(thứ ba 07/6/11) -
nỗi cơ cực cũng không thua gì ở HN.
| Hạnh Nguyễn / Hạnh Nguyễn |
| Copy từ http://www.hatnang.net/showthread.php?t=42264; đăng ngày 06/07/11, mục Tơ Lòng Vấn Vương / Những câu chuyện nhiều người thích... |
| Mẹ đã đau lòng đến thế nào khi sinh ra gã, mẹ cũng đã khóc quá trời khi từng ngày nhìn gã phải lớn khôn. Thật tâm mẹ muốn gã bé thơ mãi mãi, muốn ở mãi trong vòng tay mẹ. Mà mẹ cũng biết, ừ thì gã có lớn lên đó nhưng tâm hồn gã mãi mãi chẳng lớn lên được tí teo nào đâu. |
| Lúc còn nhỏ thì không sao, gã cũng không ấn tượng với dáng đi chấm phẩy của mình. Gã chỉ thấy sao vặn vẹo mà đau quá thôi, nhìn gã chập chững tập đi, mẹ gã nhìn gã mà khóc. Mắt mẹ khóc nhưng miệng mà cười, môi mẹ nói rằng, ráng bước đi đi con. Tự mình phải bước đi trên đôi chân của mình dù đôi chân ấy có khập khiễng, mẹ muốn gã hiểu ý nghiã sâu xa đó, nhưng trí óc non nớt của gã "giới hạn" sự hiểu biết mẹ à. Nhưng mẹ an tâm, gã nhủ lòng, vì tim gã biết thổn thức khi nhìn mẹ khóc đấy thôi. Gã yêu mẹ nhất, và mẹ yêu gã nhất! |
| Khi gã lớn khôn, mà chỉ nói là nói thế thôi, chớ gã chỉ lớn mà chưa khôn ra bao nhiêu. Chẳng sao cả, gã vẫn sống bên cạnh mẹ. Lớn rồi gã cũng thấy sao nhà mình nhiêu đó hà, không có gì thay đổi, nhìn nhà bên cạnh thấy cái gì cũng to. Thắc mắc hoài không biết hỏi ai, đành hỏi mẹ chứ ai. Hỏi lần đầu tiên, duy nhất và từ đó gã chẳng hỏi thêm, vì hỏi rồi gã thấy mẹ khóc. Mẹ còn hỏi gã thích nhà to hay nhà nhỏ, thích cái gì thì nói mẹ mua cho, muốn ăn gì mẹ nấu cho. Sao mẹ cho mà mẹ khóc, sao mẹ nói mẹ cho mà mẹ lại buồn. Không giống như những lần mẹ cho gã gì đó trước đây… Ngây ngô gã hỏi, ngây ngô trả lời, rồi tự cái ngây ngô ấy gã cũng nhận sự khác biệt của mẹ mình và mẹ người ta. Mẹ mình tóc màu trắng, mẹ người ta tóc vàng vàng đen đen. Mẹ mình tay gân cục cục, mẹ người ta tay trắng và có nhiều màu vàng. Mẹ mình ở căn nhà nhỏ, mẹ người ta ở căn nhà to. Mẹ mình phải thức khuya dậy sớm, mẹ người ta cả ngày trong nhà thôi. Mà mẹ người ta thì thương người ta, mẹ mình cũng thương mình, đôi khi gã cũng thấy mẹ người ta thương mình nữa mà. Phải rồi, mẹ của ai người nấy thương, cũng như nhà của ai người nấy ở. Gã cũng có mẹ có nhà, tội gì làm mẹ khóc khi đặt câu hỏi như thế, gã biết mà, hiểu hết mà, chẳng qua gã không có nhiều từ ngữ để diễn đạt thôi. Buồn thật buồn cho kẻ biết suy nghĩ mà lại không thể diễn đạt, chỉ đứng bên rìa mọi thứ vô tình mà thôi. |
| Là trẻ con thì gã được mẹ chăm lo, lúc ấy tóc mẹ màu đen. |
| Là người lớn thì gã phải chăm lo lại mẹ, vì tóc mẹ bây giờ màu trắng rồi. |
| Gã hiểu thế đấy, nhưng làm gì bây giờ, đôi chân khập khiễng, đôi tay khập khiễng… làm gì bây giờ? Đâu đó ở căn nhà to vọng qua lời nhạc "hai bàn tay trắng nghèo xơ xác nghèo...". gã nghe sao hiểu vậy thôi! Gã thấy thương mẹ quá trời quá đất. |
