Hiển thị các bài đăng có nhãn giàn khoan 981. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giàn khoan 981. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Chuyện một người Mỹ mua tranh phản đối giàn khoan Trung Quốc

Chuyện một người Mỹ mua tranh phản đối giàn khoan Trung Quốc
Copy từ http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/617310/chuyen-mot-nguoi-my-mua-tranh-phan-doi-gian-khoan-trung-quoc.html , đăng ngày 11/07/14, mục Văn hóa - Giải trí.
TT - Tại triển lãm tranh cổ động về đề tài biển đảo diễn ra ở Hội Mỹ thuật TP.HCM hồi tháng 6, một người Mỹ đã đặt mua một bức tranh đề tài phản đối Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam của họa sĩ Nguyễn Giang Anh.
Câu chuyện quả thật thú vị, nhưng sẽ bất ngờ hơn nếu biết người Mỹ này có cả sự nghiệp gắn liền với Trung Quốc, còn với Việt Nam thì bà chỉ mới đến lần đầu cũng như lần đầu mua tranh tại TP.HCM
Bà Joan Lebold Cohen - Ảnh: joanleboldcohen.com
Bà là Joan Lebold Cohen - một nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, nhiếp ảnh gia và giám tuyển (curator). Bà đã sống hơn ba năm ở Trung Quốc, xuất bản nhiều đầu sách về lịch sử, nghệ thuật, xã hội của Trung Quốc. Những bức ảnh trên website của bà là những khoảnh khắc đẹp về phong cảnh, văn hóa, tập tục, con người... của người Trung Quốc. Trong giới nghiên cứu quốc tế, bà được giới thiệu là một chuyên gia về nghệ thuật và phim ảnh của Trung Quốc. Chồng bà cũng là một chuyên gia về pháp luật Trung Quốc và quốc tế. Tuy nhiên, những yếu tố đó chẳng khiến bà đứng về phía Trung Quốc trong vấn đề giàn khoan Hải Dương 981.
Bức tranh của họa sĩ Nguyễn Giang Anh được bà Joan Lebold Cohen mua tặng chồng - một chuyên gia về pháp luật Trung Quốc và quốc tế - Ảnh: V.P.
Khi đặt vấn đề quan điểm cá nhân của vợ chồng bà như thế nào về việc Trung Quốc ngang ngược đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, bà Joan Lebold Cohen tâm sự: “Chồng tôi và tôi hay trao đổi với nhau về vấn đề này. Cả hai chúng tôi đều hi vọng và cầu nguyện cho một giải pháp hòa bình sẽ được tìm thấy. Tôi tin rằng phía Trung Quốc đang huy động sức mạnh quân sự to lớn và lấn át hòng yêu sách đòi hỏi cho họ về các quần đảo mà bỏ qua chủ quyền lâu đời của Việt Nam”.
Phần tác giả của bức tranh, Nguyễn Giang Anh là một họa sĩ thuộc thế hệ 8X. Anh cho biết khi Hội Mỹ thuật TP.HCM phát động các họa sĩ sáng tác và tham dự triển lãm về đề tài bảo vệ chủ quyền biển đảo, anh gửi đến hai tác phẩm đồ họa. Trong đó, bức tranh được mua là tác phẩm có hình chim bồ câu - biểu tượng của hòa bình - bị giàn khoan Trung Quốc đâm toạc với những dòng máu đỏ. Những dòng chữ trên bức tranh là tín hiệu S.O.S có lồng hình quốc kỳ Việt Nam, những thông điệp ngắn gọn và mạnh mẽ bằng tiếng Việt và tiếng Anh như “Hãy cho hòa bình một cơ hội”, “Trung Quốc phải tôn trọng luật pháp quốc tế - China must respect international laws”.
Đó là một bức tranh mà bà Joan Lebold Cohen đánh giá rằng đã thành công trong việc chuyển tải những thông điệp về hòa bình, cũng như những tổn hại về thiện chí hòa bình mà Việt Nam phải gánh từ sự gây hấn của Trung Quốc. Cho nên ngay khi thấy bức tranh, bà đã quyết định mua làm quà tặng chồng - một chuyên gia về pháp luật Trung Quốc và quốc tế. Điều đó mang đến cho họa sĩ Nguyễn Giang Anh một niềm vinh dự: “Bán được tranh dĩ nhiên là niềm vui của họa sĩ. Nhưng ở đây, niềm vui của tôi còn là niềm tin rằng những bức tranh như vậy của họa sĩ chúng tôi sẽ góp phần tuyên truyền, kêu gọi công luận hãy quan tâm và chú ý đến những hành động sai trái, bất chấp lẽ phải của Trung Quốc”.
Chia sẻ thêm những suy nghĩ của mình từ bức tranh vừa mua, bà Joan Lebold Cohen nói: “Tôi có sự đồng cảm với Việt Nam, bởi vì đó là một quốc gia nhỏ mà Trung Quốc đã cố gắng đô hộ cả hàng nghìn năm”.
Quang Thi
Mang triển lãm đến nhiều tỉnh thành
Toàn bộ 49 bức tranh của triển lãm tranh cổ động đề tài bảo vệ biển đảo đã được tặng Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM. Hiện triển lãm vẫn được trưng bày tại bảo tàng đến hết ngày 17-07-14. Họa sĩ Nguyễn Thanh Bình - phó giám đốc bảo tàng - thông báo sẽ tiếp tục đem triển lãm trưng bày tại Côn Đảo vào ngày 25-07-14, sau đó triển lãm luân phiên ở TP Vũng Tàu, Cần Thơ, tỉnh Bình Dương... Lịch triển lãm kín đến cuối năm.
Trước đó, mặc dù lúc đầu ngày triển lãm tại Hội Mỹ thuật TP.HCM phải lùi lại, nhiều bức tranh được hạ xuống (vì những sự thể hiện quá “nóng”), nhưng bà Lê Thị Minh Loan - chánh văn phòng hội - cho biết các họa sĩ tham gia hết sức nhiệt tình, hào hứng, bộc lộ những tình cảm yêu nước nóng bỏng với chủ đề biển đảo quê hương.

Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

Trung Quốc sợ điều gì?

Trung Quốc sợ điều gì?

(Copy từ http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/182015/trung-quoc-so-dieu-gi-.html, đăng ngày 23/06/14 lúc 02:00)

Phải vạch trần các hành động của TQ, liên hệ các hành động này với an ninh thế giới và khu vực. Cũng nên hiểu tại sao TQ lại phải đi "la làng" như thế - đó là vì chính TQ cũng có nỗi sợ của mình. Việc Trung Quốc hạ đặt thêm giàn khoan tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời biểu dương một lực lượng hùng hậu các loại tàu dân sự cũng như quân sự khiến nhiều người trên thế giới đau đầu không hiểu giới lãnh đạo TQ đang... nghĩ gì!
Trong lịch sử, Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ ý định lợi dụng cơ hội  để "ra tay" với VN. Đầu tháng 5/2014 vừa qua chính là lúc TQ kết luận là thời cơ đã đến.
Tại sao vậy? Năm 2012 khi TQ chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines, Mỹ đã làm ngơ. Đến cuộc khủng hoảng ở Syria năm 2013, Mỹ lúng túng rõ rệt - lúc đầu từ chối can thiệp, đến lúc quyết định ra tay thì đã quá muộn.
Một năm sau, việc Nga làm ở Crưm đã cho TQ một "con bài độc" để mặc cả với Nga. Hơn thế, việc Mỹ tránh dính líu ở đây càng làm cho giới lãnh đạo TQ cho rằng đã đến lúc nước này trực tiếp nhúng tay vào thay đổi trật tự thế giới cũ không phải bằng sức mạnh mềm (kinh tế, chính trị, văn hóa), mà bằng công khai gây hấn với nước láng giềng Việt Nam.
Đồng thời với các hành động bành trướng, TQ đang triển khai một chiến dịch tuyên truyền nội bộ và và quốc tế kiểu "vừa ăn cắp vừa la làng". Còn trên trường quốc tế, TQ bố trí một "dàn đồng ca tuyên truyền" với số lượng đông đảo tại các diễn đàn từ nhỏ tới lớn. Dù nơi nào, dù với ai, dù trong hoàn cảnh nào, đặc điểm chung nhất của phương thức của họ là "lớn giọng," thậm chí phớt lờ tất cả lập luận lô-gic của người xung quanh.
Làm sao họ dám làm như thế? Họ dám làm đơn giản bởi họ thấy họ có thể làm! Họ sẽ chỉ dừng lại khi họ thấy việc làm của mình sẽ gây hậu quả.
Trung Quốc rất khôn ngoan trong tuyên truyền quốc tế. Với Mỹ, TQ "khóa họng" bằng cách buộc tội Mỹ đang câu kết vây hãm vì TQ đe dọa vị trí số 1 của Mỹ. Với các nước lớn khác, TQ một mực hứa hẹn là chỉ định "vươn lên một cách hòa bình" (peaceful rise).
Trong chiến tranh thế giới thứ 2, phương Tây ngồi đó "ngó" Đức vươn lên và chỉ hành động khi thấy chính họ cũng trở thành con mồi; còn Mỹ, mặc dù hứa là sẽ tham chiến nhưng phải đợi tới khi bị Nhật tấn công thì mới thực sự vào cuộc, và chỉ đổ quân vào châu Âu 1 năm trước khi chiến tranh kết thúc. Nhắc lại những bài học cũ để ta hiểu thêm tại sao mặc dù TQ đang có những hành động bành trướng ngang ngược như vậy mà họ vẫn có thể và dám thuyết phục thế giới là họ "vì hòa bình" - bởi thế giới cũng rất muốn tin vào điều đó.
Hiểu như thế để ta đưa ra cách đối phó có hiệu quả. Phải vạch trần các hành động của TQ; phải liên hệ các hành động này với an ninh thế giới và khu vực. Và phải hiểu tại sao TQ lại phải đi "la làng" như thế - đó là vì chính TQ cũng có nỗi sợ của mình.



