Hôm qua(4-12) khi gió mùa đông bắc tràn về chất lượng không khí ở Hà Nội đã được cải thiện, trở về mức tốt sau những ngày ô nhiễm được cảnh báo tím ảnh hưởng đến sức khỏe của tất cả mọi người.
Đây không phải lần đầu tiên mà trước đó cuối năm 2024 đầu năm 2025, người dân Hà Nội cũng phải hứng chịu chuỗi ngày không khí ô nhiễm rất nghiêm trọng. Xử lý ô nhiễm ở Hà Nội cũng là bài học cho các địa phương.
Dù báo đài liên tục đăng tải thông tin cảnh báo ô nhiễm không khí nghiêm trọng "người dân cần hạn chế ra ngoài" nhưng không ít cơ sở sản xuất, tái chế ở ven đô Hà Nội vẫn nhả khói.
Hay rác thải tự phát vẫn được đốt ngay bên vệ đường, bãi đất trống mà chẳng ai bị xử phạt. Rồi hàng triệu xe vẫn xả khói với lý do hạ tầng tốt tôi sẽ đi giao thông công cộng!?
Có lẽ để cải thiện chất lượng môi trường không khí ngoài những việc làm cụ thể, hành động nhỏ cần có các chiến dịch lớn, dài hơi, có thể bắt đầu từ việc chấm dứt ngay việc đốt rác, đốt rơm rạ, tạm dừng các cơ sở sản xuất, làng nghề tái chế gây ô nhiễm. Làm quyết liệt, mạnh tay như Hà Nội từng "khai tử" thành công với bếp than tổ ong.
Cần phải kiểm soát bụi từ các công trình xây dựng bởi Hà Nội cũng như nhiều địa phương ở miền Bắc đang bước vào "mùa" xây dựng.
Nhiều dự án "đại đô thị", dự án đầu tư công đến vốn FDI đang triển khai. Yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu phải có các biện pháp ngăn bụi phát tán từ công trình như phun nước, che chắn, bịt kín bằng bạt...
Ngăn bụi cả trong quá trình vận chuyển vật liệu đến chân công trình và chất thải từ dự án đến nơi tập kết, xử lý. Tăng cường phối hợp với các địa phương để kiểm soát ô nhiễm không khí liên vùng, liên tỉnh.
>
Bên cạnh những công việc cụ thể cấp bách thì cần những giải pháp lâu dài. Tức là tăng cường giao thông công cộng, tạo ra thói quen để người dân dùng nhiều phương tiện công cộng thay thế xe cá nhân.
Kinh nghiệm của các nước trong cải thiện chất lượng không khí đã đầu tư rất nhiều cho hạ tầng giao thông để người dân ưu tiên dùng phương tiện công cộng.
Ô nhiễm không khí cũng là vấn đề môi trường lớn, rất nghiêm trọng đã từng xảy ra ở Singapore (năm 1995 - 1996, 2013 - 2014), Trung Quốc (năm 2010 - 2013), Nhật (năm 1960 - 1970) nhưng hiện nay cả ba quốc gia này đều đã thành công trong cải thiện chất lượng môi trường không khí.
Không chỉ không khí mà Nhật từng bị ô nhiễm kể cả nước biển lẫn nước ngọt nhưng đã nhanh chóng khắc phục. Nét độc đáo của Nhật ngoài kêu gọi toàn xã hội vào cuộc, xây dựng hệ thống pháp luật đủ mạnh đã "nhanh tay" xây dựng văn hóa môi trường.
Người Nhật nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân trong bảo vệ môi trường, tình yêu đối với thiên thiên. Nhật xây dựng văn hóa môi trường để từ học sinh mẫu giáo, tiểu học đều biết làm gì để không gây hại cho môi trường, tự dọn dẹp sạch sẽ ngay ở trường học.
Bài học về cải thiện chất lượng môi trường đô thị ở các nước đã quá rõ. Nếu cứ kêu gọi chung chung thì chẳng tới đâu. Hoặc chỉ tập trung xây dựng chính sách pháp luật về môi trường mà chậm "phổ cập" văn hóa môi trường thì việc thực thi sẽ gặp nhiều trở ngại.
