Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2025

Nồi canh chua đãi 10 anh lính cách mạng ngày 30-4

 Thời sự Phóng sự

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 27/04/2025 06:16

Nồi canh chua đãi 10 anh lính cách mạng ngày 30-4

50 năm sau, ký ức thời khắc lịch sử 30-4-1975 đối với ông Nguyễn Thiện Bảo như mới hôm qua. Ông vẫn xúc động nhớ như in hình ảnh người lính cách mạng dạy ông và đám trẻ hát vang "Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh...".

Nồi canh chua đãi 10 anh lính cách mạng ngày 30-4 - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Thiện Bảo (trái) và đồng đội thời còn trẻ đi bộ đội tình nguyện cứu giúp nhân dân Campuchia - Ảnh: NVCC

Những ngày cuối tháng 4-1975, chiến sự tại miền Nam Việt Nam bước vào giai đoạn căng thẳng tột độ. Khi ấy dù chỉ mới 11 tuổi, ông Nguyễn Thiện Bảo vẫn cảm nhận được sự chuẩn bị đổi thay lịch sử với dân tộc mình.

Bà nội tôi mới mổ cườm mắt mà cũng lò mò kêu tôi dẫn ra để dòm mấy anh lính, coi mặt mũi mấy ảnh dễ thương ra làm sao.

Ông NGUYỄN THIỆN BẢO

Coi mấy anh lính dễ thương làm sao

Ngày tháng khó quên đó, gia đình ông Bảo (61 tuổi, TP.HCM) sống trong căn nhà ba tầng trên đường Dạ Nam (quận 8).

Gần trưa 30-4-1975, trên radio, tướng Dương Văn Minh kêu gọi binh sĩ Việt Nam cộng hòa buông súng đầu hàng vô điều kiện, bàn giao chính quyền cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ngay lập tức, ông Bảo thấy những người trong xóm đổ xô ra đường, trước mắt họ là cảnh tượng chưa từng thấy: lính Việt Nam cộng hòa buông súng, cởi áo, tản ra chạy trong hỗn loạn. Quân cách mạng từ hướng Long An đi thành hàng dài hai bên đường lộ lớn.

Quận 8 khi ấy còn nhiều đồng ruộng, kênh rạch. Ông Bảo kể: "Tôi ấn tượng mấy anh lính mặc quần ni lông, áo cũng bằng ni lông màu xanh, ướt mem hết trơn. Trên vai họ là súng với một cái bao ruột tượng đựng gạo".

Người dân Sài Gòn lúc đó thấy không còn nổ súng nữa mới tò mò, ra ngó nghiêng, xem mặt mấy "ông Việt cộng".

"Bà nội tôi mới mổ cườm mắt mà cũng lò mò kêu tôi dẫn ra để dòm mấy anh lính, coi mặt mũi mấy ảnh dễ thương ra làm sao", ông Bảo cười giòn kể lại.

Ngày đó quân ta chưa có đủ chỗ đóng quân nên phía chỉ huy đã liên hệ xin cho bộ đội một tổ ba người vô nhà dân tá túc trong lúc chờ có căn cứ mới. Vậy là người dân háo hức đón vào nhà, chiến sĩ cách mạng ở với dân cả tuần.

"Nhà tôi ba tầng rộng rãi nên đón được 10 chiến sĩ", ông Bảo nhớ lại.

Nồi canh chua đãi 10 anh lính cách mạng

Trong mắt đứa trẻ 11 tuổi ngày ấy như ông Bảo, các anh lính "ngộ ngộ, lạ lạ" nhưng đeo súng rất oai phong, mặt mày nghiêm nghị nhưng cũng thật thà, dễ thương.

"Thấy má tôi lật đật vô bếp lấy gạo nhà nấu cơm, mấy anh lính mới nói tụi tui có gạo, nhờ bà nấu giùm thôi. Má tôi muốn đãi các anh một bữa ngon nên chạy ra chợ Rạch Ông mua hai con cá hú đem về nấu một nồi canh chua số mười bự tổ chảng", ông Bảo nhớ lại.

Buổi chiều hôm ấy, ông Bảo cảm nhận được niềm hạnh phúc bình dị toát lên từ hình ảnh những anh lính ngồi quây quần ăn cơm rất ngon lành sau một chuyến hành quân lịch sử. Đó có lẽ là bữa cơm đầu tiên của họ trong hòa bình, không tiếng súng.

Ăn cơm xong, một anh lính đứng dậy hỏi ông Bảo: "Con ơi, chỗ nào đi tắm đâu, dẫn cho chú đi tắm". Bảo liền nhanh nhảu chạy về hướng nhà tắm chỉ vô cánh cửa mở sẵn, nói: "Chú vô đây tắm nè chú!".

Ngày đó người Sài Gòn không gọi là nước máy mà gọi là "nước phông tên", hay "nước rôminê". Anh lính bước vô, vặn vòi nước chảy xối, rồi buông một câu nhẹ tênh mà đến giờ ông Bảo đã ngoài sáu mươi vẫn không quên được: "Mấy chục năm rồi mới được tắm nước phông tên".

Những ngày sau đó, đám con nít trong xóm cứ ríu rít bu quanh các anh bộ đội. Ông Bảo kể các anh có tác phong, kỷ cương vô cùng nghiêm túc, mà đối với trẻ con lại dễ gần, dễ mến thành ra mấy đứa con nít như ông cứ chạy theo để chơi cùng.

"Mấy ảnh dạy cho tôi và mấy đứa con nít hát vầy nè: Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh. Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng…", ông Bảo nghẹn ngào rồi nói tiếp: "Đâu phải ai cũng có được những kỷ niệm đó đâu…".

Sự kế thừa kiên cường

Chỉ vài ngày được sống chung với bộ đội nhưng trong thời khắc thiêng liêng của dân tộc, hạt giống đời lính đã âm thầm nảy nở trong lòng ông Bảo mà ngày ấy còn là cậu bé 11 tuổi.