| Người ta nói ở đời chẳng có chi là đường cùng cả, gã còn có ích. Một lần mẹ bệnh, gã hớt hơ hớt hải bưng bê tô cháo về nhà cho mẹ (Mẹ vẫn bảo gã dại khờ lắm, dại khờ mà biết mẹ bệnh, dại khờ mà biết mẹ cần thuốc, dại khờ mà biết đi mua cháo, dại khờ mà biết chạy thật nhanh về với mẹ sao mẹ!). Nơi gã sống moị người quen nhìn gã rồi, chẳng ai đâu ở không mà chọc với ghẹo, cũng chẳng ai nỡ làm tổn thương gã cả. Vì hễ là con người ai mà chẳng thương chẳng xót những gì thơ dại, bởi thế lần bưng cháo cho mẹ, người ta phát hiện ra gã vẫn còn có ích. Tức là có khả năng lao động kiếm tiền bằng chính sức mình. Từ sau hôm ấy gã thành anh bồi bàn, kêu thế cho nó sang chứ thật ra gã bưng bê hủ tiếu cho hàng hủ tiếu gần nhà thôi. |
| Bắt đầu bưng bê hủ tiếu và trở thành công việc thường nhật kiến cho gã vui, cho mẹ vui, cho tóc mẹ ít trắng đi một chút, cho mẹ không thở dài xót xa khi nghe câu hát: |
| "Mẹ già như chuối chín cây Gió lay mẹ rụng con phải mồ côi Mồ côi khổ lắm ai ơi..." |
| Mồ côi thì ai chẳng khổ, nhưng ai cũng biết với gã nỗi khổ ấy lớn lao biết chừng nào. Bây giờ hằng ngày, hai bàn tay gã vui, hai bàn chân gã vui, cái tô hủ tiếu gã bưng chẳng khi nào bị nghiêng dù gã đi nhiều người nhìn theo ái ngại, sợ đổ mất cái tô hủ tiếu. Mà được ăn hủ tiếu hồi hộp nhìn theo từng bước đi của gã đôi khi làm một vài người cho là thú vị, trước cái ăn phải có "sự kích thích" nào đó thì ăn mới ngon. Người ăn hủ tiếu thích gã, gã thì thích bưng hủ tiếu, "cung" và "cầu" thoả mãn nên cả hai cùng khoái chí lẫn nhau. |
| Vậy là gã sống hạnh phúc bằng cái nghề bưng bê hủ tiếu của mình. Nhưng mà, có một bữa trời mưa, có đứa bé ngồi chờ tô hủ tiếu của gã bưng đến, đứa bé hỏi chớ: "Chú bưng hủ tiếu suốt đời luôn hả chú?". À, nếu có bà mẹ đứa trẻ ở đó hẳn là sẽ la lên "Sao con hỏi vậy với chú, thôi lo ăn đi!" nhưng vì chú bé ngồi một mình và không có mẹ theo kèm, nên nhận được câu trả lời khó nhọc mà cũng khó hiểu từ gã rằng: "Hủ tiếu là cuộc đời!". |
| Đúng rồi, hủ tiếu đâu có chết bao giờ, hủ tiếu đâu có sợ thất nghiệp, hủ tiếu đâu có sợ người ta quên nó. Hôm nay không hủ tiếu thì ngày mai hủ tiếu, hủ tiếu chẳng biến đi đâu cả, chẳng bao giờ mất cả, ăn để sống là qui luật rồi mà! Gã chọn hủ tiếu là cuộc đời là chọn sự bất diệt trong những ngày sống có ích, ngày nào người ta chẳng ăn để sống, không ăn món này thì ăn món kia. Ngày nào cũng có người ăn hủ tiếu, không phải người này thì cũng là người kia. Đâu có gì khó khăn khi chọn hủ tiếu là cuộc đời đâu, gã ngày nào cũng lao động, lao động nhiệt thành nữa ấy chứ. Phải bưng bê bằng tay nè, đi bằng chân nè, suy nghĩ bằng đầu óc nè, suy nghĩ để giữ cho tô hủ tiếu không nghiêng nè. Đã làm việc hết mình như thế thì không đáng quý sao, không đáng trân trọng sao, không đáng được bù đắp gì đó sao. Gã đã có một cuộc đời sống hết mình trọn vẹn bên hủ tiếu, hơn bao giờ hết, mẹ gã hạnh phúc vì nhìn thấy như thế! Mẹ cứ yên tâm rằng gã biết chọn cuộc đời cho mình như thế mà mấy ai hiểu được. |
| songthuong đưa lên hatnang.net |
Copy từ http://www.buaanviet.com/blog/postdetail/639059ba-ea84-4305-863f-12f4fc306c12/canh-chua-bong-dien-dien-dac-san-mua-nuoc-noi;đăng ngày 07/06/2011.