Chúng ta có hai lựa chọn, hình thành và tuân thủ văn hóa môi trường thì sẽ có không gian sống trong lành, còn cứ loay hoay với thói quen cũ như bấy lâu nay thì đến hẹn lại lên phải sống chung với bụi mịn hoặc cảnh báo "chất lượng không khí cực xấu".
Mới đây thông tin "chung cư Tân Phước (TP.HCM) cấm gửi xe điện" một lần nữa làm dậy sóng dư luận và có thể trầm trọng hơn nhận thức chung về xe điện.
Nhiều người dân, tài xế đang chuyển đổi từ xe xăng sang xe điện, trong khi một số chung cư lại không cho gửi xe điện vào hầm khiến người dân lo lắng. Một hầm xe chung cư ở phường Hạnh Thông hiện không cho xe điện vào hầm, nhưng phía bên ngoài hầm đã bố trí khu vực sạc điện riêng - Ảnh: T.T.D.
Lý do ban quản lý đưa ra - với nhiều người - nghe qua rất hợp lý và càng củng cố thêm sự e ngại: lo hệ thống pin, ắc quy và việc sạc không đúng quy định.
Tuy nhiên thực tế cho thấy trong những năm gần đây xe điện (xe đạp điện, xe máy điện, ô tô điện) lăn bánh trên đường phố đã dần phổ biến.
Dù vậy phải thừa nhận thông tin về xe điện còn quá mơ hồ với nhiều người, đã và đang gây khó khăn cho xu hướng chuyển sang "giao thông xanh".
Ở vụ Tân Phước, các luật sư khẳng định việc cấm gửi xe điện là "trái luật, sai chủ trương", cho thấy ban quản lý có thể cũng nằm trong số những người thiếu thông tin và niềm tin vào công nghệ mới.
Để khắc phục tình trạng cấm đoán vô căn cứ, rất cần nhiều bên chung tay giải thích, minh bạch thông tin và xây dựng niềm tin cho người dân.
Trước hết Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý "nơi ở" cho xe điện, từ việc tích hợp quy định về hầm để xe và trạm sạc vào Luật Nhà ở, Luật Phòng cháy chữa cháy - đặc biệt với các chung cư đang hoạt động, được xây dựng từ khi chưa có "giao thông xanh".
Có quy định rồi thì cần có thêm hướng dẫn mẫu về không gian sạc an toàn, thậm chí theo kiểu cầm tay chỉ việc để ban quản lý chung cư không còn "tự diễn giải" theo cảm tính.
Cơ quan chức năng cũng cần phối hợp với đơn vị chuyên môn tổ chức đào tạo, tập huấn và thí điểm lắp đặt trạm sạc mẫu tại một số chung cư đủ điều kiện, vừa để đánh giá rủi ro, vừa làm mẫu cho các dự án sau.
Ở cấp địa phương, chính quyền có thể hỗ trợ kỹ thuật, ưu đãi kinh phí và kết nối doanh nghiệp cung cấp thiết bị sạc đạt chuẩn, tạo cơ chế xã hội hóa rõ ràng.
Khi cư dân chứng kiến khu sạc thử nghiệm vận hành an toàn, họ sẽ bớt "lo không biết gửi xe ở đâu" hay "sợ cháy nổ" vô căn cứ và mạnh dạn chuyển sang xe điện.
Chắc chắn nhà sản xuất và chủ đầu tư hạ tầng xe điện cũng không thể đứng ngoài. Họ cần công khai chứng nhận an toàn pin, ắc quy theo tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời triển khai dịch vụ hậu mãi về bảo dưỡng, thu hồi pin cũ và tái chế, giúp cư dân yên tâm về vòng đời sản phẩm.
Việc này vừa nâng cao chất lượng dịch vụ, vừa giảm áp lực cho ban quản lý chung cư khi tiếp nhận phương tiện.
Các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư cần bổ sung gói tín dụng ưu đãi cho việc xây dựng hạ tầng sạc trong chung cư, kèm chương trình bảo hiểm rủi ro để bảo lãnh khi có sự cố kỹ thuật.
Lộ trình tài chính này sẽ giảm thiểu gánh nặng chi phí ban đầu, khuyến khích ban quản lý mạnh dạn đầu tư đúng chuẩn thay vì né tránh.