Như một sự tiếp nối đầy tự hào, mười năm sau (1985), ông Bảo trở thành lính tình nguyện của Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia chiến đấu chống quân Pol Pot tại Campuchia.

"Khi thì hành quân ngày đêm, lúc băng rừng lội suối, tôi cũng mang cái ruột tượng đựng 7-9kg gạo, cơm không kịp ăn, nước không có uống. Tôi sực nhớ câu nói của các anh lính ngày 30-4-1975 rằng mấy chục năm kháng chiến không biết tắm nước phông tên là gì. Còn tôi suốt bốn năm chiến trường cũng có biết cái gì là nước phông tên đâu", ông Bảo cười.

Nhưng ngay lập tức giọng ông chùng xuống khi nhắc đến những "thằng bạn" năm nào trên đất Campuchia.

"Ngày xưa lính chúng tôi qua Campuchia đều gọi nhau là đồng hương. Tại vì mình đi xa Tổ quốc, mình qua xứ người thì những người lính cầm súng như mình không chỉ là đồng chí, đồng đội mà trên tất cả còn đều là đồng hương với mình".

Trong quân ngũ, ông Bảo luôn tự hào vì được rèn giũa lòng yêu nước, thương dân, tinh thần tự cường, dũng cảm và kỷ cương quân đội. Nhưng cũng chính những năm tháng đó, ông tận mắt chứng kiến sự chia ly, mất mát và khốc liệt của chiến tranh.

Bằng trái tim của một người trai trẻ, ông đau đớn khôn nguôi khi có những chiến sĩ "đồng hương" đã chết trên tay mình.

"Làm sao tôi quên được những đồng hương của tôi đã "mãi mãi tuổi hai mươi". Tôi còn sống để ngắm nhìn non sông tươi đẹp sau 50 năm độc lập, nhưng biết bao đồng hương của tôi vẫn còn nằm lại ở những cánh rừng biên giới Campuchia. Họ có về được đâu…", ông Bảo nghẹn ngào, không thể nói thêm lời nào…

Kế thừa tinh thần kiên cường của đoàn quân cách mạng về Sài Gòn ngày 30-4-1975, ông Bảo cùng đồng đội đã vượt qua rất nhiều gian nguy để tình nguyện cứu giúp nước bạn Campuchia.

Nhiều bữa họ phải gọt bỏ những phần cơm nắm mốc meo, chia nhau từng lõi cơm còn ăn được. Có những chiến sĩ phải bẻ ống nước cất nhỏ xíu thoa lên môi đồng đội cầm cự qua cơn khát. Có những ngày họ phải ôm thi thể đồng đội đẫm máu trên tay...

Nhưng tất cả không một ai sờn lòng vì đã kế thừa tinh thần anh hùng của người lính Cụ Hồ.

Háo hức đón chiến sĩ ở chung nhà ngày 30-4 - Ảnh 2.Những bước chân Việt Nam tái hiện lịch sử hào hùng của dân tộc dịp lễ 30-4

Những bước chân Việt Nam với chủ đề Đường đến hòa bình tái hiện những giai đoạn lịch sử trong hành trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc trong thế hệ trẻ.

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2025

Mưa đá tại Hà Giang khiến 662 hộ bị ảnh hưởng, thiệt hại hơn 3,5 tỷ đồng

 

Mưa đá tại Hà Giang khiến 662 hộ bị ảnh hưởng, thiệt hại hơn 3,5 tỷ đồng


TPO - Trong hai ngày 23 - 24/4/25, mưa đá kèm theo gió lốc tại huyện Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang) khiến nhiều nhà ở, chuồng trại, hoa màu của người dân bị ảnh hưởng. Tổng thiệt hại khoảng 3,5 tỷ đồng.

Như Tiền Phong đưa tin, mưa đá xảy ra ở Hà Giang làm nhiều mái nhà thủng lỗ chỗ về việc xuất hiện trận mưa đá kèm giông lốc kéo dài khoảng 20 phút, với hạt đá to 1 - 3 cm trên địa bàn huyện Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang) vào ngày 24/4/25.

Trao đổi với phóng viên, ông Tề Văn Lâm, quyền Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Mèo Vạc cho biết, mưa đá không chỉ xuất hiện trên địa bàn huyện vào thời điểm 15h ngày 24/4, trước đó, vào đêm 23 và rạng sáng ngày 24/4, tại các xã Pải Lủng, Tát Ngà... cũng đã xảy ra mưa đá kèm gió lốc, khiến một số nhà dân bị tốc mái, hoa màu bị thiệt hại.

Mưa đá tại Hà Giang khiến 662 hộ bị ảnh hưởng, thiệt hại hơn 3,5 tỷ đồng ảnh 1
Mưa đá gây thủng mái nhà người dân ngày 24/4 tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Mèo Vạc, tính đến 16h ngày 25/4, có 662 hộ/ 6 xã thuộc địa bàn huyện bị ảnh hưởng về nhà ở. Mưa đá, dông lốc gây thiệt hại 35.263 tấm fibro xi măng, 100 tấm úp nóc, 436 m2 tôn, 09 cây xà các loại, 428.946 viên ngói, ước thiệt hại khoảng hơn 3 tỷ đồng. Có 45 hộ/ 2 xã bị thiệt hại về chuồng trại, 1707 tấm fibro xi măng, 40m2 tôn hư hỏng, thiệt hại 50 con gia cầm, ước thiệt hại 95,27 triệu đồng.

Về sản xuất, 45 ha cây trồng hàng năm gồm ngô, dưa chuột, đậu, bí, ... trên địa bàn huyện thiệt hại 30 - 70%, mức thiệt hại 375 triệu đồng***.