Canh chua bông điên điển: đặc sản mùa nước nổi
Canh chua – Một món ăn rất quen thuộc với mọi người mà chắc có lẽ ai cũng đã từng thưởng thức. Những bát canh chua ngọt ngào được nấu với cá lóc; canh chua bạc hà; canh chua lá giang… làm cho những bữa ăn thêm đậm đà.
Mỗi lần mẹ nấu canh chua là bố con tôi lại ăn tốn cơm hơn, vị chua chua, ngọt ngọt cứ kích thích ăn nhiều thêm mặc dù bụng đã no căng.
Vô Sài Gòn học, một lần đến nhà bạn ở Tiền Giang chơi, tôi được thưởng thức một món canh chua rất độc đáo, phổ biến vùng sông nước Tây Nam Bộ :Canh chua bông điên điển. Có cả câu cả dao nói về món ăn này:
Canh chua điên điển cá linh
Ăn có một mình thì chẳng biết ngon
Vào những mùa nước nổi tháng 7, tháng 8 âm lịch ở các tỉnh Hậu Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp… bông điên điển lại nở vàng rực các con sông, con rạch. Đây cũng là thời điểm những chú cá linh phát triển mạnh, người dân Miền Tây lại có những nồi canh chua cá linh nấu với bông điên điển ngon tuyệt. Ngoài cá linh, thì cá rô khi nấu với bông điên điển cũng rất ngon và đậm đà khó quên.
Để có một nồi canh chua bông điên điển cũng đơn giản như nấu những nồi canh chua khác. Có đầy đủ các loại rau như bạc hà, cà chua, bông súng và những chú cá linh hay cá rô để nguyên con. Nếu nẩu cá rô, khi ăn gắp cá bỏ vào một dĩa nước mắm ớt, để nước mắm thấm đều làm cá thêm đậm đà hơn.Phía trên tô canh chua được rắc thêm ít rau thơm, ớt bột càng làm cho món ăn thêm bắt mắt và ngon miệng hơn.
Bông điên điển bỏ riêng, không bỏ chung vào canh giống các loại rau khác. Khi ăn, có thể bắc nồi canh trên một bếp ga nhỏ để giữa bàn ăn. Bật lửa liu riu để nồi canh luôn nóng. Lấy một ít bông điên điển trụng sơ một vài phút trong nước canh rồi lấy ra ngay. Ăn đến đâu trụng bông điên điển đến đấy,ăn chung với các rau khác và một ít cá mới cảm thấy ngon ngay từ đầu lưỡi, vừa đậm đà, chua chua, ngọt ngọt…kích thích vị giác rất nhiều.
Giống như rau má, mướp đắng hay rau đắng…nếu ai chưa quen rất khó ăn bông điên điển vì nó có vị nhầy nhẩy rất khó ăn. Nhưng nếu ai hợp khẩu vị thì sẽ thành ghiền món ăn miệt vườn này. Nhất là những bông điên điển đầu mùa lũ, bông còn tươi khi mới cảm nhận hết cái ngon, cái đậm đà của món ăn.