Những việc làm ấy sẽ trang bị kiến thức cho cư dân về xe điện. Hiểu đúng, họ sẽ làm đúng, thậm chí giám sát hoạt động quản lý chung cư, yêu cầu được tiếp cận dữ liệu về an toàn và tiêu thụ điện của trạm sạc, cũng như tham gia đóng góp ý kiến khi quy chế nội bộ được xây dựng.
Khi tất cả cùng bước vào hành trình chung - từ hoàn thiện luật pháp, cơ chế tài chính, giám sát cộng đồng đến trách nhiệm của doanh nghiệp - xe điện mới thực sự trở thành lựa chọn ưu việt và an toàn cho đô thị.
Việc "dọn đường" cho xe điện sẽ diễn ra tự nhiên, bền vững, không còn chỗ cho lệnh cấm vô lý và sự mù mờ về công nghệ. Như vậy việc lấp đầy những "khoảng trống" vừa nêu là việc cần phải làm ngay hiện nay.
TTCT - Các đô thị thế giới đã xây dựng hệ thống hạ tầng để giải đáp hàng loạt vấn đề đặt ra khi chuyển đổi xe xăng thành xe điện như thiếu chỗ xây trạm sạc, hệ thống điện quá tải, mỗi hãng dùng một app, thiếu đồng bộ…
Bình quân mỗi ngày Cù Lao Chàm có đến 500 du khách tới tham quan và lưu trú. Dịp cuối tuần, du khách ra đảo có thể lên gần 1.000 lượt mỗi ngày.
"Phát triển ở Cù Lao Chàm là không phát triển gì, chỉ giữ nguyên vẹn những gì sẵn có" - Ảnh: ĐỖ HỮU TIẾN
Sau 15 năm được UNESCO đưa vào danh sách Khu dự trữ sinh quyển thế giới và trở thành hình mẫu trong bảo tồn đa dạng sinh học, xã đảo Tân Hiệp - Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam) chỉ rộng chưa đầy 15km2 với dân số khoảng 2.500 người nhưng đã đón hơn 200.000 lượt khách du lịch đến tham quan và lưu trú mỗi năm.
Bình quân mỗi ngày Cù Lao Chàm có đến 500 du khách tới tham quan và lưu trú. Dịp cuối tuần, du khách ra đảo có thể lên gần 1.000 lượt mỗi ngày.
Đáng chú ý là lượng du khách quốc tế đến với Cù Lao Chàm luôn cao hơn so với khách trong nước.
Điều gì hấp dẫn du khách đến với hòn đảo xinh đẹp này ngày một đông hơn dù điều kiện cơ sở vật chất về du lịch của Cù Lao Chàm vẫn còn đơn sơ và thiếu tiện nghi so với nhiều nơi khác trên cả nước?
Ông Nguyễn Thế Hùng - phó chủ tịch UBND TP Hội An, trưởng ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - cho rằng: Sự ra đời của Khu bảo tồn biển năm 2005 và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm năm 2009 đã thôi thúc chính quyền và người dân xã đảo nỗ lực hết mình để bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của rừng và biển.
Điều quan trọng nhất trong việc bảo tồn Cù Lao Chàm đó là người dân từng bước ý thức được việc giữ rừng, giữ biển chính là giữ được nồi cơm của họ.
Tất nhiên, từ ý tưởng của lãnh đạo TP cho đến việc phát động cư dân xã hưởng ứng các chương trình "Xách giỏ đi chợ", "Nói không với túi ni lông", "Nói không với ống hút nhựa", "cấp quota cho khai thác cua đá" rồi đến việc bảo tồn và giữ gìn nguyên vẹn các rạn san hô, bảo tồn trứng và rùa biển... không phải ngày một ngày hai mà thành hiện thực.
Nhưng bằng cách thuyết phục người dân và những cách làm không giống ai này, Cù Lao Chàm đã từ một xã đảo nghèo khó, thiếu thốn mọi mặt về cơ sở vật chất, tài nguyên trên rừng, dưới biển bị khai thác không kiểm soát, rác thải ni lông tràn khắp mọi nơi... đã chuyển mình thành một điểm sáng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, thoát nghèo và vươn lên dẫn đầu cả tỉnh về mức thu nhập.