Ngoài*** ra, 1 công trình văn hóa cũng bị thiệt hại ở mức dưới 10%.

Như vậy, tổng thiệt hại ước tính khoảng hơn 3,5 tỷ đồng.

Mưa đá tại Hà Giang khiến 662 hộ bị ảnh hưởng, thiệt hại hơn 3,5 tỷ đồng ảnh 2

Mưa đá to, có đường kính từ 1 - 3 cm.

Trước tình trạng đó, UBND huyện Mèo Vạc đã chỉ đạo UBND các xã huy động lực lượng tại chỗ tham gia giúp đỡ các hộ bị thiệt hại khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra; tiếp tục tuyên truyền cho nhân dân chủ động chằng néo nhà cửa, phòng chống thiên tai ngay từ đầu mùa. Đồng thời, huyện cũng chỉ đạo các xã phải thường xuyên cập nhật, theo dõi tình hình thiên tai trên hệ thống loa đài và các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời tổng hợp báo cáo tỉnh và huyện.

Sữa giả: Hậu kiểm đừng 'cưỡi ngựa xem hoa'

 Thời sự Bình luận

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 26/04/2025 14:21

Sữa giả: Hậu kiểm đừng 'cưỡi ngựa xem hoa'

Mới đây Sở An toàn thực phẩm TP.HCM đã vào cuộc kịp kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm ở các cơ sở sản xuất kinh doanh sữa chế biến, sản phẩm dinh dưỡng, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt...

sữa giả - Ảnh 1.

Đường dây sản xuất, kinh doanh sữa giả bị cơ quan chức năng triệt phá khiến nhiều người bức xúc - Ảnh: TTO

Chi cục Quản lý thị trường TP.HCM dù chưa phát hiện sữa giả như phản ánh tại một số địa phương khác vẫn tiếp tục phối hợp để quản lý, kiểm tra đột xuất các cơ sở có nguy cơ gian lận, hàng giả.

Đây là những động thái ra tay cần có với vụ hơn nửa triệu loại sữa bột giả ở các địa phương tại miền Bắc vừa bị phát giác mà đến nay nhiều cơ quan chức năng vẫn chưa thể hiện hết trách nhiệm của mình.

Vụ 600 loại sữa giả bắt đầu từ một nhà máy của 2 doanh nghiệp, sau đó thành "hệ sinh thái" với 9 công ty sản xuất, phân phối sữa bột giả suốt thời gian dài. 

Thế nhưng điều đáng nói trong 4 năm cơ quan chức năng không kiểm tra, phát hiện vi phạm!

Trong khi đó, năm 2024, theo Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban chỉ đạo 389), các bộ, ngành, lực lượng chức năng, đơn vị, địa phương phát hiện, bắt giữ, xử lý 138.000 vụ vi phạm về gian lận thương mại, sản xuất, mua bán hàng giả, hàng kém chất lượng... nhưng vắng bóng các loại sữa giả trên.

Doanh nghiệp sữa "khi đủ điều kiện" được đăng ký công bố, tự sản xuất và quản lý bởi các chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm địa phương; còn chất lượng không qua khâu giám sát đầu vào.

Vì vậy, không khó để hiểu vì sao 4 năm qua hàng triệu sản phẩm được bày bán công khai trên thị trường nhưng các cơ quan chức năng dường như bỏ trống.

Giống như cơ chế nhiều nước trên thế giới, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, chế độ ăn đặc biệt và sữa được áp dụng cơ chế hậu kiểm, nhằm giúp doanh nghiệp giảm thủ tục hành chính, chi phí và thời gian.

Và thực tế nhiều sản phẩm sữa tự công bố dưới sự kiểm nghiệm của đơn vị thứ ba, thay vì phải kiểm nghiệm độc lập dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước. Đây là kẽ hở rất lớn để gian lận thương mại.

Chưa hết, hậu kiểm còn nặng tính hình thức. Doanh nghiệp được thông báo trước khi đoàn kiểm tra đến; hoặc đến kiểm tra sản phẩm rõ ràng kém chất lượng nhưng đơn vị đánh giá thiếu năng lực, không đánh giá đúng; hoặc "mắt nhắm mắt mở" với kết quả...

Cuối cùng mẫu số chung hậu kiểm cho ra kết quả... như mong muốn!

Một thực tế ai cũng thấy là muốn tránh những dàn xếp hay kẽ hở cho doanh nghiệp gian dối, hậu kiểm cần phải tiến hành đột xuất, lấy mẫu diện rộng và bắt buộc kiểm tra xác suất định kỳ.

Nếu cho rằng doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý chuyên ngành của cơ quan A, cơ quan A mới đủ quyền kiểm tra; hoặc chỉ có thể tiến hành kiểm tra đối với các doanh nghiệp này khi phát hiện dấu hiệu vi phạm trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao...

Việt Nam đã có đầy đủ bộ máy cơ quan để kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm, hàng giả, hàng lậu, hàng nhái; vậy các cơ quan này đã ở đâu trong suốt 4 năm qua với vụ sữa giả? Rõ ràng, qua vụ sữa giả, vấn nạn buông lỏng quản lý đáng báo động.

Tình trạng sữa giả tồn tại nhiều năm không chỉ đến từ hậu kiểm qua loa, quản lý buông lỏng mà còn "lỏng" ở các nội dung liên quan quảng cáo - một lĩnh vực đang nóng với nhiều sai phạm gần đây.

Cần ràng buộc trách nhiệm liên đới với người nổi tiếng, KOL... khi quảng cáo sai sự thật hoặc quảng cáo láo cho sản phẩm; cần có chế tài mạnh hơn, cấm quảng cáo có thời hạn, phạt tiền lớn lẫn phạt tù chứ không phải khi xảy ra các vụ lùm xùm thời gian gần đây mới tính đến chuyện sửa quy định, sửa luật.