Giàn khoan Hải Dương 981 hạ đặt trái phép tại Vùng đặc quyền kinh tế của VN

Việt Nam tranh thủ được gì?
Thứ nhất, việc TQ vươn lên thành cường quốc như hiện nay có một phần không nhỏ nhờ vào sự bảo trợ của chính Mỹ.
Từ năm 1972 khi Mỹ và TQ trở nên thân thiện với nhau, Mỹ đã nhượng bộ rất nhiều: gạt bỏ vấn đề Đài Loan sang một bên, ủng hộ TQ gia nhập Liên hợp quốc và sau đó là WTO, mở cửa thị trường cho TQ và đầu tư với tốc độ chóng mặt vào nước này.
Thứ hai, dù TQ có rêu rao rằng nước này có dự trữ ngoại hối và vàng lớn nhất thế giới, là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới đi chăng nữa, thì sự thực là đây là một nền kinh tế được thổi phồng.
Khoảng 30-40% hàng hóa của TQ là xuất sang Mỹ, và tăng trưởng của TQ dựa vào xuất khẩu ra toàn thế giới. Ngoài ra, GDP của TQ lớn, nhưng chỉ số này có thể sụt xuống bất kì lúc nào bởi nó dựa vào lượng đầu tư từ bên ngoài.
Tóm lại, nỗi sợ hãi lớn nhất của TQ không phải là quân sự mà là sự cấm vận về kinh tế. Nếu Việt Nam chấm dứt giao thương với TQ, họ có thể phớt lờ vì chúng ta đóng vai trò quá nhỏ trong nền kinh tế TQ. Nhưng nếu chính phủ Mỹ, Nhật, Úc, và chỉ cần một số nước Tây Âu đồng thời cùng tẩy chay TQ, thì nước này sẽ nhanh chóng trở nên náo loạn.
Viễn cảnh đó là điều Chính phủ TQ hiện nay sợ, bởi một lượng lớn người TQ đã được hưởng những tiện ích mà tăng trưởng kinh tế mang lại, họ sẽ không chấp nhận quay lại thời thắt lưng buộc bụng.
Đã từ lâu, giới chức Mỹ vẫn đề cao một mối quan hệ kinh tế bền chặt với TQ (nhất là dưới thời Obama - người quan tâm tới nội tình Mỹ hơn là đối ngoại), và cái họ phân vân nhất chỉ là về quân đội Nhân dân Trung Hoa và các bước đi quân sự của nước này. Rõ ràng việc làm gần đây của TQ tại biển Đông đã cho họ câu trả lời và từ đó giúp đẩy chính sách của Mỹ với TQ sang một hướng khác.
Đây là yếu tố chúng ta cần lưu ý tranh thủ. Hơn nữa, các nước nhỏ hơn nhưng với cấu trúc về cơ sở hạ tầng và trình độ tay nghề dân số tương tự TQ (như Ấn Độ, Indonesia và nhiều nước khác) cũng sẽ rất ủng hộ tẩy chay TQ. Bởi nó có nghĩa là chính họ sẽ được tăng cường nhận đầu tư nước ngoài thay vì chỉ có một "công xưởng" duy nhất của thế giới là TQ.
Vấn đề là liệu ta có tạo điều kiện cho các nước đó làm như thế hay không? Ngoài việc tăng cường thông tin cho thế giới trên các diễn đàn song phương và đa phương, bằng ngoại giao chính thức và ngoại giao nhân dân, ta còn phải đưa việc làm của TQ ra trước dư luận thế giới bằng việc kiện ra tòa quốc tế. Chỉ khi đó ta mới có thể thuyết phục nhân dân thế giới và chính quyền các nước mới có cơ sở để hành động.
Nếu có một tòa án quốc tế phán quyết rằng hành động của TQ là hành động xâm lược và sai trái, thì việc trừng phạt không phải là để kéo bè kéo cánh "kìm hãm peaceful rise" của TQ mà là biện pháp răn đe.
Cuộc chiến quan trọng nhất và gay cấn nhất chính là lúc này: đó là cuộc chiến bằng công lý, bằng ngoại giao, bằng lương tri, đó là cuộc chiến để đẩy lùi tất cả các cuộc chiến bằng sắt thép và bằng xương máu.