Có lẽ bài học lớn nhất có thể nhìn thấy ở Cù Lao Chàm trong suốt nhiều thập niên qua là người dân ở đây đã biết sống theo cách "lưng tựa vào núi, mặt hướng ra biển".
Từ những năm 1998 - 1999, người dân Cù Lao Chàm đã dùng than tổ ong để đun nấu thay cho việc đốn củi trên rừng. Bộ đội biên phòng, cán bộ xã là những người đi trước để dân làm theo. Nhờ giữ được rừng mà giữ được nguồn nước sinh hoạt trong lành cho cư dân trong xã.
Từ việc giữ được rừng, người dân đồng lòng với chính quyền không khai thác san hô làm vôi, bảo vệ các rạn san hô, không đánh bắt cá bằng thuốc nổ hủy hoại môi trường biển...
Và thiên nhiên khi được bảo vệ, giữ gìn cũng đã đem lại cho người dân Cù Lao Chàm một cuộc sống trong lành, đầy đủ và ngày một đi lên.
Biết nương tựa vào thiên nhiên, đối thoại với thiên nhiên, không cưỡng đoạt thiên nhiên - "Thuận thiên giả tồn" (sống thuận theo quy luật của thiên nhiên thì sẽ tồn tại) là triết lý sống mà người dân Cù Lao Chàm đã áp dụng trong đời sống của mình.
Đó cũng chính là bài học cho chúng ta trong việc ứng xử với thiên nhiên.
Bình quân mỗi ngày Cù Lao Chàm có đến 500 du khách tới tham quan và lưu trú. Dịp cuối tuần, du khách ra đảo có thể lên gần 1.000 lượt mỗi ngày.
"Phát triển ở Cù Lao Chàm là không phát triển gì, chỉ giữ nguyên vẹn những gì sẵn có" - Ảnh: ĐỖ HỮU TIẾN
Sau 15 năm được UNESCO đưa vào danh sách Khu dự trữ sinh quyển thế giới và trở thành hình mẫu trong bảo tồn đa dạng sinh học, xã đảo Tân Hiệp - Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam) chỉ rộng chưa đầy 15km2 với dân số khoảng 2.500 người nhưng đã đón hơn 200.000 lượt khách du lịch đến tham quan và lưu trú mỗi năm.
Bình quân mỗi ngày Cù Lao Chàm có đến 500 du khách tới tham quan và lưu trú. Dịp cuối tuần, du khách ra đảo có thể lên gần 1.000 lượt mỗi ngày.
Đáng chú ý là lượng du khách quốc tế đến với Cù Lao Chàm luôn cao hơn so với khách trong nước.
Điều gì hấp dẫn du khách đến với hòn đảo xinh đẹp này ngày một đông hơn dù điều kiện cơ sở vật chất về du lịch của Cù Lao Chàm vẫn còn đơn sơ và thiếu tiện nghi so với nhiều nơi khác trên cả nước?
Ông Nguyễn Thế Hùng - phó chủ tịch UBND TP Hội An, trưởng ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - cho rằng: Sự ra đời của Khu bảo tồn biển năm 2005 và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm năm 2009 đã thôi thúc chính quyền và người dân xã đảo nỗ lực hết mình để bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của rừng và biển.
Điều quan trọng nhất trong việc bảo tồn Cù Lao Chàm đó là người dân từng bước ý thức được việc giữ rừng, giữ biển chính là giữ được nồi cơm của họ.
Tất nhiên, từ ý tưởng của lãnh đạo TP cho đến việc phát động cư dân xã hưởng ứng các chương trình "Xách giỏ đi chợ", "Nói không với túi ni lông", "Nói không với ống hút nhựa", "cấp quota cho khai thác cua đá" rồi đến việc bảo tồn và giữ gìn nguyên vẹn các rạn san hô, bảo tồn trứng và rùa biển... không phải ngày một ngày hai mà thành hiện thực.
Nhưng bằng cách thuyết phục người dân và những cách làm không giống ai này, Cù Lao Chàm đã từ một xã đảo nghèo khó, thiếu thốn mọi mặt về cơ sở vật chất, tài nguyên trên rừng, dưới biển bị khai thác không kiểm soát, rác thải ni lông tràn khắp mọi nơi... đã chuyển mình thành một điểm sáng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, thoát nghèo và vươn lên dẫn đầu cả tỉnh về mức thu nhập.
