai muốn hù dọa Thanh Nga thì cứ đem dán ra. Chắc chắn sẽ làm Thanh Nga chết khiếp. Lúc sinh thời, Thanh Nga thích mặc áo dài, áo bà ba, thích mầu vàng.Thanh Nga có thói quen là thích bộ trang phục nào là cứ bận hoài một kiểu. bận rồi giặt, giặt xong lại bận tiếp.Thanh Nga là người rất chăm chút đến kiểu tóc và bới tóc mỗi khi lên sân khấu, đóng phim hoặc chụp ảnh.
Thanh Nga rất thích làm bếp, nấu ăn, nhất là làm bánh.Mỗi dịp rãnh là cô gọi anh, em và cháu đến nhà nấu ăn hay làm bánh đãi mọi ngư ời. Lúc Cải lương gặp khủng hoảng khoảng thời gian năm 1972, cô còn làm bánh cho em và cháu đi bán.Thanh Nga là người rất tin đấng bề trên. Cô thờ Phật mà cũng tin vào Chúa.Mỗi khi gặp chuyện buồn hoặc bế tắc, cô đều cầu cả Phật và Chúa.
Thanh Nga bày tỏ quan điểm của mình về phụ nữ như sau: “Phụ Nữ cái gì tốt cũng nên học tập để biết”. Theo Thanh Nga đó là điều cần thiết
Có một Thanh Nga- “Ngôi sao điện ảnh”
Không nên ca ngợi nền điện ảnh Việt Nam trước năm 1975, vì đó là một nền điện ảnh ít giá trị, mang nặng tính chất thương mại và lệ thuộc, nhưng rõ thật cũng có những thành tựu xuất sắc của một thời rực rỡ nếu so với các nước trong khu vực. Nền điện ảnh Miền Nam Việt Nam thời đó hơn Thái Lan, Singapore, Philipine… có thể ngang với Đài Loan, Hàn quốc. “Minh tinh” thời đó có nữ tài tử Thẩm Thúy Hằng, Bạch Tuyết, Kiều Chinh, Kim Cương, Mộng Tuyền, Khánh Ngọc, Kim Vui…và Thanh Nga.
Sau thành công rực rỡ qua vai diễn đầu tiên trong phim nhựa mầu “Đôi Mắt Người Xưa” hồi đầu thập niên 60, Thanh Nga đã trở thành một trong những minh tinh màn bạc xuất sắc ở Miền Nam trước năm 1975, qua những cuốn phim khác như: Hai Chuyến Xe Hoa, Mùa Thu Cuối Cùng, Bụi Phấn Hồng, Thương Muộn, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang, Xa lộ không đèn, Nắng chiều, Lan và điệp, Loan mắt nhung, Mãnh lực đồng tiền, Người cô đơn. ..Phim làm ra thời kỳ này yếu tố ăn khách là hàng đầu.
Thanh Nga trong “Xa lộ không đèn” cũng có những câu chuyện rất vui. Tất nhiên, muốn ăn khách, trong phim phải có một chút “sex” cho nó ươn ướt, đó là đoạn Thanh Nga sau khi bị …bề hội đồng, đã tiếp tục rơi sâu hơn trong hố trụy lạc của cuộc đời và trở thành một vũ nữ sexy. Thanh Nga, thần tượng của hàng triệu khán giả Nam Bộ, mà lắc lắc bụng, ẹo mông là hết ý rồi, vì từ trước tới nay, coi Thanh Nga diễn tuồng trên sân khấu, quần áo năm bẩy lớp kín mít đừ đầu tới chân, làm sao mà biết dưới những lớp áo đó có cái gì. Tất nhiên, một đại tài danh như Thanh Nga, làm sao chịu “tụt” cho ĐD Hoàng Anh Tuấn quay được, nhưng với xảo thuật chắp vá của điện ảnh, cái đó không thành vấn đề, đầu Thanh Nga đít người ta là chuyện dễ ợt. Vì thế, Đạo Diễn Tuấn cần một figurante, một em hình nhân thế mạng để diễn tả ph ía sau của Thanh Nga. Ông Hoàng Anh Tuấn quay phim biết là chuyện ngụy tạo ráp nối, còn những tín đồ của Thanh Nga làm sao mà biết được, chuyện “đầu với đít tuy hai mà một, đít với đầu tuy một mà hai”.
