Hiển thị các bài đăng có nhãn danh nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn danh nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2024

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với hai chữ "Lợi danh"

 

Hướng tới Lễ kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724-2024):

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với hai chữ "Lợi danh"

NDO - Cùng với rất nhiều vấn đề về y đức, y đạo, y lý, y thuật, dưỡng sinh… Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác còn đề cập rất nhiều đến hai chữ “lợi danh” trong các tác phẩm của mình, đặc biệt là trong Thượng Kinh ký sự.
Lễ rước Đại danh Y Lê Hữu Trác tại lễ tưởng niệm 233 năm ngày mất Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Ảnh: Ngô Tuấn
Lễ rước Đại danh Y Lê Hữu Trác tại lễ tưởng niệm 233 năm ngày mất Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Ảnh: Ngô Tuấn

Thượng Kinh ký sự là tác phẩm được Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác viết vào năm 1782, nội dung ghi chép lại những sự việc diễn ra trong chuyến đi từ Hương Sơn (Hà Tĩnh) lên Kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm.

Trong tác phẩm này, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã ký chép rất chân thực, sinh động bức tranh xã hội đương thời, từ cuộc sống của giới thượng lưu đến tầng lớp bình dân, từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ con người đến cảnh sắc thiên nhiên, từ sinh hoạt đến trình độ của đội ngũ thầy thuốc cung đình… Qua Thượng Kinh ký sự ta thấy một lối văn giản dị, gần gũi, trung thành với hiện thực, không phê phán trực diện nhưng lại vô cùng tinh tế, sâu sắc.

Ngoài việc ghi chép hành trình lên Kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, Thượng Kinh ký sự còn gửi gắm nhiều tư tưởng, quan điểm của Lê Hữu Trác về cuộc sống, về thế sự, trong đó nổi bật là quan điểm của Hải Thượng Lãn Ông về vấn đề “lợi danh”, “danh lợi”, “công danh”,…

Chỉ với một thiên ký sự không dài nhưng có tới 10 lần tác giả sử dụng từ “lợi danh”, “danh lợi”, cùng với đó là gần chục từ có nghĩa tương đồng như “công danh”, “cái lợi”, “không tham”,… Có lẽ, trong văn học trung đại Việt Nam, ít có một tác phẩm nào đề cập nhiều đến vấn đề “lợi danh” như trong Thượng Kinh ký sự.

Ngay từ những trang đầu của tác phẩm, tác giả viết: “Mình thuở trẻ mài gươm, đọc sách. Mười lăm năm phiêu bạt giang hồ, không có cái gì là sở đắc. Mình đã xem công danh là vật bỏ, về núi Hương Sơn dựng lều, nuôi mẹ, đọc sách, mong tiêu dao vui thú trong cái vườn đạo lý của Hoàng Đế, Kỳ Bá, lấy việc giữ thân mình, cứu giúp người cho là đắc sách lắm. Nay không ngờ lại bị cái hư danh làm lụy đến nông nỗi này”[1].

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với hai chữ "Lợi danh" ảnh 1

Tác phẩm Thượng Kinh ký sự.

Dọc hành trình đi từ Hương Sơn lên Kinh đô, mỗi khi dừng chân nghỉ ngơi hay qua các vùng núi non kỳ thú, tác giả đều đề thơ, ngâm vịnh ghi lại những cảm xúc của mình, đồng thời cũng không quên nhắc lại cái vòng luẩn quẩn của lợi danh. Khi đi qua đò Cấm (vùng Cầu Cấm - Nghệ An ngày nay), ông bộc bạch: “Thầm nghĩ đã ba mươi năm nay, mình xem cái trò danh lợi như ngọn nước chảy xuôi; chỉ lo vui chơi nơi rừng, suối, tự cho thế là đắc sách! Ai ngờ lòng mình đã không màng danh lợi, mà cái thân lại mắc vào chốn lợi danh…”[2].

Đến khi vào Trịnh phủ, xem và biết bệnh của Thế tử đã nặng, rốn đã lồi, chân tay gầy gò, phủ tặng yếu, nguyên khí hao mòn… Ông rất phân vân: “Bệnh thế này không bổ thì không được. Nhưng sợ mình không ở lâu, nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao về núi được nữa…”[3].

Trong thời gian ở Kinh, biết tiếng của Hải Thượng Lãn Ông, đã có rất nhiều người tìm đến, người thì xin thuốc, người thì đàm đạo thơ văn. Ông bộc bạch: “Tôi ở Kinh chưa được nửa tháng mà từ các quan trong Kinh cho đến lính tráng, những người ngoài đường, nhiều người biết tiếng. Kẻ đến xin đơn, người nhờ bắt mạch, rất ồn ào…”, “Tôi nghĩ bụng: lúc đầu mình cũng chỉ muốn kiếm đủ tiêu thôi. Không ngờ, nay lại được nhiều gấp mấy lần. Nhưng lần này phú quý mình còn chẳng thiết tha nữa là cái lợi…”[4].