Khi đã lập lại hàng rào trong việc kiểm tra, đánh giá; khi có sự phối hợp từ nhiều ban ngành; khi đã nhận diện đủ "khoảng trống" sau phân phối, khi đó mới kiểm soát và ngăn chặn hiệu quả tình trạng sữa giả, sữa không đảm bảo chất lượng lưu thông trên thị trường.

Sữa giả: Hậu kiểm đừng 'cưỡi ngựa xem hoa' - Ảnh 2.Huế phát công văn rà soát việc kinh doanh sữa, chưa phát hiện sữa giả

Sở Y tế TP Huế đã có công văn yêu cầu kiểm tra, rà soát lại việc kinh doanh các loại sữa giả vừa bị Bộ Công an phát hiện trên địa bàn, đến nay chưa phát hiện trường hợp nào.

50 năm Sài Gòn - TP.HCM - Kỳ 6: Đường Phạm Văn Đồng đi sân bay nhanh ơi là nhanh

 Thời sự Phóng sự

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 26/04/2025 13:01

50 năm Sài Gòn - TP.HCM - Kỳ 6: Đường Phạm Văn Đồng đi sân bay nhanh ơi là nhanh

Dài gần 14km với 12 làn xe, đường Phạm Văn Đồng với cây cầu Bình Lợi sừng sững bắc qua sông Sài Gòn như một biểu tượng đón chào tất cả mọi người.

đường Phạm Văn Đồng - Ảnh 1.

Bà Trần Thị Bé, chứng nhân sự đổi thay của con đường này đã đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân - Ảnh: YẾN TRINH

Sau một ngày miệt mài, 17h người xe nườm nượp ngược xuôi trên đường Phạm Văn Đồng (TP.HCM) từ vòng xoay ngã năm hướng sân bay xuống các giao lộ Nguyễn Thái Sơn, Lê Quang Định, Phan Văn Trị, Nguyễn Xí rồi cầu Bình Lợi sắc đỏ đến vòng xoay Bình Triệu - quốc lộ 13... về với tổ ấm của mình.

Bộ mặt tuyến đường với 12 làn xe dài gần 14km đi qua các quận Tân Bình, Bình Thạnh, Gò Vấp, Thủ Đức đã đổi thay, phát triển quá nhiều sau hơn chục năm thông xe.

Nhà hẻm quanh co thành mặt tiền khang trang

"Cho ly nước cam ít đường dì ơi!", chúng tôi dừng lại ở một xe nước vỉa hè trên đường này, đoạn qua quận Bình Thạnh. Vắt cam xong, bà Trần Thị Bé (73 tuổi) quay sang bán đồ ăn vặt cho mấy em nhỏ vừa đi ngang.

Bán nước giải khát là nghề mưu sinh của bà Bé từ năm tháng nay bên cạnh tiệm tạp hóa bà mở từ hồi con đường mới thông xe. Lòng thoải mái vì mùa nắng buôn bán đắt hàng, người đàn bà tóc bạc như cước cao hứng kể chuyện xưa chuyện nay của khu này. 

Chỉ tay ra mé giao lộ Phạm Văn Đồng - Nguyễn Xí bà nói: "Đó, ngay khúc đó cách đây hơn chục năm là làm lễ thông xe con đường này, cắt băng đỏ. Bà con đi lại nhanh chóng, khỏe re chứ trước đó là đường nhỏ lầy nước lắm".

Năm lên 2 tuổi (1954), bà Bé cùng sáu anh chị em được ba mẹ dắt díu từ Hải Dương vào Sài Gòn, mở ra trang đời mới. Ban đầu gia đình bà tá túc nhà người dì ở khu Nguyễn Thượng Hiền (Phú Nhuận), sau năm 1975 dạt ra mé này. "Lúc đó đất đai nhiều, nhà tôi cỡ 1.000m2, nhà cửa sơ sài, làm ruộng, be bờ nuôi cá, trồng mía, khoai sắn, tỏi, ớt... gánh đi bán", bà kể.

Từ thời điểm đó đến tận những năm 2000, nhắc đến khu vực rộng lớn này người dân còn nhớ khu nghĩa địa, rồi khu xóm Thơm có nhà ga, xe lửa chạy rầm rập. Giải phóng mặt bằng năm 2012, đất nhà bà chỉ còn lại gần 40m2. Sẵn tiền đền bù, bà xây căn nhà nhỏ ở với chồng và hai người con. Hai con có việc làm ổn định, vậy nên bà cho rằng nhà mặt tiền có lợi cho việc buôn bán, đi lại, cuộc sống tươi mới, sôi động hơn.

Giọng xởi lởi, ông Nguyễn Kim Quang (71 tuổi, ngụ quận Gò Vấp) bớt cho một vị khách mấy ngàn đồng khi người này ghé mua mấy thanh chặn cửa. Ông thuê mặt bằng chung với một bạn hàng để bán đồ gia dụng cũ trên đường này, vừa là chỗ bán hàng vừa là chỗ ngả lưng.

"Hồi đó tôi bán ở chợ Bà Chiểu nhưng mặt bằng nhỏ hơn nhiều, qua đây rộng rãi có chỗ cho khách để xe. Đường Phạm Văn Đồng xe đông, sáng người ta ghé mua nhiều. Lái bỏ hàng cho tôi thường đi từ Thủ Đức lên đây tiện lắm", người đàn ông đã theo nghề lạc xoong này hơn 20 năm, chia sẻ.

Mặt bằng khang trang lại nằm trên tuyến đường lớn nên chuyện buôn bán của ông Quang khởi sắc hơn. Bên này là đồ gia dụng, bên kia đồ trang trí, nữ trang, sách cũ, dụng cụ điện nước... sắp xếp ngăn nắp trên nền gạch sáng trưng. 