Minh Nguyệt (từ Mỹ)

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Sáng suốt bằng sự tỉnh táo có tính số phận

Luật sư Nguyễn Trần Bạt:
Sáng suốt bằng sự tỉnh táo có tính số phận
Copy từ http://www.baomoi.com/Luat-su-Nguyen-Tran-Bat-Sang-suot-bang-su-tinh-tao-co-tinh-so-phan/122/13829722.epi , đăng ngày 17/05/14, mục Đối ngoại; bài đăng lại của báo Đại Đoàn Kết.
Cho rằng lần này Trung Quốc đã vượt qua thông lệ và làm ảnh hưởng một cách rất căn bản đến mối quan hệ thông thường vốn có, Luật sư Nguyễn Trần Bạt trong sự phân tích nhiều mặt đời sống kinh tế chính trị trong nước, đã thể hiện quan điểm: Người Việt ngoài tình cảm yêu nước còn có sự sáng suốt nữa nên nếu lúc nào đó cần phải hy sinh thì chúng ta sẽ hy sinh, nhưng nếu không cần phải làm việc ấy thì kiên quyết không làm.
PV: Thưa ông! Với tư cách là một nhà nghiên cứu, suy nghĩ đầu tiên của ông như thế nào về việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép tại vùng biển Việt Nam?
- Luật sư NGUYỄN TRẦN BẠT: Tôi cho rằng việc chúng ta sống cạnh nước Trung Quốc là một sự tồn tại có tính số phận, nó là một thuộc tính lâu dài của đời sống dân tộc chúng ta. Cho nên chúng ta không có cách nào thoát ra khỏi việc phải giải quyết những khúc mắc, những va chạm giữa hai quốc gia có thể có những lúc tiêu cực như hiện nay, và có thể có những lúc tích cực như trong quá khứ. Chúng ta phải cân đối trong quan hệ với nước CHND Trung Hoa bằng tất cả sự tỉnh táo có tính số phận của người Việt Nam. Không buông thả mình được, không để cho tình cảm, để cho các cảm xúc lấn át một cách không kiểm soát được, bởi vì nó là vấn đề rất thiết thực có ảnh hưởng rất quan trọng đối với toàn bộ lịch sử tồn tại của dân tộc Việt Nam.
PV: Còn với tư cách một công dân thì cảm xúc của cá nhân ông thế nào về vấn đề chủ quyền đất nước?
Chủ quyền của một quốc gia là vấn đề cốt lõi, là một trong những nội dung cơ bản của tình cảm dân tộc. Một công dân mà không ý thức về chủ quyền của dân tộc mình, của đất nước mình thì không thể nói công dân ấy là một công dân tự giác, một công dân có ý thức được. Tôi luôn xem vấn đề chủ quyền quốc gia không chỉ là quyền lợi của người Việt mà còn là lương tri của người Việt, là niềm tự hào của người Việt, và là danh dự của người Việt. Tôi xem việc giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, toàn vẹn chủ quyền quốc gia như là danh dự của cá nhân tôi.
PV: Theo quan sát của cá nhân ông, nhìn lại diễn biến của sự việc kể từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, ông đánh giá thế nào về những bước đi của Việt Nam trong đối ngoại và trong cả đối nội những ngày qua?
- Tôi cho rằng bước đi của Chính phủ cũng khác với thông lệ mà người Việt Nam và Chính phủ Việt Nam vốn có. Sự "khác với thông lệ” của Chính phủ có lẽ là kết quả đương nhiên của những hành vi khác thường của Chính phủ CHND Trung Hoa. Rất khó có người tự trọng nào không có phản ứng khi người ta bê cái bếp lò ra đặt trước cửa nhà mình. Tôi nghĩ sự kiềm chế của Việt Nam đã được dồn nén, được kiểm soát quá lâu và đôi lúc làm cho nhân dân hiểu nhầm.
Tôi nghĩ rằng cho đến phút này Chính phủ chúng ta vẫn tỉnh táo, vẫn tiếp tục dàn xếp các công việc, vẫn tiếp tục kiểm soát các sự kiện mặc dù không hề dễ, bởi phản ứng của xã hội có những khía cạnh bản năng của nó.
Đúng là những ngày qua đã có những phản ứng xã hội bản năng và không tránh khỏi bị lợi dụng để xảy ra những chuyện đáng tiếc...
-Nổi giận là một trong những quyền cơ bản của khái niệm nhân quyền, con người có thể sử dụng nó đúng hoặc sai. Tôi nghĩ rằng không ai có thể cho rằng người Việt không có quyền nổi giận trước sự xúc phạm của người khác. Vấn đề là chúng ta phải kiểm điểm xem chúng ta sử dụng các quyền ấy có đúng đắn hay không.