Cũng vì coi nhẹ lợi danh, bổng lộc, lại xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, nên ông luôn dặn lòng: “Nhà ta mấy đời khoa giáp, theo lời dạy bảo của cha ông, lấy việc xu phụ nơi quyền quý làm xấu hổ…”[5]. Với Lê Hữu Trác, ông luôn sợ mình mắc vào vòng danh lợi, do vậy nên ông luôn tìm cách tránh xa mọi cám dỗ, ông sợ người đời chê cười: “Bấm đốt tay tính lại, đã ba mươi năm nay, mình tưởng đâu không sa vào cái vòng danh lợi, thế mà nay lại đến nông nỗi này chẳng khác như một người tù”[6], “thực mình không nghĩ gì đến danh lợi, thế mà cứ mắc mãi vào trong cái vòng cương tỏa, chỉ tổ để cho bạn bè chê cười..”[7].

Sau gần một năm “miễn cưỡng” lên Kinh đô chữa bệnh, chứng kiến cuộc sống của vương tôn thế tử, những buồn vui nơi kinh kỳ, Lê Hữu Trác tự đúc kết: “Mình ẩn thân nơi rừng suối, chẳng đoái hoài gì đến lợi danh. Bổng chốc bị triệu, phải chống gậy lên Kinh ngót một năm trời. Xin xỏ năm lần bảy lượt, mới được buông tha. Vạn nhất mình không kiên quyết, mang lấy một chức quan thì bây giờ danh lợi đã chẳng thành, mà cái thân lại bị nhục, hối thì đã muộn. May sao, lời thề núi cũ không quên, tuy thân mắc vào vòng danh lợi, nhưng vẫn không bị lợi danh mê hoặc…”[10].

Đặc biệt, quan điểm của ông về lợi danh không chỉ thể hiện qua suy nghĩ, tư tưởng của ông mà còn thể hiện qua nhận xét, đánh giá của người đương thời được ghi lại trong tác phẩm: “Ta không ngờ ông ta lại vô tâm đối với công danh như thế”[8], “Người đời lấy việc được làm quan làm vui, ông này lại lấy việc từ quan làm may, thật là khác người”[9].

Và cũng vì không bị lợi danh mê hoặc nên ông có phần hài lòng với những việc mình đã làm, chung quy lại là cũng bởi ông không tham: “Ra đi thung dung, trở về ngất ngưởng. Lại về núi cũ, lại nằm yên trên đá, lại ngủ dưới hoa. Đang khi mơ màng lại nghe đến việc xảy ra, giật mình bừng tỉnh. Rồi nghĩ bụng: Mình không đến nỗi bị thiên hạ chê cười, chỉ nhờ “không tham” đó thôi”[11]. Kết thúc Thượng kinh ký sự, Hải Thượng Lãn Ông thổ lộ: “Nhân khi nhàn rỗi, uống rượu, gảy đàn, chép lại đầu đuôi việc cũ để ghi nhớ lại. Khiến con cháu ở đời biết tùy duyên, thủ phận, biết tri túc tri chủ, lấy việc “không tham” làm vinh, xem đó làm gương”[12].

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với hai chữ "Lợi danh" ảnh 2
Lãnh đạo Bộ Y tế, lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh dâng hương tưởng niệm Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Ảnh: Ngô Tuấn

Đọc Thượng Kinh ký sự cho thấy sự giống nhau khá kỳ lạ giữa Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Cả hai ông đều thuộc vào hàng kiệt xuất lúc bấy giờ, sống cùng thời, đều thức thời, cùng lựa chọn vùng núi Hương Sơn-Thiên Nhẫn để ở ẩn, từ bỏ mọi công danh, bổng lộc triều đình.

Nếu như với Lê Hữu Trác thì “người đời lấy việc được làm quan làm vui, ông này lại lấy việc từ quan làm may”, “vô tâm đối với công danh”, thì Nguyễn Thiếp cũng vậy, từ chối bổng lộc, lời mời làm quan của ba triều (Lê mạt, Tây Sơn, Nhà Nguyễn), “Phu tử thì ẩn không ẩn hẳn, ra không ra hẳn. Làm quan thì làm quan trên núi trại, nhận chức thì chỉ nhận chức giáo dục quốc dân. Lúc thấy đạo khó đạt thì thôi, không sợ uy quyền, không tổn danh giá”14].

Điểm gặp nhau giữa hai nhân cách lớn đó để lại cho người đời những bài học đáng suy ngẫm về lẽ sống. Đặc biệt, hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân thì bài học về “lợi danh”, “danh lợi” của Lê Hữu Trác lại càng có ý nghĩa. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã từng nói: “Tiền bạc nhiều để làm gì... Danh dự mới là điều thiêng liêng cao quý nhất”.

Điểm qua một vài điều về “lợi danh” trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự để thấy rằng, trước sau, Lê Hữu Trác luôn xem nhẹ công danh, lợi lộc, tránh xa mọi cám dỗ vinh hoa, phú quý, ưa cuộc sống nhàn nhã nơi thôn quê rừng núi, gắn bó với cuộc sống của người dân lao động.