Từ 8h sáng bán tới tối mịt, ông cười: "Cách đây hơn 20 năm khi chưa có đường này, mỗi lần đi ngang tôi sởn da gà. Hồi đó ai đi xe ôm mà nói vô xóm Thơm là không ai dám chở vô vì nghĩa địa không à, giang hồ nọ kia. Còn bây giờ tầm 16h là người ta dọn hàng ra, quán ăn, nước giải khát bán về đêm nhộn nhịp lắm...".

Chiều mát nếu có bạn hú hoặc trúng mánh, ông ngồi lai rai vài chai bia với mấy người bạn. "Trưa tôi thường mua cơm, đồ ăn ở mấy quán gần đây cũng rẻ và tiện", ông nói.

đường Phạm Văn Đồng - Ảnh 2.

Một đoạn đường Phạm Văn Đồng đầy sức sống đi qua các quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh và Thủ Đức - Ảnh: YẾN TRINH

"Từ sân bay chạy lên Thủ Đức có một đường một"

Thật vậy, con đường Phạm Văn Đồng hiện hữu đã giải quyết bài toán giao thông, rút ngắn thời gian đi lại của người dân. Đường lớn thông thoáng với cây cầu Bình Lợi sừng sững bắc qua sông Sài Gòn như một biểu tượng đón chào tất cả mọi người. Chúng tôi còn nhớ hồi cây cầu mới đưa vào sử dụng, chiều tối bạn trẻ rủ nhau ra hóng gió, chụp ảnh check-in nhộn nhịp như đi hội.

Bà Bé kể trước đây muốn đi xuống mé Thủ Đức, Đồng Nai, nhà bà thường băng qua cây cầu hỏa xa bề ngang có chút xíu (cầu Bình Lợi cũ), "hồi hộp quá trời". Còn ngược ra Phú Nhuận hoặc lên sân bay họ phải đi vòng vèo. Bây giờ bà tuổi cao ít đi lại nhưng các con đi làm khỏe hơn ngày trước rất nhiều.

Đi công việc ngang qua đây, bà Ngọc Hà (56 tuổi, ngụ đường Quang Trung, quận Gò Vấp) cho biết: "Hồi đó tôi hay ghé khu ga xóm Thơm chơi với mấy người bạn, khúc giữa Phạm Văn Đồng xưa chưa có đường lớn. Toàn bộ ở đây là nhà trong hẻm hết, làm đường rồi mới lòi ra mặt tiền. Hồi Nhà nước làm đường, dân tình bàn tán xôn xao, hồ hởi, làm xong là chạy xe ra coi".

Có một khoảng thời gian, bà Hà còn kinh doanh quán ăn trên đường này, cứ chiều tối là tấp nập khách khứa. Giọng hào hứng, bà nói: "Từ nhà tôi qua Phạm Văn Đồng gần xịt. Giờ tôi chuyển qua lĩnh vực trang trí nội thất, công việc hay đi lại qua đường này. Chiều cuối tuần rảnh, tôi chở cháu ngoại ra hóng mát, lựa đồ lạc xoong, mua đồ chơi, mấy trái banh cho cháu".

Nhắc chuyện ngày xưa từ hướng sân bay Tân Sơn Nhất chạy xuống mé Thủ Đức xa vời vợi, giờ bà nói chắc nịch: "Từ hướng sân bay mà bắn (chạy) lên Thủ Đức là có một đường một, rất thoải mái. Tôi đi chừng 15-20 phút, còn hồi xưa đi phải một tiếng vì lòng vòng, kẹt xe tứ tung".

Tạm biệt bà Hà, chúng tôi thấy bên đường những nhóm bạn trẻ, nhân viên văn phòng... đã ngồi vào những chiếc ghế trong các quán nướng, quán lẩu. Những ly nước sóng sánh, mùi đồ ăn sực nức và xe cộ vèo vèo cùng làn gió mát như muốn nói rằng con đường này đã giúp ích thị dân nhiều lắm.

Những ngày tháng 4 lịch sử, người dân ngược xuôi trên đường Phạm Văn Đồng, ngắm nhìn máy bay tấp nập cất - hạ cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất mà lòng càng thêm rộn rã. Đồng bào các nơi đang nao nức về TP.HCM cùng niềm tự hào và niềm vui kỷ niệm 50 năm ngày Tổ quốc được hòa bình, non sông liền một dải...

Tuyến đường Phạm Văn Đồng thuộc dự án Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - vành đai ngoài đi qua các quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh và Thủ Đức, bắt đầu từ ngã năm Nguyễn Thái Sơn (Gò Vấp) đến nút giao thông Linh Xuân (Thủ Đức), giải quyết nhu cầu đi lại của người dân một khu vực rộng lớn. TP đã di dời gần 4.000 hộ dân với diện tích hơn 60ha, hơn 40 công trình hạ tầng.

Sau lễ thông xe đợt 1 vào tháng 9-2013 đoạn từ nút giao Nguyễn Thái Sơn - Nguyễn Kiệm đến ngã tư Bình Triệu dài hơn 4,7km, con đường được đặt tên cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Toàn tuyến của dự án hoàn thành năm 2014 dài 13,6km. Có 13 nút giao thông được xây dựng trên toàn tuyến, như nút giao thông Nguyễn Thái Sơn (Gò Vấp) có quy mô lớn nhất với vòng xoay bán kính 42m, mặt đường rộng 18m cho bốn làn xe và vỉa hè rộng 5m. Nút giao thông quốc lộ 13 (Thủ Đức) gồm hai cầu vượt, bên dưới có vòng xoay bán kính rộng 25m.