Chúng ta phải tôn trọng các quyền bản năng như quyền nổi giận khi bị xúc phạm. Còn lực lượng nào lợi dụng các quyền bản năng ấy thì đấy là vi phạm pháp luật.
PV: Theo ông, tình hình hiện nay nếu không có bước đi khôn ngoan sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam vốn đang chưa thoát khỏi miệng đáy của khủng hoảng?
-Ảnh hưởng là vô cùng lớn. Không ai để xăng dầu, để tiền bạc cạnh đám cháy. Tất cả các xung đột quốc gia đều có tính chất một đám cháy, kể cả những xung đột ở gần nơi có nước như Biển Đông. Xung đột ở Biển Đông nhưng nước biển cũng không thể làm giảm tác động có tính chất tiêu cực của xung đột đối với phát triển kinh tế. Tất cả những gì diễn ra thái quá ở các khu công nghiệp ngay lập tức ảnh hưởng đến công ăn việc làm, ảnh hưởng đến đời sống của người lao động vốn rất khó khăn hiện nay, và dĩ nhiên ảnh hưởng một cách khốc liệt đến sự phát triển kinh tế.
PV: Vậy theo ông bước đi sắp tới của chúng ta nên là gì?
LS Nguyễn Trần Bạt: -Nhân dân chúng ta có một khả năng hy sinh to lớn vì độc lập dân tộc, vì sự toàn vẹn lãnh thổ, đấy là một đặc trưng có chất lượng lịch sử lâu dài. Theo tôi, không nên nói bất kỳ một lời nào tiêu cực về trạng thái tâm lý sẵn sàng hy sinh cho độc lập dân tộc. Sẵn sàng hy sinh quyền lợi của mình cho độc lập dân tộc là một trong những đặc điểm rất lãng mạn của người Việt. Tôi kính trọng điều ấy. Tôi sẽ không nói một lời nào, không phân tích một chữ nào một cách tiêu cực về tâm lý, về tình cảm như vậy của người Việt.
Tuy nhiên, con người sống không chỉ bằng sự cao thượng của ý nghĩ, của tình cảm, mà bằng cả sự sáng suốt nữa. Người Việt chúng ta có cả sự sáng suốt chứ không phải chỉ có tình cảm yêu nước nồng nàn, sẵn sàng đốt cháy mọi thứ. Khi cần phải đốt cháy thì người Việt biết chọn để bắt đầu đốt từ cái rẻ nhất trở đi. Người Việt chúng ta biết tính toán cả quá trình đốt theo thời gian nữa. Nếu lúc nào đó cần phải hy sinh thì chúng ta sẽ hy sinh, nhưng nếu không cần phải làm việc ấy thì kiên quyết không làm.
Vấn đề là có phải Việt Nam là đối tượng duy nhất của chuyện giàn khoan này không? Tôi cho là không. Đấy là họ mượn đường để đi một nước cờ chính trị. Cho nên chúng ta cũng phải phản ứng là ai cho anh mượn đường của tôi mà không xin phép.
Nếu chúng ta phân tích chuyện này một cách thỏa đáng và quan niệm cho đúng thì về mặt nguyên lý chúng ta bỗng nhiên có đồng minh sẵn trong cái động cơ chính trị của người Trung Quốc. Chúng ta càng đoàn kết càng tốt. Đoàn kết với nhau ở trong nước, đoàn kết giữa Đảng và nhân dân, đoàn kết với quốc tế. Đoàn kết không phải là sự liên kết lạnh lùng của chính trị, đoàn kết phải được xây dựng trên tinh thần hướng tới sự lương thiện toàn cầu.
Tôi nghĩ khôn ngoan nhất là chúng ta phải thực thi các quyền của một quốc gia. Đấy là chủ quyền của chúng ta, chúng ta phải sòng phẳng, ngay thẳng. Chúng ta luôn luôn phải chuẩn bị thái độ biết nổi giận, nhưng nổi giận có kiểm soát, nổi giận của người lương thiện, trung thực. Chúng ta sẽ có rất nhiều bạn bè nếu chúng ta hành xử một cách ngay thẳng, trung thực.
Trân trọng cảm ơn ông!
CẨM THÚY (thực hiện)

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Trung Quốc bịa đặt trắng trợn

Trung Quốc bịa đặt trắng trợn

(Copy từhttp://nguoicaotuoi.org.vn/quoc-te/trung-quoc-bia-dat-trang-tron.html  , bài đăng ngày 13/06/14 , mục Quốc Tế. )

Ngày 08/06/2014, trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đăng bài viết nhan đề “Hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 – Sự khiêu khích của Việt Nam và quan điểm của Trung Quốc”. Sau đó một ngày (09/06), Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc (LHQ) Vương Minh đã gửi tới Tổng Thư kí LHQ Ban Ki-mun “Bản Tuyên cáo lập trường” của Trung Quốc về hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 và yêu cầu Tổng Thư kí Ban Ki-mun công bố bức thư này tới 193 quốc gia thành viên LHQ.

