Hiển thị các bài đăng có nhãn loãng xương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn loãng xương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2020

Bài thuốc hỗ trợ trị loãng xương

Bài thuốc hỗ trợ trị loãng xương
https://suckhoedoisong.vn/... đăng ngày 11/05/2012 15:38 GMT+7.
Theo quan niệm y học cổ truyền, loãng xương thuộc phạm vi chứng “cốt nuy”, “cốt tý”, “cốt lao”, bản chất bệnh thuộc hư, tiêu thuộc thực. Bệnh có liên quan mật thiết với thận, ngoài ra còn liên quan với tỳ và gan.
Theo quan niệm y học cổ truyền, loãng xương thuộc phạm vi chứng “cốt nuy”, “cốt tý”, “cốt lao”, bản chất bệnh thuộc hư, tiêu thuộc thực. Bệnh có liên quan mật thiết với thận, ngoài ra còn liên quan với tỳ và gan. Y học cổ truyền cho rằng, thận chủ tiên thiên, tỳ chủ hậu thiên; tinh khí của thận là nhờ sự sinh hóa, tinh lọc các vật chất tinh hoa ngũ cốc của tỳ. Can chủ gân, thận chủ cốt, gân cốt có mạnh hay không là nhờ vào sự tư dưỡng, nhu nhuận của thận âm, vì vậy điều trị lấy bổ thận, kiện tỳ, sơ can làm cơ bản. Trên SK&ÐS chủ nhật (số 73) ra ngày 6/5/2012, chúng tôi đã giới thiệu một số món ăn giúp phòng chống loãng xương, số này xin giới thiệu cách trị bệnh này theo từng thể lâm sàng.
Thể tỳ thận dương hư: Biểu hiện lưng và thắt lưng đau, yếu, mệt mỏi, tinh thần uể oải, không có sức, chân tay lạnh, ăn kém, phân lỏng, xanh xao, lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhược, trì. Phép điều trị: kiện tỳ, ích khí, bổ thận, tráng dương, cường cốt. Dùng bài Hữu quy hoàn gia vị: thục địa 15g, câu kỷ tử 15g, sơn thù 12g, sơn dược 12g, phụ tử 12g, đỗ trọng 12g, bổ cốt chỉ 12g, bạch truật 12g, nhân sâm 6g, nhục quế 6g, chích thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu tiêu chảy gia nhục đậu khấu 9g. Huyết hư gia đương quy 10g, cốt toái bổ 9g, quy bản 9g. Đau thắt lưng nhiều gia ngũ gia bì 12g, tang ký sinh 12g. Đau lưng phần trên gia cát căn 12g, khương hoạt 10g. Đau có cảm giác lạnh trong cột sống gia cẩu tích 12g. Loãng xương nhiều thêm dâm dương hoắc 12g, nhục thung dung 12g, bổ cốt chỉ 12g. Đau cố định và nhiều do ứ huyết gia xích thược 12g, nhũ hương 6g, một dược 6g.
Thể can thận âm hư:
Biểu hiện lưng và thắt lưng đau, chân và gối mỏi, yếu, tai ù, chóng mặt, mất ngủ, cảm giác nóng về chiều, lòng bàn tay, bàn chân nóng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, mạch tế, huyền, sác. Phép điều trị: tư bổ thận âm, dưỡng can huyết, mạnh gân cốt. Dùng bài Tả quy ẩm gia vị: thục địa 15g, câu kỷ tử 15g, tang ký sinh 15g, sơn dược 12g, phục linh 12g, sơn thù 12g, bổ cốt chỉ 12g, chích thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu huyết hư gia đương quy 10g, cốt toái bổ 12g, quy bản 12g. Đau cố định và nhiều do ứ huyết gia xích thược 12g, nhũ hương 6g, một dược 6g.
Thể tỳ khí hư - thận âm thận dương lưỡng hư: Biểu hiện lưng và thắt lưng đau mỏi, tê, mệt mỏi, tinh thần uể oải, không có sức, thượng thực hạ hư, nửa người bên dưới lạnh, bên trên cảm giác nóng, chóng mặt, ù tai, tiểu đêm, ăn ít, phân lỏng, lưỡi bệu, rêu lưỡi nhạt, mạch bộ thốn hư, mạch bộ quan bên phải nhu, bộ quan bên trái huyền, bộ xích trầm hoặc tế phù. Phép điều trị: kiện tỳ, ích khí, bổ thận, thanh hư nhiệt (nếu cần), mạnh gân cốt. Dùng bài Bổ âm thang: thục địa 15g, sinh địa 15g, ngưu tất 12g, bổ cốt chỉ 12g, đương quy 12g, bạch thược 12g, tri mẫu 12g, hoàng bá 12g, đỗ trọng 12g, phục linh 12g, tiểu hồi 6g, trần bì 6g, nhân sâm 6g, chích thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu huyết hư gia quy bản 9g. Đau cố định và nhiều do ứ huyết gia xích thược 12g, nhũ hương, một dược đều 6g. Thắt lưng đau gia ngũ gia bì 9g. Giữa lưng đau gia tang ký sinh 9g. Lưng trên đau gia cát căn 9g, khương hoạt 10g.
Thể khí trệ huyết ứ: Biểu hiện toàn cơ thể đau nhức, đau cố định không di chuyển, lưỡi tím có điểm ứ huyết, mạch huyền, sáp. Phép điều trị: hoạt huyết, thông kinh lạc, chỉ thống. Dùng bài Thân thống trục ứ thang: đào nhân, hồng hoa, đương quy, xuyên ngưu tất đều 9g; xuyên khung, cam thảo, một dược, ngũ linh chi, địa long đều 6g; tần giao, khương hoạt, hương phụ đều 3g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu đau nhiều do huyết ứ, chịu không nổi gia thổ miết trùng 6g, ngô công, toàn yết đều 3g. Khí trệ huyết ứ do phong thấp gia độc hoạt, uy linh tiên, thương truật đều 9g. Lưng đau do chấn thương gia tam thất 3g (tán bột, uống với nước thuốc), gia nhũ hương, tô mộc đều 9g; tỳ hư gia hoàng kỳ 15g, bạch truật, phục linh đều 9g. Thận âm hư gia tang ký sinh, quy bản đều 9g, thay xuyên ngưu tất bằng ngưu tất 9g. Thận dương hư gia ngũ gia bì, tục đoạn 12g. Loãng xương nặng gia bổ cốt chỉ, tục đoạn, quy bản đều 9g, dâm dương hoắc 12g.           
  TS. Nguyễn Tâm Thuận