Xem xong Xa Lộ Không Đèn khán giả ái mộ tất phải đinh ninh “bên trong” Thanh Nga là vậy đó!!!
Người “đóng thế” Thanh Nga tên là Lệ Tuyền. Cô này làm nghề vũ nữ ở Đệ Nhất khách sạn. Lệ Tuyền cũng khuôn mặt trái soan bầu bầu, nước da mịn màng, trắng toát…vòng số 1, số 2, số 3, đều đúng chỉ số, mà ăn nói lại hiền lành nhỏ nhẹ.Tới lúc quay, tuy là vũ nữ nhưng cô em cũng không chịu cởi, và ĐD Tuấn đã phải vận dụng tối đa nghề nói phét để thuyết phục. Mọi nguời bị đuổi ra hết, trong phòng chỉ còn lại ĐDTuấn, cameramen và cô nàng ĐD Tuấn nói đại khái: “Em phải hiểu là mình đang làm nghệ thuật, nghệ thuật là trong sạch tuyệt đối. Đối với anh lúc này, em chỉ là một tài tử của anh, không phải là một người đàn bà, anh nhìn em cũng như ống kính nhìn những nét đẹp của em thôi...” Và khi phim chiếu, khán giả chỉ thấy thân hình thật đẹp của một vũ công và nháng nháng gương mặt của Thanh Nga nhưng không thấy Lệ Tuyền đâu cả.… Lúc quay phim “Xa Lộ Không Đèn”, Lệ Tuyền khoảng trên duới 20 tuổi.Trong những báo ngày trước, thường có những truyện tiểu thuyết bằng hình (photo romance).
Để đền bù chuyện Thanh Nga mượn thân hình trình diễn, Lệ Tuyền đóng truyện bằng hình tuy không ngọ nguậy được nhưng ít nhất thiên hạ cũng biết tới mặt đẹp của cô và dùng làm bậc thang đầu tiên trong nghề điện ảnh vậy.
Kịch sĩ Ngọc Phu trong một cuộc phỏng vấn tại Hải Ngoại, khi nhận xét về các nữ diễn viên điện ảnh trước năm 1975 có nói:
“Đối với tôi, diễn viên Việt Nam, người diễn xuất được, có thể nói chỉ có một mình cô Thanh Nga thôi. Đóng với Thanh Nga bốn phim tôi thấy, cô nhập vai và dẫn mình theo cô, đúng như nhân vật đó. Thí dụ như cô đóng vai cô bán hàng, là đúng cô bán hàng, tư cách của cô bán hàng. Cô đã lột mình đi, bỏ cái mình ra, để hoàn thành đúng với vai diễn” .
Và, xem chừng như tương phản với những vai buồn trên sân khấu cải lương, nữ minh tinh Thanh Nga trên màn bạc còn thu hút khán giả ciné qua những vai vui trong các phim hài, bên cạnh những danh hài như hề râu Thanh Việt, Phi Thoàn, Tùng Lâm, Xuân Phát, Thanh Hoài nh ư các phim “ Năm vui hề về làng”, “Sợ vợ mới anh hùng”, “Tam quái túc cầu”, “Triệu phú bất đắc dĩ”, “Quái nữ Việt quyền đạo” .Bạn bè của gia đình Thanh Nga nhận xét: "Thời kỳ này, có thể gọi là hạnh phúc nhất của Thanh Nga: tiền tài, danh vọng, mái ấm gia đình... đều có đầy đủ".
Rồi Thanh Nga trở thành một trong những diễn viên xuất sắc ở miền Nam và là "diễn viên xuất sắc nhất” tại đại hội điện ảnh Á Châu tổ chức năm 1973 tại Đài Bắc với vai cô gái Huế trong phim “Nắng chiều”, là đại diện gương mặt nữ duy nhất trong đoàn tham dự đại hội điện ảnh Ấn Độ năm 1969, được cố Thủ tướng Indira Gandhi đón tiếp , có hình ảnh đăng đầy trên báo chí Ấn Độ. Thanh Nga vẫn còn đó trong những thước phim lưu giữ tại các viện lưu trữ ở Tokyo, Paris, Hồng Kông.