Nội dung của bài viết đăng trên website của Bộ Ngoại giao và “Bản Tuyên cáo lập trường” của Trung Quốc cơ bản là giống nhau, vẫn một luận điệu vu khống, bịa đặt trắng trợn, tố cáo Việt Nam. Trong “Bản Tuyên cáo lập trường”, Trung Quốc ngang nhiên khẳng định: “Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã tiến hành các hoạt động khảo sát địa chấn trong khu vực 10 năm qua và việc triển khai giàn khoan Hải Dương 981 là sự tiếp nối bình thường của quá trình thăm dò tại khu vực thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc”. Trong khi đó, cả thế giới đều biết từ ngày 02/05/14, Trung Quốc đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trung Quốc đã trắng trợn bịa đặt rằng: “Ngay sau khi Trung Quốc triển khai giàn khoan Hải Dương 981, Việt Nam đã đưa một số lượng lớn tàu thuyền, bao gồm cả tàu vũ trang, dùng sức mạnh ngăn chặn hoạt động của các tàu hộ tống giàn khoan và tàu công vụ của Trung Quốc. Đồng thời, Việt Nam triển khai người nhái, thợ lặn và thả nhiều vật dụng gây cản trở trong khu vực giàn khoan, kể cả lưới đánh cá và vật cản nổi gây khó khăn cho hoạt động của các tàu Trung Quốc. Vào lúc 5 giờ sáng 07/06/14, có tới 63 tàu Việt Nam đã cố gắng phá vòng vây của tàu Trung Quốc bằng cách húc vào các tàu Trung Quốc 1.416 lần, để tiến gần hơn đến giàn khoan”. 

1111


Phía Trung Quốc đã không biết ngượng khi bịa ra một chuyện không có thật. Cả thế giới đều biết các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam làm nhiệm vụ trên thực địa vừa ít về số lượng, vừa nhỏ về kích thước so với các tàu của Trung Quốc. Cho nên, kể cả với những người giàu sức tưởng tượng nhất cũng không dám hình dung các tàu thực thi pháp luật, tàu cá của Việt Nam cố tình tấn công các tàu Trung Quốc, mà lại tiến công đến 1.416 lần. Rõ ràng đây là sự bịa đặt, là sự bóp méo sự thật. Chính các nhà báo nước ngoài trên các tàu Cảnh sát Biển Việt Nam cũng đã được chứng kiến cảnh hàng chục tàu hải cảnh, ngư chính của Trung Quốc bao vây, ngăn chặn, dùng vòi rồng tấn công một tàu thực thi pháp luật của Việt Nam.

Vẫn giọng điệu vu cáo, Trung Quốc cho rằng: “Những hành động trên của Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc, đe dọa nghiêm trọng an toàn cho các nhân viên và giàn khoan, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương LHQ”. Có thể thấy một cách rõ ràng, chính Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng những quy định rất quan trọng của Hiến chương LHQ, cụ thể là Điều 1 quy định về mục tiêu, nhiệm vụ của LHQ cũng như các quốc gia thành viên.

Trung Quốc đã trắng trợn cho rằng: “Khi phải đối mặt với các hành động khiêu khích của Việt Nam, Trung Quốc đã kiềm chế và sử dụng các biện pháp tự vệ cần thiết. Các tàu của Trung Quốc được cử đến thực địa nhằm bảo đảm an toàn cho giàn khoan, bảo đảm an toàn cho hoạt động sản xuất trên biển và an toàn tự do hàng hải. Đồng thời, kể từ ngày 02/05/14, Trung Quốc đã hơn 30 lần liên lạc với Việt Nam ở tất cả các cấp, yêu cầu Việt Nam chấm dứt các hành động quấy rối. Nhưng rất đáng tiếc, phía Việt Nam vẫn tiếp tục các hành động quấy rối”.