Nếu ai chưa từng thưởng thức món ăn này, hãy xuôi về các tỉnh miền Tây vào màu nước lũ (tháng 7, tháng 8 âm lịch) để được khám phá hương vị khó quên của món ăn này.
Nguồn: monngonsaigon
Copy từ http://gpsvn.wordpress.com/; đăng ngày 10/02/2010.
Trịnh Thanh Thủy – Sự thật đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ
Posted by gpsvn on Tháng Hai 10, 2010
Gần đây Hà Nội tưng bừng với cuộc triển lãm ảnh Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa, do tạp chí Xưa và Nay phối hợp với Thư viện Hà Nội tổ chức. Báo chí toàn quốc đều loan tin và viết bài phóng sự về cuộc triển lãm hiếm có đã quy tụ được nhiều nhà sưu tập ảnh, trong đó có nhà sưu tập bưu ảnh nổi tiếng người Pháp Philippe Chaplain.
Trong số các bài viết, bài “Lý lịch bằng ảnh của một thuộc địa” của Kiều Trinh gây sự chú ý đến người đọc nhiều nhất. Nó tạo sự ngạc nhiên không những bằng vài tấm ảnh áo yếm của phụ nữ bị bóc vỏ mà còn bằng những lời tuyên bố đáng suy ngẫm của một hội viên hội khoa học là ông Lê Cường và những nhận xét của nhà nhiếp ảnh Hữu Bảo.
Đây là một trích đoạn:
Trong số hơn 100 chủ đề được trưng bày trong triển lãm này, những tác phẩm về sinh hoạt hàng ngày thu hút người xem hơn cả. Một chủ đề được người xem quan tâm và đặt nhiều dấu hỏi là áo yếm. Điều kỳ lạ với người xem là độ “hở hang” của những phụ nữ này. Trái với quan niệm “hiện hành” của nhiều người về sự kín đáo của người Hà Nội, phần lớn người trong ảnh đều mặc áo yếm mà hở ngực. Chiếc yếm chỉ che kín phần giữa ngực, còn hai bầu ngực thì lại hoàn toàn lộ ra!
Về điều này, ông Lê Cường, hội viên hội Khoa học lịch sử nói: “Điều này chứng tỏ, nho giáo đã không chạm tay đến tất cả mọi người trong xã hội. Và trong dân gian, tín ngưỡng phồn thực vẫn có sức sống riêng. Điều này không chỉ thể hiện rõ qua những cảnh yêu đương trên những thạp đồng Đào Thịnh, bia chùa Tứ Liên mà còn tồn tại trong sinh hoạt thường ngày. Và ngay cả những người có ý thức nho giáo thì các cụ cũng chỉ nho lúc đông người thôi. Điều đó xin được khẳng định là không hề dung tục”.
Ông Cường cũng cho rằng không nên nghi ngờ về tính “dàn dựng” phi thực tế của bộ ảnh này bởi chúng được xây dựng trên tinh thần dân tộc học rất rõ nét. Tuy nhiên, chính vì thế, bên cạnh tính tư liệu, nó không tránh khỏi cái nhìn về người Việt Nam như một dân tộc lạc hậu.
“Sắp xếp chân thực”– dòng chảy khác của nhiếp ảnh
Cũng đánh giá cao tính chân thực của các tác phẩm trong triển lãm, nhà nhiếp ảnh Hữu Bảo nhận xét: “Những bức ảnh ở đây thể hiện rất rõ tâm thế của một “nước lớn” khi tiếp cận những thông tin lý lịch bằng hình ảnh của các thuộc địa của mình. Với những tấm bưu thiếp đẫm ý thức quảng bá du lịch, người xem sẽ hiểu, xứ chồng con mình đang sống là như thế này”. “Các tác phẩm được chụp bởi những tay máy chuyên nghiệp và điều quan trọng là họ rất tôn trọng văn hoá…”
Càng nhìn những tấm ảnh hở hang của phụ nữ Việt Nam xưa, tôi càng nghi ngờ, càng thấy rõ tính dàn dựng phi thực tế trong chủ ý của người chụp và dã tâm của người phổ biến chúng vào bưu thiếp như một phương tiện quảng bá ngành du lịch hay một mưu đồ chính trị gian trá của Pháp quốc thời ấy.