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

Loãng xương cần được phát hiện và điều trị sớm

Loãng xương cần được phát hiện và điều trị sớm
TS. BS. Lê Anh - https://suckhoedoisong.vn/... đăng ngày 10:09 15/10/2019 GMT+7.
Suckhoedoisong.vn - Loãng xương (LX) được định nghĩa là một rối loạn chuyển hoá của bộ xương làm tổn thương sức mạnh của xương dẫn đến tăng nguy cơ gẫy xương ở người. Bệnh LX diễn biến từ từ và thầm lặng.
Người bị LX thường không biết mình bị bệnh, cho đến khi bị biến chứng gãy xương. Gãy xương do LX thường gặp nhất ở cổ tay, đốt sống và cổ xương đùi. Gãy xương do LX có thể xảy ra ngay cả trong những hoạt động hàng ngày, làm cho người bệnh đau đớn, mất khả năng vận động, mất khả năng sinh hoạt tối thiểu.

Biểu hiện của bệnh

Các biểu hiện lâm sàng
Đau mỏi mơ hồ ở cột sống, đau dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, ớn lạnh, hay bị chuột rút (vọp bẻ) các cơ...
Đau thực sự ở cột sống, đau lan theo khoang liên sườn, đau khi ngồi lâu, khi thay đổi tư thế. Có thể xuất hiện đau cấp trên nền đau mạn tính (thường xuất hiện sau các chấn thương sinh hoạt (té, trượt chân, chống tay, với đồ vật ở cao, bê xách vật nặng, xoay người đột ngột...) gây gãy xương đốt sống hay gãy cổ xương đùi.
Đầy bụng, chậm tiêu, nặng ngực khó thở.
Gù lưng, vẹo cột sống, giảm chiều cao, hạn chế khả năng vận động...
Tuy nhiên, LX là bệnh diễn biến âm thầm, người ta thường ví bệnh giống như một tên ăn cắp thầm lặng, hàng ngày cứ lấy dần lượng canxi trong ngân hàng dự trữ xương của cơ thể con người. Khi có dấu hiệu lâm sàng, thường là lúc đã có biến chứng, cơ thể đã bị mất tới 30% khối lượng xương.
Loãng xương cần được phát hiện và điều trị sớm