Có lẽ bài học lớn nhất có thể nhìn thấy ở Cù Lao Chàm trong suốt nhiều thập niên qua là người dân ở đây đã biết sống theo cách "lưng tựa vào núi, mặt hướng ra biển".
Từ những năm 1998 - 1999, người dân Cù Lao Chàm đã dùng than tổ ong để đun nấu thay cho việc đốn củi trên rừng. Bộ đội biên phòng, cán bộ xã là những người đi trước để dân làm theo. Nhờ giữ được rừng mà giữ được nguồn nước sinh hoạt trong lành cho cư dân trong xã.
Từ việc giữ được rừng, người dân đồng lòng với chính quyền không khai thác san hô làm vôi, bảo vệ các rạn san hô, không đánh bắt cá bằng thuốc nổ hủy hoại môi trường biển...
Và thiên nhiên khi được bảo vệ, giữ gìn cũng đã đem lại cho người dân Cù Lao Chàm một cuộc sống trong lành, đầy đủ và ngày một đi lên.
Biết nương tựa vào thiên nhiên, đối thoại với thiên nhiên, không cưỡng đoạt thiên nhiên - "Thuận thiên giả tồn" (sống thuận theo quy luật của thiên nhiên thì sẽ tồn tại) là triết lý sống mà người dân Cù Lao Chàm đã áp dụng trong đời sống của mình.
Đó cũng chính là bài học cho chúng ta trong việc ứng xử với thiên nhiên.
Biến đổi khí hậu và hạn hán đang ngày càng khắc nghiệt, trực tiếp ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hàng triệu người.
Mùa mưa, ruộng đồng mênh mông nước, và nếu có giải pháp tích trữ nước sẽ bớt khô hạn vào mùa nắng - Ảnh: MẠNH DŨNG
Trong khi nhiều người vẫn chỉ than trời mà chưa biết tiết kiệm nước, không ít người đã có ý thức và giải pháp trữ nước, tiết kiệm nước hiệu quả. Những câu chuyện thiết thực và là bài học kinh nghiệm ở ngay vùng sông nước như miền Tây Nam Bộ.
Tích trữ nước mưa cho đồng ruộng
Suốt ba tháng qua, thời sự hạn hán, thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặn nóng rực khắp nơi, đặc biệt là vựa lúa miền Tây Nam Bộ, nhưng hình như vẫn chưa đến mức làm bận tâm người nông dân Hai Phong ở xã Bình Hòa Bắc, huyện Đức Huệ, Long An.
Ông Hai Phong, 57 tuổi, vẫn canh tác vườn tược, chăn nuôi bình thường. Thậm chí, ông còn thu lợi nhuận nhiều hơn khi nông sản bán được giá trong mùa nắng hạn.
Bí quyết của ông Hai Phong là gì? Ông kể: "Tôi đọc báo thấy các xứ sở sa mạc toàn cát sỏi và khô cằn như Israel còn có giải pháp canh tác nông nghiệp hiệu quả với lượng nước tối thiểu, xứ mình dù hạn hán thế nào vẫn nhiều nước và xanh tươi hơn họ mà".
Ông Hai Phong chia sẻ mình vừa lên mạng tìm tòi, nghiên cứu các mô hình tiết kiệm nước, vừa vận dụng kinh nghiệm cả đời gắn bó ruộng vừa để thực hiện các giải pháp tiết kiệm nước hiệu quả.
Việc đầu tiên với thửa ruộng trồng lúa, ông cẩn thận đắp lại các bờ bao, bịt kín các hang cua, lỗ rò làm tiêu thoát nước ra ngoài. Đặc biệt những đoạn bờ bao nào bị sạt lở thấp xuống, ông đắp cao thêm để trữ được nước trong ruộng nhiều hơn.
Ông nói: "Miền Tây hai mùa mưa nắng rõ rệt. Sáu tháng mưa thì nước tràn ngập ruộng đồng, nông dân cứ thói quen thuận thiên trồng lúa nhờ ơn mưa móc của ông trời mà không hề có ý thức trữ nước cho mùa nắng hạn, thật lãng phí. Tôi bịt lỗ rò, đắp bờ cao hơn, tức là trữ được nước mưa trong ruộng nhiều hơn những người không chịu làm như vậy mà cứ để tràn ra ngoài".