--------------------

Tính đến nay tôi đã gần 20 năm làm dân ngụ cư khu vực Nhà Bè, Bình Chánh, đi về trên đại lộ Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Hữu Thọ. Tôi được chứng kiến con đường bù lún mỗi năm, những mảnh ruộng mọc lên cao ốc, từng khu dân cư từ vắng lặng đến sôi động, đông đúc, lại thêm cơ duyên nghề nghiệp được tìm hiểu về sự đổi thay, được gặp những người đã trực tiếp xắn tay từ ngày đầu. Đất ở mà thành đất thương...

Kỳ tới: Cơ hội đổi thay từ ánh mắt em bé Nhà Bè

50 năm Sài Gòn - TP.HCM - Kỳ 6: Đường Phạm Văn Đồng đi sân bay nhanh ơi là nhanh - Ảnh 3.50 năm Sài Gòn - TP.HCM - Kỳ 5: Giã từ ngô khoai, thành đô thị mới

Trưa giữa tuần nắng như đổ lửa, từng tốp công nhân miệt mài thi công cầu cạn của tuyến đường vành đai 3, đoạn đi xuyên qua khu đô thị mới Vinhomes Grand Park (TP Thủ Đức, TP.HCM).

Bài viết của Chủ tịch nước Lương Cường nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

 

Bài viết của Chủ tịch nước Lương Cường nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

TPO - Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường có bài viết chia sẻ về những bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trong kỷ nguyên mới.

Báo Tiền Phong trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:

THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VỮNG MẠNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, là một thắng lợi vĩ đại của lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[1]. Thắng lợi vĩ đại đó đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bài viết của Chủ tịch nước Lương Cường nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ảnh 1

11h30 phút ngày 30/4/1975, xe tăng quân Giải phóng băng qua cánh cổng sắt, đánh chiếm Phủ Tổng thống ngụy Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của quân địch, kết thúc oanh liệt cuộc trường chinh 30 năm chống ngoại xâm của dân tộc. Ảnh: Mai Hưởng/TTXVN.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả của nhiều nhân tố, đó là: Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chiến tranh, phương pháp cách mạng đúng đắn; là tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta trong suốt 21 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ, hy sinh; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự chi viện to lớn của hậu phương miền Bắc và ý chí quật khởi của tiền tuyến lớn miền Nam; là tình đoàn kết chiến đấu, gắn bó keo sơn giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, cùng với sự giúp đỡ to lớn, quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Đóng góp vào thắng lợi vĩ đại đó có những chiến công xuất sắc của lực lượng vũ trang nhân dân, sự hy sinh của hàng triệu anh hùng, liệt sỹ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976) ghi nhận: “Đại hội tuyên dương cán bộ, chiến sỹ các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, suốt mấy chục năm ròng đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, từ gậy tầm vông, súng kíp đã lớn lên thành những binh đoàn hùng mạnh, đánh thắng những kẻ thù hung ác, lập được những chiến công oanh liệt từ trận Điện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của quân đội ta, cùng với toàn dân viết nên bản anh hùng ca kỳ diệu của chiến tranh cách mạng Việt Nam!”[2].

Bài viết của Chủ tịch nước Lương Cường nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ảnh 2

Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lương Cường. Ảnh: TTXVN.

Để thực hiện thành công những nhiệm vụ chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân phát triển lớn mạnh, làm nòng cốt cùng toàn dân chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, nổi bật:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân.

Đây không chỉ là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà còn là nguyên tắc bất di, bất dịch trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, Nhà nước ta. Ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 mở rộng (tháng 3/1957) đã ra Nghị quyết về vấn đề xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Nghị quyết xác định phương châm “tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hóa và hiện đại hóa”[3] và xác định xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, Nghị quyết chỉ rõ: “Yếu tố quyết định là cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ”[4].

Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự đùm bọc, nuôi dưỡng, giúp đỡ của nhân dân, quân đội ta đã liên tục phát triển, ngày càng lớn mạnh, có đủ các thành phần, lực lượng lục quân, hải quân, phòng không - không quân và các quân đoàn chủ lực; cùng các lực lượng khác và toàn dân tạo nên sức mạnh tổng hợp lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Mỹ - Ngụy.

Cùng với lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng Công an nhân dân và dân quân tự vệ. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng Công an nhân dân thành lực lượng chuyên chính tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, liên hệ mật thiết với quần chúng, một lực lượng chiến đấu vững mạnh, có tính chất vũ trang, có tổ chức chặt chẽ, tinh thông về nghiệp vụ và có trình độ khoa học, kỹ thuật; đặt lực lượng Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo “trực tiếp, toàn diện và thống nhất về mọi mặt”[5] của Đảng.

Đối với lực lượng dân quân tự vệ, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chủ trương “lấy củng cố làm chủ yếu, đồng thời phát triển từng bước vững chắc ở khắp mọi nơi, trọng tâm là các vùng xung yếu," “các xí nghiệp, công, nông trường mới xây dựng đều phải có tổ chức tự vệ, có cán bộ phụ trách chỉ đạo chặt chẽ”[6]; theo đó, lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng, phát triển vững chắc, rộng khắp, vừa bảo đảm lao động sản xuất, vừa bảo đảm nhiệm vụ trị an, tác chiến khi cần thiết.

Bài viết của Chủ tịch nước Lương Cường nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ảnh 3

Sáng 30/4/1975, từ khắp mọi hướng, hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp cùng bộ binh đồng loạt thẳng tiến Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng Sài Gòn. Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN.

Dự báo thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là tiền đề quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, đất nước còn phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới, nhất là những hạn chế, yếu kém, mâu thuẫn, trong xã hội chưa được giải quyết dứt điểm; các thế lực thù địch tăng cường chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Tình hình đó đòi hỏi việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc càng trở nên cấp thiết, có ý nghĩa quyết định quá trình phát triển, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của lực lượng vũ trang nhân dân.