Nếu nhìn sâu hơn, chúng ta thấy những bức ảnh này có sự sắp xếp của một nhiếp ảnh gia không chân chính, dù khung cảnh được xây dựng bằng những nét mộc mạc bình dị của người phụ nữ lao động thường nhật. Nó thiếu tự nhiên dù đã được dàn dựng bằng người thật và những vật liệu làm cho giống như thật. Đó cũng chính là gian ý nửa hư nửa thực, mập mờ đánh lận con đen của người chụp những tấm ảnh khoả thân này.
Hãy nhìn vào khuôn mặt người mẫu trong tấm hình ba cô gái đang ngồi (hình số 1), có một cô đang cầm dọc tẩu hút thuốc. Chính giữa là một cô bé có lẽ với động tác châm thuốc, còn hai cô kia đều mặc yếm, nhưng cả hai chiếc yếm bị vén qua một bên với chủ ý phanh ngực ra. Khuôn mặt hai cô gái mang đầy vẻ sượng sùng, khổ não, đau đớn và tủi nhục hơn tâm trạng mong chờ phút sung sướng của một người đang đợi hút. Vì sao? Ta có thể tưởng tượng ra đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ kia là một cường lực vì người chụp là người Pháp, kẻ thống trị hét ra lửa, kẻ nắm trong tay thân phận người dân bị trị.
Còn cái dáng ngồi chàng hảng mời gọi của một trong hai cô gái ngực trần nữa, tiết lộ rõ ràng ở đây có sự sắp đặt của một tay phó nhòm chuyên nghề chụp ảnh khiêu dâm!!!
Tôi trộm nghĩ cái thời xa xưa đó (có thể là 1888), chắc chưa có nghề người mẫu khoả thân cho các tay chụp hình chuyên nghiệp tha hồ chụp như bây giờ, nhất là các tay phó nhòm lại là người Tây phương. Và vào những năm người Pháp bắt đầu đô hộ chúng ta chưa có phong trào lấy Tây cũng như sự hiện diện của nhà thổ (ra đời khoảng 1940 trở đi). Vậy thì ba giả thuyết: người mẫu chuyên nghiệp, vợ Tây và gái giang hồ có thể bỏ qua một bên.
Chỉ có giả thuyết cuối cùng là những người dân lao động quê mùa này bị ức hiếp, bắt buộc phải tuân thủ làm theo mệnh lệnh “bắt cởi phải cởi, bắt chết phải chết” của người chủ nô lệ.
Khuôn mặt nô lệ buồn bã, chịu đựng của tấm hình số 2 cũng vậy, nó thuần túy một tấm hình khoả thân trần trụi không một nét nghệ thuật văn hoá nào cả.
Chiếc áo yếm nô lệ này không có nét hấp dẫn nửa kín nửa hở nào như các nhà phê bình ngày nay hay ca tụng vẽ vời đầy rẫy trên các trang web. Nó chỉ mang một tính lịch sử đau đớn của tổ tiên ta mà thôi
Tôi rất ngạc nhiên gần như sốc khi thấy các tấm hình này và tự hỏi không lẽ các bậc phụ nữ tổ tiên ta ngày xưa hở hang đến thế sao. Trong khi từ bé mẹ tôi răn dạy tôi rằng: “Con gái phải kín đáo, áo mặc chớ hở hang, đi đứng nhẹ nhàng khoan thai, ngồi thì khép chân lại, lúc nào cũng phải giữ ý tứ”.
Hỏi lại thì mẹ tôi trả lời thế này. Thời bà ngoại tôi sống, lúc đó chưa có áo ngực (su chiêng) thì mặc áo yếm, nhưng áo yếm chỉ là áo lót, bên ngoài phải mặc áo ngắn, áo cánh hay áo dài. Khó khăn hơn thì phải bịt chặt ngực lại hay nén ngực chứ không phải hớ hênh vậy đâu. Thời Pháp thuộc, người dân ai cũng sợ lính Tây lắm, nhất là lúc chúng qua làng đi ruồng bố. Mẹ kể, em gái của mẹ khi đó gánh hai gánh phân đi trên đường làng, tụi Tây thấy la “gái gái” và ào tới lột quần áo cưỡng hiếp cô (mặc cho phân rơi rớt) ngay trên đường làng trước mắt bao nhiêu người mà không ai dám can thiệp. Do đó việc chúng bắt phụ nữ cởi truồng hay trần cho chúng chụp hình là chuyện thường tình.