Về cận lâm sàng

Thông thường người bệnh sẽ được kiểm tra bằng 2 biện pháp:
Chụp Xquang xương và cột sống để tìm dấu hiệu của loãng xương và gãy xương.
Đo khối lượng xương bằng nhiều phương pháp như đo hấp phụ năng lượng tia X kép, đo hấp phụ năng lượng quang phổ đơn hoặc kép, chụp cắt lớp điện toán định lượng, siêu âm định lượng...
Hiện nay đo khối lượng xương bằng phương pháp hấp phụ năng lượng tia X kép (DXA) ở các vị trí trung tâm (cổ xương đùi, cột sống thắt lưng) được coi là kỹ thuật vàng để đáp ứng với tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán loãng xương của Tổ chức Y tế thế giới.
Tuy nhiên, các phương pháp nêu trên mới chỉ đánh giá được khối lượng của xương, trong những trường hợp cần thiết, các thầy thuốc có thể cho kiểm tra các makers chu chuyển xương, thậm chí sinh thiết xương để đánh giá chất lượng xương

Cách phân loại bệnh loãng xương

Loãng xương người già (LX tiên phát): Có đặc điểm là tăng quá trình hủy xương và giảm quá trình tạo xương; nguyên nhân do các tế bào sinh xương (Osteoblast) bị lão hoá, sự hấp thụ canxi và vitamin D ở ruột bị hạn chế, sự suy giảm tất yếu các hormon sinh dục (ở cả nữ và nam). LX tiên phát thường xuất hiện muộn, diễn biến chậm, tăng từ từ và ít có những biến chứng nặng nề như gãy xương hay lún xẹp các đốt sống.
Loãng xương sau mãn kinh: Có đặc điểm là tăng hóa trình hủy xương trong khi quá trình tạo xương vẫn bình thường do sự ngưng đột ngột hoạt động của buồng trứng, làm thiếu hụt oestrogen vì vậy các tế bào hủy xương không được kiểm soát.
Loãng xương thứ phát: Khi có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ sau đây: Còi xương suy dinh dưỡng, thiếu canxi từ nhỏ, khối lượng xương lúc trưởng thành thấp, ít hoạt động thể lực, bị các bệnh mạn tính đường tiêu hoá (dạ dày, ruột...) làm hạn chế hấp thu canxi, vitamin D, protid...; có thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, cà phê, thuốc lá... làm tăng thải canxi qua đường tiết niệu và giảm hấp thu canxi ở đường tiêu hóa; giảm hoạt động của các tuyến sinh dục nam và nữ (mãn kinh, mãn dục nam...), bất động quá lâu ngày do bệnh tật, bị các bệnh nội tiết: cường tuyến giáp, cường tuyến cận giáp, cường tuyến vỏ thượng thận, tiểu đường..., bị suy thận mạn hoặc phải chạy thận nhân tạo lâu ngày gây rối loạn chuyển hóa và mất canxi qua đường tiết niệu, mắc các bệnh xương khớp mạn tính (đặc biệt là viêm khớp dạng thấp và thoái hoá khớp), phải sử dụng dài hạn một số thuốc: thuốc chữa bệnh tiểu đường (insulin), thuốc chống đông (heparin) và đặc biệt là các thuốc kháng viêm nhóm cortiosteroid (cortiosteroid một mặt ức chế trực tiếp quá trình tạo xương, mặt khác làm giảm hấp thu canxi ở ruột, tăng bài xuất canxi ở thận và làm tăng quá trình huỷ xương).

Điều trị bệnh ra sao?