Bối cảnh mới đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị bằng những chủ trương, giải pháp quyết liệt, đồng bộ, không ngừng, không nghỉ, toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Cùng với nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, Đảng, Nhà nước tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân, gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống.

Hai là, đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần của lực lượng vũ trang nhân dân.

Quán triệt sâu sắc luận điểm của V.I.Lênin: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[7] và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”[8], Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng công tác xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của lực lượng vũ trang nhân dân và toàn dân, đặc biệt là trong cuộc kháng chống Mỹ, cứu nước, khi mà quân và dân ta phải chiến đấu chống lại kẻ thù hung bạo, có tiềm lực kinh tế và quân sự bậc nhất thế giới.

Đảng ta chỉ rõ: “Về mặt tư tưởng, phải quán triệt hơn nữa quan điểm trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh nhất định thắng lợi; phải bồi dưỡng ý chí kiên cường, tinh thần anh dũng chiến đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm giết giặc cứu nước, tiến tới hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; phải đề cao cảnh giác, khéo léo bảo toàn và che giấu lực lượng, chống phiêu lưu mạo hiểm, nóng vội; phải giáo dục ý thức thắng không kiêu, bại không nản”[9].

Bài viết của Chủ tịch nước Lương Cường nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ảnh 4

Bộ đội lên máy bay vận tải vào miền Nam tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn (tháng 4/1975). Ảnh: TTXVN.

Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, ác liệt, Đảng ta chủ trương trước hết phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tiến hành chỉnh huấn chính trị trong toàn quân, củng cố lập trường giai cấp công nông, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần yêu nước kết hợp chặt chẽ với tinh thần quốc tế chân chính, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng và bồi dưỡng chí khí chiến đấu; khắc phục tư tưởng giảm sút ý chí chiến đấu, công thần, kiêu ngạo, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật. Do xây dựng được nhân tố chính trị, tinh thần vững chắc, lực lượng vũ trang nhân dân đã không sợ gian khổ, hy sinh, không chịu khuất phục trước kẻ thù hung bạo, chiến đấu anh dũng, mưu trí, sáng tạo, lập nên những chiến công hiển hách, cùng toàn dân giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; làm rạng danh đất nước, con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân được tạo nên bởi nhiều nhân tố; trong đó, nhân tố chính trị, tinh thần là cơ bản nhất. Quán triệt quan điểm “Người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tình hình hiện nay tiếp tục xác định xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là vấn đề có tính nguyên tắc, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân. Quán triệt nguyên tắc này, trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân về chủ trương, đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh của Đảng. Trên cơ sở thấu triệt quan điểm “bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên", lực lượng vũ trang nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, thường xuyên nắm chắc tình hình, tham mưu và trực tiếp xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không để bị động bất ngờ, ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, mất an ninh, trật tự, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Trước sự xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương - Bộ Công an và cấp ủy, chỉ huy, chính quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân về mọi mặt; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân đủ về số lượng, có tổ chức, cơ cấu, thành phần đồng bộ, cân đối, hợp lý, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Nghị quyết của Bộ Chính trị (họp từ ngày 6 đến ngày 10/12/1962) về tình hình, phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam đã đề ra phương châm xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở miền Nam, trong đó xác định: “Phát triển rộng rãi du kích và dân quân, nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương”[10]; đồng thời, xác định rõ phương hướng và số lượng cụ thể của mỗi thứ quân cần tập trung xây dựng ở miền Nam.

Trong cuộc kháng chiến này, Đảng, Nhà nước ta xây dựng, phát triển bộ đội chủ lực gồm các binh chủng và quân chủng. Trong đó, xây dựng các quân đoàn chủ lực làm lực lượng nòng cốt trên chiến trường miền Nam. Quân chủng Phòng không-Không quân, Quân chủng Hải quân được xây dựng và phát triển ngày càng lớn mạnh, cùng nhân dân và các lực lượng khác đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Cùng với đó là việc tổ chức, phát triển các mặt trận, các khối chủ lực lớn ở các khu, bộ đội vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn, đã làm cho bộ đội chủ lực thực sự là lực lượng chủ yếu để thực hiện chiến lược làm chủ và tiến công tiêu diệt địch trên cả nước, cùng toàn dân chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, bộ đội địa phương được xây dựng và phát triển nhanh chóng trên cả nước, có sự phát triển về chất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên miền Bắc, bộ đội địa phương được xây dựng đáp ứng với nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa với nhiều đơn vị bộ binh, phòng không, công binh, pháo binh được thành lập… Trên chiến trường miền Nam, tất cả các quận, huyện, thị xã, tỉnh, thành phố đều tổ chức bộ đội địa phương để phát triển đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, phát triển ba mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị).

Dân quân tự vệ được phát triển rộng khắp theo nguyên tắc có tổ chức đảng lãnh đạo, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, công trường, nông trường, nhà máy, xí nghiệp, với quy mô vừa và nhỏ, phù hợp với các loại hình chiến tranh khác nhau, các tình huống khác nhau.

Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã bảo đảm sự cân đối giữa các thứ quân, lực lượng, phù hợp với sự phát triển của đấu tranh vũ trang cách mạng, với vị trí chiến lược của từng thứ quân, phù hợp với đường lối chiến tranh nhân dân trong từng thời kỳ, trên từng chiến trường và trên cả nước. Mỗi thứ quân, mỗi lực lượng được huấn luyện, rèn luyện toàn diện, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân, cùng toàn dân làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Bài viết của Chủ tịch nước Lương Cường nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ảnh 5

Cờ giải phóng tung bay trên sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. Ảnh: Quang Thành/TTXVN.