Ông Hai Phong kể, xứ mình cứ sang tháng 11 âm lịch là ngớt mưa, tháng 12 bước vào mùa nắng và qua Tết Nguyên đán là ruộng vườn dần khô cằn. Thời gian này, việc canh tác nông nghiệp gặp khó khăn. Ruộng vườn nào gần nguồn sông rạch có nước thì bơm lên. Ai ở xa nguồn nước thì rất khó và tốn kém hơn.
"Cách trữ nước mùa mưa ở ruộng của tôi giải quyết được phần nào tình trạng này. Trong khi ruộng bà con không trữ nước thì qua Tết đã khô hạn ngay, ruộng nhà tôi vẫn giữ được độ ẩm nước thêm cả tháng nữa. Họ phải chịu đựng khô hạn 3-4 tháng, thì tôi chỉ chịu đựng tối đa là 2 tháng. Tính ra tôi giảm hẳn khó khăn trong việc tìm nguồn nước và cũng đỡ chi phí điện, dầu cho máy bơm. Cây cối mình trồng cũng tươi tốt hơn".
Ông Hai Phong nhấn mạnh ý thức và giải pháp trữ nước mưa trên ruộng đồng vốn lênh láng ở miền Tây suốt 5-6 tháng trong năm. Đây là "của trời cho", đừng để lãng phí theo thói quen và điệp khúc khó khăn vì thiếu nước trong mùa nắng cứ luẩn quẩn lặp đi lặp lại.
Ngoài cách ông Hai Phong trữ nước ruộng, nhiều nông dân cũng có giải pháp khác cho mục đích này, thậm chí họ còn sinh lợi nhiều hơn.
Chẳng hạn nhiều nông dân ở các tỉnh Đồng Tháp, Hậu Giang, Long An... đã tăng cường giữ chân nước ruộng để xen canh lúa, sen, cá đồng cho lợi nhuận khá cao.
Nhiều người đào ao, vũng để trồng sen, nuôi cá ngay trong ruộng và trữ nước sử dụng cho mùa nắng. Ngoài đào ao, nhiều người còn đào kênh bao quanh ruộng, trữ được rất nhiều nước sử dụng cho mùa vụ khô hạn và thêm nguồn lợi cá đồng vốn rất có giá...
Lão nông Nguyễn Văn Hoàng ở huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp, nói cụ thể: "Các cách trữ nước cho ruộng dễ làm, không tốn kém, mà cũng nhanh chóng sinh lợi.
Mùa hạn dữ dội năm này cũng có một số ao vũng, kênh đào trữ nước ruộng bị khô cạn, nhưng khi họ bị thì những ruộng đồng không làm mô hình này đã khô hạn trước từ lâu rồi và chịu thiệt hại hơn nhiều".
Rõ ràng mô hình trữ nước ruộng, thâm canh thêm thủy sản đã cho hiệu quả. Tùy địa hình và đặc điểm đất, một số vùng có thể không bảo đảm đủ nước ao vũng, kênh đào suốt mùa nắng nhưng cũng góp phần giảm bớt sự khô hạn kéo dài.
Nhiều giải pháp tiết kiệm nước khả thi, hiệu quả
Các ao đầm trữ nước nếu được gìn giữ và nạo vét sẽ giúp giảm bớt khô hạn cho miền Nam mùa nắng và cho thêm nguồn lợi thủy sản - Ảnh: MẠNH DŨNG
Bên cạnh trữ nước ruộng, nhiều nông dân ở vùng sông nước miền Tây hiện nay cũng có những giải pháp canh tác nông nghiệp tiết kiệm nước khả thi và hiệu quả trước tình hình biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt. Ông Hai Phong ngoài làm ruộng lúa, còn làm thêm vườn và tự tìm ra cách tiết kiệm nước mà ai cũng có thể thực hiện được.
"Đơn giản như gốc cây trồng cũng có thể tiết kiệm rất nhiều nước nếu chịu thay đổi một chút xíu thói quen. Lâu nay nhiều người trồng cây không chịu be bờ gốc để giữ lại nước tưới vào gốc cây, mà cứ làm đất dưới gốc phẳng trơn cho nước tưới chảy tràn ra ngoài.