Vậy sự thật trên thực địa như thế nào? Kể từ khi hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc đã huy động một số lượng lớn tàu hải cảnh, hải giám, ngư chính, tàu cá và một số tàu quân sự, tàu kéo thuộc Hạm đội Nam Hải, cao điểm nhất lên đến gần 140 chiếc. Các tàu của Trung Quốc đã chủ động gây hấn, đâm va, tấn công, khiêu khích các tàu của Việt Nam với thái độ hung hăng, táo tợn, bất chấp các hậu quả xảy ra. Ngày 26/5, với sự hỗ trợ của 4 tàu hải cảnh, hàng chục tàu cá của Trung Quốc đã đâm chìm một tàu cá của ngư dân Việt Nam khi đang khai thác ở ngư trường truyền thống thuộc chủ quyền của Việt Nam. Gầy đây nhất là lúc 14 giờ ngày 07/06/14, một tàu kéo Trung Quốc mang số hiệu 281 đã lao với tốc độ lớn đâm thẳng vào mạn trái tàu kiểm ngư KN – 62 của Việt Nam.

Tại khu vực giàn khoan, Trung Quốc đang triển khai khoảng 120 tàu, gồm 40 tàu hải cảnh, hơn 30 tàu vận tải và tàu kéo; 45 tàu cá và 4 tàu quân sự (hai tàu quét mìn và hai tàu hộ vệ tên lửa). Bên cạnh đó, Trung Quốc còn dùng máy bay trinh sát Y – 8 bay nhiều vòng ở khu vực giàn khoan ở độ cao khoảng 250 – 300m. Để cản trở tàu Việt Nam tiến gần giàn khoan, các tàu của Trung Quốc đã tổ chức thành từng nhóm, hung hãn và manh động gây hấn với các tàu Việt Nam. Các tàu này sẵn sàng đâm va, hú còi, phun vòi rồng vào các tàu Kiểm ngư, Cảnh sát Biển Việt Nam. Còn thực hư việc Trung Quốc “đã hơn 30 lần liên lạc với Việt Nam…” như thế nào? Phát biểu tại phiên họp Chính phủ ngày 29/5, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “Kể từ lúc xảy ra vụ việc, Việt Nam đã dồn sức đấu tranh ngoại giao. Trong hơn 30 lần gặp gỡ, giao thiệp, Việt Nam đã chỉ rõ sai trái, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan”, nhưng đã không được phía Trung Quốc đáp ứng. Vậy mà, Trung Quốc đã “đổi trắng thay đen”, tố cáo ngược lại Việt Nam.

Cũng trong “Bản Tuyên cáo lập trường” và bài viết trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh đã viện dẫn hàng loạt cái gọi là “chứng cứ lịch sử” để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa. Nhưng Trung Quốc lại “quên” viện dẫn việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để đánh chiếm các nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1956 và nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Trung Quốc đã vi phạm quy định về quyền thụ đắc lãnh thổ theo nguyên tắc “chiếm hữu thật sự” tại Điều 3, Điều 34, Điều 35 của Định ước Béc-lin kí ngày 26/6/1885. Theo đó, quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình một cách hiệu quả, thích hợp với những điều kiện tự nhiên, dân cư ở trên vùng lãnh thổ đó. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền phải hòa bình, liên tục, rõ ràng; dùng vũ lực để xâm chiếm là phi pháp, không được thừa nhận.

Thư kỳ (Tổng hợp)