Thanh Nga cùng Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Cương, là 4 gương mặt diễn viên tiêu biểu, mỗi người với thế mạnh riêng đã đóng phim nhiều nhất tại miền Nam (trước 1975). Với tài nghệ, vẻ đẹp đài các và thanh tú, Thanh Nga in đậm trong trí nhớ khán giả qua phim “Loan mắt nhung” của đạo diễn Lê Dân, dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Thụy Long, nhân vật nữ chính bị đẩy vào cái chết bi thương.
Sau giải phóng miền nam, trã lời phỏng vấn trên báo chí tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà nội, Thanh Nga đã có lần bày tỏ ước muốn được tham gia diễn xuất trong những vai diễn của nền điện ảnh Cách Mạng.Có những đạo diễn miền Bắc đã lên kế hoạch mời Thanh Nga đóng phim như Đạo diễn Trần Phương, đạo diễn Hải Ninh…Sự ra đi đột ngột và vĩnh viễn của Thanh Nga đã làm cho cơ hội thử sức qua những vai diễn của nền điện ảnh xã hội chủ nghĩa không còn. Sau năm 1975, Thanh Nga chỉ kịp diễn xuất trong 2 bộ phim quay sân khấu hóa là “Làm lại cuộc đời”( phim 35 ly) và “Tiếng Trống Mê Linh”(phim 16 ly).Bộ phim “Làm Lại Cuộc Đời”, sau ngày Thanh Nga mất mới có dịp chu du khắp nơi phục vụ bàn con trên khắp mọi miền đất nước

Nữ nghệ sĩ Thanh Nga

Nữ nghệ sĩ Thanh Nga
Copy từ http://www.vietdongtam.net/showthread.php?t=3998; đăng ngày 15/01/11, mục Diễn viên điện ảnh - Việt Nam - Thanh Nga; do nick tranchau đưa lên.
Thanh Nga (1942-1978) là nghệ sĩ cải lương được coi là nổi tiếng nhất, tài sắc vẹn toàn nhất. Cô được mệnh danh là "nữ hoàng sân khấu".
Tiểu sử
Tên thật: Juliette Nguyễn Thị Nga
Sinh ngày: 31 tháng 7 năm 1942
Nơi sinh: Tây Ninh
Nguyên quán: Tây Ninh
Cha: Nguyễn Văn Lợi
Mẹ: Nguyễn Thị Thơ (bà bầu Thơ, trưởng đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng một thời)
Tôn giáo: Phật giáo (pháp danh: Diệu Minh)
Thanh Nga kết hôn hai lần, lần đầu với ông Nguyễn Minh Mẫn (sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa), lần sau với ông Phạm Duy Lân (luật sư). Cô có 1 con trai (với ông Lân) là Phạm Duy Hà Linh (sinh 1973, nay là nghệ sĩ hài kịch).
Gia đình cô còn có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như:
Năm Nghĩa (cha dượng)
Bảo Quốc (em cùng mẹ khác cha)
Hữu Châu (con của nghệ sĩ Hữu Thìn, anh ruột của Thanh Nga)
Cô bị ám sát cùng chồng ngày 26 tháng 11 năm 1978 tại Sài Gòn, được an táng tại nghĩa trang chùa Nghệ Sĩ.
Giải thưởng tiêu biểu
1958: Giải Thanh Tâm triển vọng (vai sơn nữ Phà Ca, vở Người vợ không bao giờ cưới)
1966: Giải Thanh Tâm xuất sắc (vai Giáng Hương, vở Sân khấu về khuya)
Các vai diễn nổi tiếng khác
Quỳnh Nga (Bên cầu dệt lụa)
Vân (Bóng tối và ánh sáng)
Dương Vân Nga (Thái hậu Dương Vân Nga)
Trưng Trắc (Tiếng trống Mê Linh)
Thanh Nga cũng tham gia nhiều phim, nổi tiếng nhất là:
Đôi mắt người xưa (vai Diệp Thúy)
Hai chuyến xe hoa
Loan mắt nhung (Xuân) 1970
Mùa thu cuối cùng 1971
Nắng chiều (cô gái Huế)
Vết thù trên lưng ngựa hoang 1971
Lan và Điệp 1971
Sau giờ giới nghiêm 1972
Triệu phú bất đắc dĩ
Quái nữ việt quyền đạo
Thương muộn
Tìm lại cuộc đời 1977
Xa lộ không đèn (Liễu)
Năm vua hề về làng
Người cô đơn
Bia mộ nghệ sĩ Thanh Nga ở chùa Nghệ Sĩ, quận Gò Vấp.