Ngày nay, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, lực lượng vũ trang nhân dân cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh, sắp xếp, tổ chức lại, bảo đảm chất lượng, có số lượng, thành phần, tổ chức, cơ cấu phù hợp. Theo đó, lực lượng vũ trang nhân dân cần quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm, hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; về xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, nhất là Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tiếp tục điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân theo hướng tinh, gọn, mạnh gắn với bố trí lại lực lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị; điều chỉnh tổ chức bộ máy Công an nhân dân theo hướng bộ tinh, tỉnh toàn diện, xã vững mạnh, bám cơ sở; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng miền, trên biển. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự, trình độ kỹ, chiến thuật, giáo dục chính trị, rèn luyện toàn diện gắn với bảo đảm tốt hậu cần, kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, bảo đảm tốt vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân; tích cực nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự Việt Nam đáp ứng các loại hình chiến tranh và thực tiễn phát triển của đối tượng tác chiến.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với quan điểm “Người trước, súng sau," Đảng, Nhà nước ta luôn xác định vũ khí, trang bị là nhân tố cơ bản, tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta có nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác cải tiến, bảo đảm vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật cho lực lượng vũ trang theo phương hướng: “kết hợp vũ khí thô sơ, vũ khí thông thường và vũ khí tương đối hiện đại, tiến lên ngày càng hiện đại”[11]. Các biện pháp chính để cải tiến, bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn này là: mua sắm, nhận viện trợ, tự sản xuất trong nước, thu gom của địch; đồng thời, sử dụng thành thạo, sáng tạo các vũ khí, trang bị hiện có với hiệu suất cao. Nhờ đó, lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân đã có một hệ thống vũ khí, trang bị tương đối đồng bộ, tương đối hiện đại, bảo đảm cho chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu được nâng lên, đủ sức đánh bại kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt trội về vũ khí, trang bị.

Song song với bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, phát triển và vận dụng sáng tạo, linh hoạt, nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự phù hợp trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Quy luật phát triển của cuộc kháng chiến này ở miền Nam là kết hợp đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, kết hợp chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ. Trong đó, đấu tranh vũ trang giữ vai trò quyết định và chi phối trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến bằng những chiến dịch quân sự quy mô lớn. Các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân đã vận dụng linh hoạt, mềm dẻo và không ngừng sáng tạo nghệ thuật tác chiến trong từng trận đánh, từng chiến dịch, nhất là nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng, nghệ thuật cơ động lực lượng, nghệ thuật tạo lập thế trận, nghệ thuật nghi binh, nghệ thuật chọn hướng, mũi, mục tiêu tiến công và cách đánh… tạo nên ưu thế vượt trội về sức mạnh để giành chiến thắng từng bước, tiến đến thắng lợi cuối cùng.

Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, an ninh thế hệ mới, hiện đại cho lực lượng vũ trang trở thành xu thế của nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện đại hóa lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta, phù hợp với điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và xu thế phát triển khoa học kỹ thuật quân sự, an ninh trên thế giới.

Để hiện thực hóa chủ trương đó, cùng với xây dựng con người là nhân tố trung tâm, có ý nghĩa quyết định, cần quan tâm bảo đảm tốt vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân, mà giải pháp có tính bền vững lâu dài là phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh. Tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối về phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh với phương châm chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, bảo đảm tốt vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang trong mọi tình huống. Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm thế giới để phát triển nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới.

Năm là, xây dựng và phát triển mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, cùng toàn dân thực hiện thắng lợi đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Dựa chắc vào nhân dân, tuyệt đối trung thành, phục vụ nhân dân và đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân vừa là nguyên tắc căn bản trong nâng cao bản chất cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc của lực lượng vũ trang, vừa là nét đẹp truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra là nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”[12].

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sự nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che, giúp đỡ của nhân dân, được nhân dân cung cấp nhân lực và vật lực với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã giúp lực lượng vũ trang nhân dân nhanh chóng phát triển lớn mạnh. Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 12/1962) xác định: “Quá trình phát triển của cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là quá trình phát triển của một cuộc chiến tranh du kích, toàn dân, toàn diện và trường kỳ, chống lại một kẻ địch mạnh, tàn bạo và thâm độc”[13]. Vì vậy, xây dựng và phát triển bền vững mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, cùng toàn dân chiến đấu và chiến thắng không chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn là sách lược chủ yếu để thực hiện thắng lợi đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

Bài viết của Chủ tịch nước Lương Cường nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ảnh 6

Các đơn vị bộ binh và xe tăng tiến vào Sài Gòn trên xa lộ Biên Hòa. Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm 1959-1960, lực lượng vũ trang đã hỗ trợ đắc lực cho nhân dân miền Nam vùng lên, tiến hành phong trào Đồng khởi, làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Trong những năm đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), quân và dân miền Nam đẩy mạnh phương châm đấu tranh “hai chân, ba mũi," kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; đồng thời, vận động đồng bào trong các ấp chiến lược đấu tranh, kết hợp với các đòn tiến công quân sự và binh vận, phá vỡ kế hoạch lập ấp chiến lược của Mỹ - ngụy. Khi đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” (1965-1968), quân và dân ta tiếp tục thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, chủ động tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, đồng thời đánh thắng các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là những biểu tượng sinh động nhất của sức mạnh toàn dân kháng chiến với lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ cần không ngừng phát huy truyền thống vẻ vang, đặc biệt là xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân, bảo vệ nhân dân. Phát huy bản chất, truyền thống và thành tựu đã đạt được lực lượng vũ trang nhân dân cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác dân vận bằng những việc làm thiết thực nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và cuộc sống bình yên của nhân dân; xung kích đi đầu trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, sẵn sàng có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang và nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh, phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Khẳng định sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng với yêu cầu cao của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Lực lượng vũ trang nhân dân đã làm tròn sứ mệnh cao cả, cùng toàn dân hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có những bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng và phát huy hơn nữa, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới./.