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Đừng "xúi dại" Việt Nam

Đừng "xúi dại" Việt Nam
Copy từ http://eicvn.eu/thoi-su/tin-thoi-su/viet-nam/8275-ng-xui-di-vit-nam , đăng ngày 08/02/14, mục Thời sự > Việt Nam.
Trong một bài viết mới đây trên BBC của ông Lý Thái Hùng, phần "Ba việc cần làm" có đưa ra ý kiến Việt Nam cần "chính thức tuyên bố hủy bỏ Công hàm do cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1958" khiến dư luận đặc biệt quan tâm, thậm chí nhiều người cảm thấy hoang mang không biết thực hư, sai đúng như thế nào.
Chúng tôi đã trao đổi và đều nhận định, ý kiến này của ông Lý Thái Hùng là một kiểu "xui dại" Việt Nam tự chui đầu vào rọ cần phải được nói rõ, phân tích mổ xẻ trước dư luận.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Chúng tôi đã trao đổi và đều nhận định, ý kiến này của ông Lý Thái Hùng là một kiểu "xui dại" Việt Nam tự chui đầu vào rọ cần phải được nói rõ, phân tích mổ xẻ trước dư luận.
Đầu tiên, theo luật pháp quốc tế nếu như một chính thể đã chính thức công nhận một vấn đề thì không thể hủy bỏ đơn phương một cách đơn giản như vậy là xong. Tiền hậu bất nhất là điều tối kỵ khi đưa một vấn đề tranh chấp ra các cơ quan tài phán quốc tế.
Thứ hai, hiểu như ông Lý Thái Hùng là đã làm sai lệch bản chất pháp lý của Công hàm 1958 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký gửi Trung Quốc. Bản Công hàm này chỉ ủng hộ và thừa nhận phạm vi lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc vừa tuyên bố, không có chữ nào nhắc đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà Bắc Kinh yêu sách chủ quyền với tên gọi Tây Sa, Nam Sa.
Mặt khác, theo Hiệp định quốc tế Geneva 1954 bàn về vấn đề Đông Dương mà chính Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc khi đó cũng tham dự với tư cách một bên hội nghị thì mọi người đều biết Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể chính trị, một chủ thể trong quan hệ quốc tế được quốc tế công nhận .Vì vậy, Việt Nam Cộng Hòa là đại diện cho nhà nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam để quản lý và thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam do chính phủ Pháp bàn giao lại, chờ đến ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
Do đó, Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đại diện cho Việt Nam Dân chủ cộng hòa công nhận tuyên bố phạm vi lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc không liên quan gì đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, càng không có nghĩa là Việt Nam thừa nhận 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc; bởi thời điểm này 2 quần đảo đang do chính thể Việt Nam Cộng hòa, đại diện cho nhà nước Việt Nam quản lý, thực thi chủ quyền.
Cách lý giải Công hàm 1958 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký như ông Lý Thái Hùng chính là chiêu bài Bắc Kinh đang cố tình lập lờ đánh lận con đen để ngụy biện cho tham vọng bành trướng lãnh thổ của họ và bẫy dụ chúng ta vào tròng. Một khi nghe theo lời xúi dại này, Việt Nam sẽ không bao giờ thoát ra khỏi thòng lọng pháp lý của Bắc Kinh đang giăng sẵn.
Thủ tục pháp lý
Nhân đây, chúng tôi cũng xin đề cập đến thủ tục pháp lý ký và phê chuẩn các Hiệp ước, Công ước có liên quan đến biên giới lãnh thổ quốc gia. Trong thực tiễn quốc tế, các nội dung giải quyết về biên giới, lãnh thổ phải được các đại diện có thẩm quyền của các quốc gia liên quan đàm phán thỏa thuận và nội dung thỏa thuận đó phải được ghi nhận trong các Hiệp ước, Hiệp định…và phải được cac đại diện có thẩm quyền này ký kết chính thức.
Tuy nhiên các Hiệp định, Hiệp ước…dù đã được ký kết này vẫn chưa có hiệu lực thi hành ngay. Các Hiệp ước, Hiệp định này phải được Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất phê chuẩn theo thủ tục pháp lý rất chặt chẽ mới có hiệu lực thi hành. Như vậy, có thể thấy rằng các tuyên bố, các văn bản của một nhân vật nào đó, dù là những quan chức nhà nước cao nhất, có nội dung về biên giới lãnh thổ đều không có giá trị pháp lý tuyệt đối trong quan hệ quốc tế.
Ngoài ra, cũng trong phần nội dung "Ba việc cần làm" của bài viết ông Lý Thái Hùng gửi BBC đã có một sự nhầm lẫn nguy hiểm về bản chất pháp lý vụ Philippines kiện Trung Quốc và bài học cho Việt Nam.
Ông Hùng cho rằng, "Việc hủy bỏ Công hàm cùng với việc quảng bá Tuyên Cáo của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 14 tháng 2 năm 1974, xác định “quần đảo Hoàng sa và Trường sa là những phần bất khả phân lìa của lãnh thổ Việt Nam”, sẽ giúp Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý để kiện Bắc Kinh ra toà án Liên Hiệp Quốc như Phi Luật Tân đang làm". Ở đây cần phải nhấn mạnh rằng, Philippines không kiện Trung Quốc về chủ quyền lãnh thổ, bởi tranh chấp chủ quyền nếu các bên không thống nhất bằng văn bản thỏa thuận mà đơn phương nhờ cơ quan tài phán giải quyết thì không ai dám thụ lý.
Philippines kiện Trung Quốc "áp dụng và giải thích sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS)”, vì vậy đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các nước ven Biển Đông, trong đó có Philippines, mặt khác Trung Quốc lại là thành viên của UNCLOS nên Philippines hoàn toàn có quyền khởi kiện vấn đề này theo đúng quy định của luật pháp quốc tế. Và trên thực tế Tòa án Quốc tế về Luật Biển đã thụ lý theo đúng thủ tục, trình tự pháp định.
Do đó, dù xác định đấu tranh với Trung Quốc bằng pháp lý nhưng chúng ta cũng phải học Philippines nghiên cứu thật kỹ các quy định pháp lý và thông lệ quốc tế để đưa ra quyết định và chuẩn bị phương án khởi kiện, việc này không dễ dàng để cứ nói thích kiện là kiện được ngay.
Tác giả : Tiến sĩ Trần Công Trục
Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam từ năm 1995 -2004.