Thậm chí một số người còn vun thêm đất, phân vào gốc cây như đắp mô làm cho nước càng chảy ra ngoài nhiều hơn. Những chi tiết nhỏ vậy chứ làm hao nước hoặc tiết kiệm được rất nhiều nước", ông Hai Phong cho biết.
Người nông dân này ví dụ cụ thể, nếu để đất dưới gốc cây phẳng, ông phải tưới cả chục lít nước, thậm chí nhiều hơn mới đủ vì phải hơn một nửa đã chảy tràn ra ngoài rất lãng phí. Trong khi ông chịu khó dùng cuốc be bờ nhỏ vòng tròn quanh gốc thì chỉ tưới 4-5 lít nước đã đủ. Mùa nắng hạn khắc nghiệt đang diễn ra, nhiều nhà vườn khác bị suy kiệt, nhưng vườn xoài, chanh, ổi của ông vẫn xanh tươi vì đủ nước tưới. Chịu khó be bờ giữ nước quanh gốc thì lượng nước người ta tưới được một cây thì ông đủ để tưới cả ba cây.
Theo ông, thật ra hầu hết người làm vườn đều thừa hiểu cách giữ nước để tiết kiệm nước tưới quá đơn giản này, nhưng họ vẫn không chịu làm, mà cứ theo thói quen. Vài cây cảnh trước nhà thì họ be bờ, kể cả xây bồn bón phân, giữ nước cho cây cẩn thận. Nhưng hàng trăm, hàng ngàn gốc chanh, gốc xoài, gốc ổi cần rất nhiều nước thì họ lại không làm vì... thói quen lâu nay cứ thế.
Thực tế, còn có nhiều cách để giảm được lượng nước tưới mà vẫn bảo đảm đủ nhu cầu cho cây phát triển.
Trong khi những nhà vườn lớn, đủ tài chính đầu tư hệ thống ống dẫn tưới nhỏ giọt rất tiết kiệm nước thì người thiếu vốn có thể thêm chút công lao động để be bờ giữ nước cho gốc cây cũng là giải pháp nhanh chóng mà hầu như ai làm cũng được.
Ngoài ra, thay đổi một chút thói quen cũng góp thêm phần tiết kiệm nước hiệu quả như rải rơm, lá mục dày ở gốc cây để giảm bay hơi nước tưới.
Cách đơn giản giữ độ ẩm này có thể giúp nhà vườn chỉ cần tưới cách nhật, thậm chí hai lần tưới mỗi tuần là đủ, trong khi nếu để đất trống trải dưới gốc cây thì cần phải có nhiều nước để tưới mỗi ngày.
"Đơn giản như thay đổi giờ tưới trong ngày cũng là một giải pháp tiết kiệm nước hiệu quả. Nếu chủ vườn tưới buổi chiều sau 16h thì chỉ cần lượng nước tưới ít hơn là tưới sớm, vì tưới sớm dưới ánh nắng nóng mặt trời sẽ làm nước bốc hơi nhanh.
Còn tưới vào lúc gần tối, đất sẽ giữ được nước lâu hơn và cây sẽ hút được nhiều hơn" - anh Nguyễn Văn Tư, một chủ vườn ở xã Hưng Điền An, huyện Vĩnh Hưng, Long An, góp thêm kinh nghiệm.
Cũng như nhiều người khác, anh nông dân tuổi 40 này khẳng định có nhiều giải pháp khả thi và không tốn kém để tiết kiệm nước canh tác nông nghiệp trong thời biến đổi khí hậu này.
Làm bồn giữ nước và rải lớp lá mục ở gốc cây sẽ giúp tiết kiệm nước - Ảnh: MẠNH DŨNG
Trong ngành nông lâm Việt Nam, giáo sư Lâm Công Định là người đã tiên phong nghiên cứu, áp dụng trồng cây nơi khô hạn khắc nghiệt để ngăn chặn nạn cát biển xâm thực sâu vào bên trong. Ngoài chọn lựa giống cây trồng chịu khô hạn, kỹ thuật của ông là rải những lớp lá khô mục dưới hố đào để giữ độ ẩm cho gốc cây trồng rất hiệu quả.