Bố tôi thì kể thêm về cái yếm như thế này. Gia đình bên mẹ tôi khá giả nên còn có áo mặc ra ngoài chiếc yếm, còn bên bố tôi hồi ấy nghèo quá. Bà nội tôi chỉ có độ một, hai cái áo thôi lại còn bị vá chùm, vá đụp. Bà thường thường chỉ có mặc yếm ra đồng làm việc mà cất chiếc áo đi sợ rách, sợ khi thời tiết trở lạnh, không có áo mà mặc.
Năm Ất Dậu, nạn đói tràn lan vì chính sách thâm hiểm của Nhật – Pháp nhằm dồn cả một dân tộc vào thảm họa diệt chủng. Bố tôi đi làm phu lục lộ không đủ tiền mua thực phẩm cho cả gia đình. Bà chịu hy sinh nhịn đói mà chết, để nhường miếng ăn cho chồng, cho con. Mỗi lần nhớ tới bà, bố tôi lại rơi nước mắt ân hận không nuôi nổi mẹ phải để mẹ chết vì thiếu ăn.
Qua câu chuyện trên, tôi biết thêm là người phụ nữ nhà quê thời ấy vì nghèo không đủ quần áo nên phải mặc phong phanh chiếc yếm không như vậy (nhưng rất kín đáo, che hai bầu ngực), chứ không phải vì đó là một thứ “văn hoá phồn thực” vượt ra ngoài vòng rào nho giáo như ông Lê Cường, hội viên Hội Khoa học Lịch sử phát biểu.
Nếu xét theo văn hoá truyền thống, phụ nữ Việt Nam thời ấy ăn mặc rất kín đáo, trong lệnh vua phép nước cũng có ghi chép rõ ràng. Theo tài liệu sách Đại Nam thực lục tiền biên, dưới thời các chúa Nguyễn, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong. “Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở….” Riêng tại Kinh đô Huế, nơi luật lệ thực thi nghiêm ngặt, đàn bà ra đường thường mặc áo dài kể cả lúc đi bán hàng rong. Tục lệ này còn lưu giữ cho tới bây giờ.
Nếu xét theo thực chứng, chúng ta xem thêm rất nhiều những bức hình chụp cảnh dân cư Hà Nội lúc đó, ta thấy phụ nữ ăn mặc rất đàng hoàng, kín đáo thậm chí đến nỗi bít bùng hai ba lớp nữa kia. Chỉ có vài ba tấm hình phụ nữ ở trần này nằm lẫn lộn vào gây ấn tượng mạnh làm bẻ cong sự thật.
Khi tôi viết bài này, qua những email truyền đi trên mạng thì tôi và bạn bè tôi, hầu hết ai cũng nhận được các bức hình khoả thân với tựa đề “Hình ảnh phụ nữ VN khoả thân của đầu thế kỷ trước” được phát tán và lưu hành khắp nơi. Loạt hình đó, theo lối sắp xếp dàn dựng cảnh và người thì ai cũng đoán ra cùng một nhiếp ảnh gia là tay chơi thích chụp những hình ảnh khiêu dâm. Trong bộ sưu tập ảnh hoàn toàn khoả thân này có vài ba tấm hình hở ngực đã được đem ra trưng bày trong buổi triển lãm vừa qua. Tôi còn lưu giữ những tấm ảnh này nhưng chỉ đưa ra ba tấm ảnh hở ngực còn những tấm kia hoàn toàn trần trụi và mang đầy vẻ dung tục.