Nghệ sĩ Thanh Nga - năm 1969.
Thanh Nga trong vở Sân khấu về khuya.
Hình Thanh Nga trên trang Khánh Ly

Thứ Bảy, 25 tháng 12, 2010

Chúc mừng Giáng sinh 2010.

Từ mấy tháng nay,máy tính ở nhà không vào acc ở google được.
Chiều nay vào mạng bằng máy tại nơi làm việc.
Ở nhà mình xài dịch vụ của viettel;máy ở trường xài VNPT.
(Có bạn nào giúp mình cách vào mạng không? Vào trang myopera.com cũng không được!)
Chúc mọi người một mùa giáng sinh:
BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM.


Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

Anh, em và tình yêu vượt qua cái chết

Anh, em và tình yêu vượt qua cái chết
Copy từ http://tuoitre.vn/Nhip-song-tre/Tinh-yeu-loi-song/352747/anh-em-va-tinh-yeu-vuot-qua-cai-chet.html, đăng ngày 13/12/09, mục Nhịp sống trẻ .
TT - “6g sáng thức dậy, Dương nấu đồ ăn sáng còn anh Vũ xếp mùng. Anh rất thích uống cà phê mình pha nên sáng nào Dương cũng chuẩn bị một ly cà phê. Còn anh tận tay pha sữa rồi ép mình phải uống hết mới đi làm” - Thùy Dương (25 tuổi, Q.8, TP.HCM) tươi tắn kể chuyện về gia đình nhỏ của mình trong căn nhà nhỏ ngập tràn nắng sớm mai ngày chủ nhật.
Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần
Sẽ không có những buổi sáng với tách cà phê đầy yêu thương và ly sữa dịu dàng như thế, nếu một năm về trước cô gái có nét đẹp mỏng manh ấy không vượt qua được căn bệnh tử thần cứ ngỡ chỉ có trong phim Hàn. Và nếu không có anh, một người tưởng như chỉ tồn tại trong cổ tích...
Sáu năm trước họ gặp nhau trong một lớp học tiếng Anh. Khi đó Minh Vũ đang là SV năm 3 ĐH Bách khoa TP.HCM, còn Thùy Dương mới là SV năm 1 Trường CĐ Kinh tế đối ngoại. Chàng đẹp trai, da ngăm, trầm tính. Nàng xinh xắn, nhí nhảnh và lúc nào cũng sôi nổi cười nói. Hai con người ở “mặt trăng” và “mặt trời” ấy không có ấn tượng gì đặc biệt về nhau. “Mặt trời” chỉ để ý đến sự hiện diện của “mặt trăng” khi chàng xuất hiện trong chiến dịch chinh phục của... ba cô bạn cùng lớp.
“Mặt trăng” và “mặt trời” yêu nhau, một tình yêu đến rất nhẹ nhàng sau những lần thảo luận tiếng Anh...
Đối mặt với tử thần
Cuối tháng 8-2007, Thùy Dương đột ngột nhập viện Bệnh viện Vạn Hạnh sau cơn đau bụng dữ dội. Bác sĩ gặp riêng Vũ và hỏi nhẹ nhàng: “Em có coi phim Hàn bao giờ chưa? Bạn gái của em có thể bị ung thư máu...”. Mắt Vũ tối sầm. Anh không tin Dương mắc căn bệnh khủng khiếp ấy. Vũ cố gắng trấn an mình: có thể họ sai sót trong kỹ thuật! “Tôi cố không tin Dương bị bệnh. Tôi hỏi rất nhiều người, nhất là những người bạn học y. Gặp ai tôi cũng thấp thỏm hi vọng họ trả lời rằng đó không phải là bệnh ung thư máu, rằng đó không phải là sự thật” - Vũ nhớ lại.
Sau đó Thùy Dương nhanh chóng được chuyển gấp qua Bệnh viện Truyền máu và huyết học TP.HCM. Bác sĩ khẳng định cô bị ung thư máu ác tính! Hi vọng yếu ớt kia sụp đổ. Vụn nát. Lần đầu tiên người đàn ông mạnh mẽ trong Vũ yếu đuối đến thế. Anh khóc. Anh đau đớn nghĩ đến trường hợp khủng khiếp nhất: nếu Thùy Dương ra đi, không biết quãng đời còn lại mình sẽ sống như thế nào?