Mục tiêu quan trọng nhất của điều trị loãng xương là ngăn ngừa biến chứng gãy xương, ngăn ngừa tái gãy xương. Các thuốc điều trị hiện tại có thể làm giảm 50% nguy cơ gãy xương. Nhưng, điều quan trọng là phải chẩn đoán sớm, điều trị sớm, điều trị liên tục và đủ liệu trình (3 – 5 năm hoặc dài hơn).
Hiện nay chi phí lớn nhất điều trị loãng xương là chi phí điều trị biến chứng gãy xương, đặc biệt là gãy cổ xương đùi (bao gồm: Chi phí nằm bệnh viện để điều trị gẫy xương: Kết hợp xương, thay chỏm xương đùi, nẹp vít cột sống, thay đốt sống hay phục hồi chiều cao của đốt sống..., chi phí điều trị các biến chứng do nằm lâu ở người có tuổi bị gẫy xương (vì phải bất động chỗ xương gẫy, vì không vận động được) như: Viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét tư thế... và chi phí cho các thuốc điều trị tích cực trong suốt quãng đời còn lại để ngăn ngừa gãy xương  tái phát.
Các thuốc dùng cho loãng xương gồm: Nhóm thuốc chống hủy xương; thuốc có tác dụng kép (vừa tăng tạo xương và chống hủy xương), thuốc tăng tạo xương và các nhóm  thuốc khác . Các thuốc này sẽ được các thầy thuốc chỉ định tùy mức độ bệnh lý, tình trạng sức khỏe, khả năng dung nạp, các bệnh mắc kèm theo... của người bệnh.
Nguyên tắc quan trọng nhất của điều trị là: Điều trị phải liên tục, phải dài hạn, mỗi liệu trình phải kéo dài ít nhất 3 năm, sau mỗi liệu trình người bệnh sẽ được đánh giá lại và thầy thuốc sẽ quyết định chế độ điều trị tiếp theo; luôn luôn kết hợp việc điều trị và các biện pháp; thay đổi lối sống và bảo đảm dinh dưỡng nêu trên.
Loãng xương cần được phát hiện và điều trị sớmHậu quả khi bị loãng xương.
Làm gì để phát hiện sớm bệnh?
Phụ nữ quanh tuổi mãn kinh, người trên 60 tuổi cả hai giới, người trẻ tuổi nhưng có các yếu tố nguy cơ  (nêu trên) nên:
Tầm soát các yếu tố nguy cơ gây loãng xương thứ phát.
Đi khám bệnh sớm, ngay khi có các dấu hiệu đau mỏi mơ hồ ở hệ thống xương khớp, dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, chuột rút...
Luôn có ý thức phòng ngừa loãng xương từ khi chưa có bệnh (trong suốt cuộc đời): Chế độ sinh hoạt, tập luyện tăng cường hoạt động ngoài trời, tập vận động thường xuyên và phù hợp với sức khoẻ, duy trì lối sống năng động, tránh các thói quen xấu (Uống nhiều bia, rượu, cà phê, hút thuốc lá...); chế độ ăn uống luôn luôn bảo đảm đầy đủ protein và khoáng chất, đặc biệt là canxi. Vì vậy sữa và các chế phẩm từ sữa (bơ, phoma, sữa chua...) là thức ăn bổ sung lý tưởng cho một khung xương khỏe mạnh. Chế độ này cần được duy trì suốt cuộc đời mỗi người; kiểm soát tốt các bệnh lý ảnh hưởng và các yếu tố nguy cơ gây loãng xương.

Phương pháp phòng bệnh

Thay đổi lối sống và bảo đảm dinh dưỡng là cách tốt nhất vừa để phòng bệnh vừa để điều trị loãng xương.
Tăng cường vận động thể lực: Vận động giúp tạo dự  trữ canxi, tăng sự khéo léo, sức mạnh của hệ thống cơ, sự cân bằng nên ít bị ngã và gẫy xương. Ngoài ra, vận động còn bảo vệ xương không bị mất thêm, nên tập các vận động chịu lực, chạy hay đi bộ, khiêu vũ, chơi bóng  hay đánh cầu đều tốt, chỉ tránh môn thể thao dễ gây gãy xương.
Bổ sung đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cho cơ thể (đạm, bột đường, chất béo, khoáng chất và vitamin) đặc biệt calcium và vitamin D (thông qua thực phẩm và dược phẩm) vì hai chất này là thiết yếu để tạo khối lượng xương khi còn trẻ và ngăn ngừa mất xương khi đã có tuổi.
Phòng tránh té ngã, phát hiện và điều chỉnh các bệnh lý mắc phải của mỗi người.
Hạn chế thuốc lá, rượu bia, tránh lạm dụng thuốc.
TS. BS. Lê Anh