Theo tôi, việc đem những tấm ảnh hở ngực trưng bày chen lẫn với những tấm ảnh và bưu thiếp đứng đắn về Hà Nội xưa dễ làm người xem lầm lẫn. Điều tai hại là hậu ý tạo nên cái nhìn sai lạc về một văn hoá và lịch sử của một dân tộc. Ai xem xong cũng tưởng thời ấy phụ nữ Việt ta bệ rạc bên bàn hút, nhếch nhác thả ngực trần như vậy kể cả lúc quang gánh lao động.
Điều đau lòng hơn là người Pháp đã dùng những tấm hình ngực trần ấy làm bưu thiếp. Ngày ấy bưu thiếp rất phổ thông và đa dụng. Người ta sử dụng bưu thiếp với nhiều mục đích như phát triển nghệ thuật, thương mại như du lịch và chính trị như truyền bá một tư tưởng nổi loạn hay hình ảnh một lãnh tụ.
Với một ý đồ chính trị là khai thác chiếc yếm bỏ ngỏ, người Pháp đã dùng những tấm bưu thiếp này lăng nhục phụ nữ Việt Nam như một dân tộc thuộc địa mọi rợ. Nó cũng có tác dụng lôi cuốn đàn ông Pháp càng thấy thích thú hơn trên con đường nhập ngũ viễn chinh qua Việt Nam.
Bàn rộng thêm một chút về chiếc áo yếm xưa
Thực ra, đôi bờ vú luôn luôn là niềm hãnh diện của phụ nữ, là niềm hoan lạc của phái nam, mà cũng là thức ăn thiên nhiên dinh dưỡng vô bờ của trẻ nhỏ. Chiếc yếm che ngực đã được tạo ra như một trang phục truyền thống không những để che thân mà còn là một vật làm đẹp (yếm lụa, yếm gấm) cho các phụ nữ khá giả có tiền, có của.
Việc kín/hở hay cởi /mặc áo yếm đã móc ngoặc vào đức hạnh các phụ nữ như một đặt để trói buộc vô hình. Người đàn bà Việt Nam bị các ông đồ Nho bắt phải đậy, các ông Tây buộc phải cởi, thật là tội cho họ. Họ phải câm khi bị lăng mạ, bị bóp cổ, bị hành hạ, đánh đập, giết chóc, đối xử phi nhân như một món đồ chơi mà không có chọn lựa, không có tiếng nói. Sống mà như hấp hối, không cười, không vui, cô thế và cô đơn.
Đã thế, nỗi thống khổ của cái nghèo, cái sợ, cơn đói kinh niên, áp lực chồng con theo đuổi họ mãi như cái bóng thiết tha nhất. Họ sống lặng lẽ như những bóng ma. Nhưng khác với bóng ma ở chỗ họ kiên cường phục vụ chồng, nuôi nấng con cái và nhất là hy sinh mạng sống lúc cần phải hy sinh. Như câu chuyện của bà nội tôi, của người đàn bà trong truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng.
Pascal có một suy tưởng, viết tóm tắt như thế này: “Con người, ai cũng có dĩ vãng, kỷ niệm là dĩ vãng của một cá nhân. Quốc gia nào cũng có dĩ vãng, lịch sử là một dĩ vãng của một dân tộc! Cá nhân, ai cũng yêu kỷ niệm của mình thì dân tộc nào cũng phải yêu lịch sử của họ.”
Tôi là một công dân Việt Nam, dù dĩ vãng dân tộc tôi thế nào, tôi vẫn yêu mến lịch sử dân tộc tôi. Dù những hình ảnh phụ nữ Việt Nam xưa bị lăng nhục như thế nào tôi vẫn yêu mến họ. Những người đàn bà yếu đuối kia là tổ tiên tôi, họ là mẹ là bà cố, bà sơ của người Việt chúng ta hiện nay, dưới bất cứ hoàn cảnh nào (kể cả khi lịch sử bị bẻ cong) chúng ta cũng cần phải yêu quý họ, phải không các bạn?
Tài liệu tham khảo:
Kiều Chinh, “Lý lịch bằng ảnh của một thuộc địa”
Dân Hùng, “Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa”
© 2010 Trịnh Thanh Thủy
© 2010 talawas
Source: http://www.talawas.org/?p=16077