Chiều tối, chị hai của Dương gặp riêng Vũ, nói trong nước mắt: “Dù em có định như thế nào thì xin em hãy vì tình cảm của hai đứa trước đây mà cố gắng giúp chị chăm sóc con bé trong thời gian này. Nếu em không còn bên cạnh, nó không vượt qua nổi đâu...”. Vũ khóc vì ức. Mọi người nghĩ anh sẽ rời xa Dương lúc này?
Đó là thời điểm Vũ đang làm luận văn cao học. Anh quyết định xin dời lại một học kỳ (tức một năm) để dành thời gian nhiều nhất bên cạnh Dương. Bài vở, tài liệu Vũ nhờ bạn bè photo giúp.
Cổ tích trong bệnh viện
Ròng rã suốt 5-6 tháng trời Thùy Dương nằm ở phòng cách ly của khoa ghép, bệnh viện trở thành nhà của Vũ. Ngày nào cũng thế, 6g sáng Vũ mua đồ ăn sáng cho Dương rồi đến công ty (ở Q.1) làm việc tới chiều. Tối học cao học. Học xong ào về nhà ở Q.Tân Bình tắm rửa sạch sẽ (để tránh mang vi khuẩn vào phòng bệnh nhân). 7g tối có mặt ở bệnh viện với phần ăn tối mua cho Thùy Dương.
Sau đó là khoảng thời gian kiên nhẫn bón từng thìa cháo, muỗng cơm, hớp nước cho Dương rồi ra hành lang học bài. 10g, 11g đêm đi ngủ. Hơn 1g, rồi 3g sáng lại dậy canh chừng Dương. Nhiều lúc tỉnh dậy thấy Dương không ngủ được vì đau, anh đến bên cạnh trò chuyện đến lúc cô ngủ mới an tâm ngủ tiếp.
“Những ngày Dương bị bệnh, tôi thấy mình được an ủi khi chăm sóc người mình yêu. Đêm nào cũng vậy, cứ mỗi lần giật mình mở mắt tôi cứ sợ Dương ngủ mãi không bao giờ dậy nữa...” - Minh Vũ không giấu được xúc động khi nhớ lại những khoảnh khắc chợt tỉnh giữa đêm khuya ấy.
Thùy Dương bảo nhiều buổi tối nhìn qua cửa kính thấy anh ngồi bệt xuống nền gạch học bài, lẻ loi giữa hành lang nhỏ hẹp, sâu hun hút trong ánh sáng hiu hắt, lạnh lẽo. Vừa thương anh vừa nghĩ đến bệnh tật của mình, Dương quặn thắt lòng... Dương quyết định chia tay. Cô muốn giải thoát cho tương lai mù mịt của hai người.
Anh vẫn lặng lẽ và kiên trì đến bệnh viện chăm cô như bao ngày. Anh bảo: “Thật sự có những lúc nản lắm chứ. Đó là những ngày sau đợt đánh thuốc đầu tiên tôi vào chăm. Dương bị nhiều triệu chứng phát sinh, sức đề kháng giảm hẳn, không ăn uống được. Xót lắm”.
Những bác sĩ, y tá, điều dưỡng ở bệnh viện không giấu được sự ngạc nhiên trước tình yêu rất đỗi sâu sắc và tấm chân tình đến khó tin của chàng trai 26 tuổi ấy. Họ kể những lần Thùy Dương bị lở miệng không ăn được, trong người nóng bừng bừng nên rất “đỏng đảnh”, khó tính. Vũ phải đi “săn” những chỗ bán đồ ăn ngon quanh thành phố! Mỗi tối lại đổi một món. Có khi họ thấy chàng trai vốn là con trưởng trong một gia đình miền Trung ấy từ 7g-9g tối phải chạy ra ngoài đến ba lần để mua xúp, cháo rồi hủ tiếu.
Vũ bảo: “Tôi phải suy nghĩ và ráng nhớ lại hồi trước Dương thích ăn món gì. Có bữa tôi chạy qua Q.5 mới tìm được những món mà Dương có thể ăn được chút ít. Có lần đang đút cơm cho Dương ăn, bất chợt Dương mỉm cười. Nhìn em cười, đầu thì trọc, da nám đen do thuốc và quá gầy ốm, tôi đau lắm... Tôi biết em cố gắng ăn để tôi vui mà thôi chứ bệnh tật đau đớn như vậy không nuốt nổi”.
Anh giấu Thùy Dương chuyện mình xin nghỉ việc ở công ty đang làm trên đường Nam Quốc Cang (Q.1), chuyển về công ty khác tít mãi bên đường Bàu Cát (Q.Tân Bình). “Nếu làm việc ở công ty cũ tôi phải đi công tác rất nhiều. Như thế sẽ không thể chăm sóc Dương nhiều được. Với cô ấy, lúc này tinh thần rất quan trọng” - Vũ giải thích.
“Khi Thùy Dương bị thủy đậu, từ đầu đến chân đều bôi thuốc loang lổ, ngay cả chị ấy cũng thấy ghê chính mình, anh nghĩ tới điều gì?”. Vũ chợt lặng đi trước câu hỏi. Anh bảo: “Lúc đó tôi chỉ có cảm giác duy nhất là rất thương, chỉ muốn được chăm sóc và ở bên cô ấy nhiều hơn. Tôi không dám ngồi ở ngoài nơi người nhà bệnh nhân hay tập trung vì sợ nghe họ nói chuyện với thái độ rất bi quan và đau khổ...”.
Một người bạn đến thăm tặng Dương chậu cây cỏ may mắn. Chậu cây đó được đặt ở thành cửa sổ ngay chỗ Dương nằm. Mỗi buổi sáng trước khi đi làm Vũ đều tưới nước và chăm sóc rất cẩn thận. Thùy Dương kể: “Có lần một bệnh nhân cùng phòng hỏi tại sao anh lại chăm sóc cây kỹ vậy. Anh nói vì đó là cây may mắn, nếu anh chăm cây sống tốt thì chắc chắn cô ấy (là mình) cũng sẽ may mắn qua khỏi”.
Ca ghép thành công. Thùy Dương được cứu sống. “Mở mắt ra, người đầu tiên mình thấy là anh. Cũng chính nhờ trải qua biến cố thập tử nhất sinh ấy mà mình đã nhận ra tình yêu sâu sắc hiếm gặp của người đàn ông mình yêu thương” - Dương nói, đôi mắt rạng ngời hạnh phúc.
Tháng 5-2008, Thùy Dương xuất viện. Tháng 4-2009, “mặt trời” và “mặt trăng” đi đăng ký kết hôn. Hai tháng sau họ chụp hình cưới. “Anh thấy chị mặc áo cưới như thế nào?” - nghe hỏi, Vũ chợt im bặt giây lâu rồi bật cười: “Cô ấy rất giống ...con trai vì tóc vẫn chưa kịp dài!”.
MY LĂNG
“Vũ mắc mùng cho bé!”
Sáu năm yêu nhau, Vũ tặng Dương hai tấm thiệp nhân dịp lễ Valentine và sinh nhật. Thùy Dương bảo mỗi lần đọc hai tấm thiệp đó cô lại khóc vì cảm động trước những dòng chữ chân thật mà rất ngô nghê, đáng yêu của Vũ khi thể hiện tình cảm của mình dành cho Dương. Vũ vốn... khô như ngói nên kỷ niệm lãng mạn nhất của hai người là lần anh chàng chạy từ quận Tân Bình sang quận 8 chở nàng ra cầu Thị Nghè mua hoa lúc... 4g sáng!
Dương bảo cô yêu nhất ở Vũ tính rất biết quan tâm đến người khác và chu đáo. Khi Dương còn ở nhà bác, nhiều lần Vũ đến chơi, cô nàng đi làm về mệt quá để mặc anh coi tivi với mọi người trong nhà, còn mình lăn ra ngủ lúc nào không biết. Sáng hôm sau thức dậy thấy mình đang nằm trong mùng, mọi người bảo “Vũ mắc mùng cho bé đấy!”.
Thời còn sinh viên, có lần Dương nói vui rằng đánh răng bằng than rất trắng răng, thế là Vũ về nhà lấy than trong mấy chậu lan của bà ngoại, hì hụi giã thành bột mang cho cô nàng!
Hết