Với ông, danh lợi chỉ là thứ phù du, tầm thường, như gió thoảng mây trôi, không đáng để cho người ẩn sĩ bận tâm. Và cũng có như vậy, ông mới chuyên tâm hành nghề làm thuốc, chữa bệnh cứu người, trở thành một bậc Đại danh y vĩ đại của dân tộc, để người sau mãi mãi tôn vinh. Đúng như lời thơ ông viết: Chỉ có tiếng thơm đời để mãi/ Giàu sang phú quý cũng phù vân.

-----------

Chú thích:

[1]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.10.

[2]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.14.

[3]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.35-36.

[4]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.45.

[5]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội,1989, tr.110.

[6]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.45-46.

[7]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.105.

[8]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội,1989, tr.40.

[9]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.42.

[10]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.143.

[11]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.143.

[12]. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh ký sự, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1989, tr.143.

[13]. Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, (Tái bản), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, tr.263.

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2024

Đọc Du ký Việt Nam để thấy rõ hơn Phạm Quỳnh

 Văn hóa

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 18/05/2024 14:11

Đọc Du ký Việt Nam để thấy rõ hơn Phạm Quỳnh

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn - người bỏ nhiều công biên soạn bộ sách Du ký Việt Nam trên Nam Phong tạp chí gần 2.000 trang, nói chủ bút tờ Nam Phong Phạm Quỳnh là một người yêu nước và đầy tinh thần dân tộc.

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh - Ảnh tư liệu

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh - Ảnh tư liệu

Bộ sách tư liệu đồ sộ này vừa được NXB Trẻ tái bản có bổ sung trong bối cảnh mà các tư liệu văn chương, báo chí giai đoạn đầu thế kỷ 20 có thể tiếp cận dễ dàng cả ở các thư viện trong nước và quốc tế nhưng vẫn mang ý nghĩa lớn lao khi nó ghi dấu sự trân trọng với tấm lòng của ông chủ bút Nam Phong tạp chí với văn hóa dân tộc Phạm Quỳnh.

Buổi tọa đàm ra mắt sách do Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức chứng kiến nhiều tình cảm của các nhà nghiên cứu dành cho bộ sách tư liệu quý ở khía cạnh nó đã trực tiếp, gián tiếp vinh danh nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

Nuôi tình yêu giang sơn cẩm tú

Theo các nhà nghiên cứu văn học và văn học sử dự tọa đàm, những đóng góp của Nam Phong tạp chí do Phạm Quỳnh là chủ nhiệm kiêm chủ bút trong việc xây dựng một nền quốc văn mới, phổ biến học thuật, giới thiệu những tư tưởng triết học, khoa học, văn chương, lịch sử... của cả Á và Âu những năm đầu của thế kỷ 20 là điều đã được ghi nhận.

Tồn tại 17 năm, từ năm 1917 đến 1934, Nam Phong tạp chí đã thực sự để lại một dấu ấn tinh thần trong tâm trí của nhiều độc giả.

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn chia sẻ với uy tín của một tờ báo chuyên về học thuật, uy tín của một học giả như Phạm Quỳnh, Nam Phong tạp chí đã nhận được sự cộng tác của nhiều cây bút từ Bắc vào Nam.

Bìa tờ Nam Phong tạp chí số Tết năm 2018 - Ảnh: T.ĐIỂU

Bìa tờ Nam Phong tạp chí số Tết năm 2018 - Ảnh: T.ĐIỂU

Mục Du ký trên tạp chí cũng không là một ngoại lệ. Những tên tuổi viết cho mục này như Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Đông Hồ, Mộng Tuyết... sau này đều được lịch sử văn học lưu danh. 

Và chính người khởi xướng ra mục này là Phạm Quỳnh đã có những tác phẩm du ký xuất sắc.

Những bài du ký trên Nam Phong tạp chí không chỉ có giá trị về mặt văn học mà còn mang đến những thông tin thú vị về địa lý, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán cũng như những tâm tư, tình cảm, ước vọng của con người.

Nhờ đó, bạn đọc ngày nay phần nào hình dung ra chân dung xã hội của một thời đại cách nay đã gần trăm năm, và trước nhất là được chu du khắp những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta.

Chu du từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng, Nam Kỳ sôi nổi như một cô gái tân kỳ...

Giống như ông Nguyễn Tử Thức - chủ bút Nam Trung nhựt báo ở Sài Gòn - đã phát biểu khi ra Bắc thăm Hà Nội: "Thiệt chúng tôi không ngờ giang sơn nước Nam ta cẩm tú như vầy", đọc bộ sách, bạn đọc cũng phải thốt lên như ông: "Không ngờ giang sơn nước Nam ta cẩm tú như vầy".

Tấm lòng của Phạm Quỳnh

Nhưng hơn cả chuyện tả cảnh kể tình, Du ký Việt Nam trên Nam Phong tạp chí còn nuôi dưỡng cho bạn đọc niềm tự hào dân tộc và tình yêu chân thành đất nước mình với bao vẻ đẹp non sông.

Đây cũng chính là ý đồ của chủ bút Phạm Quỳnh khi khai sinh mục du ký này trên Nam Phong tạp chí.

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn và bộ sách Du ký Việt Nam trên Nam Phong tạp chí do ông biên soạn - Ảnh: T.ĐIỂU

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn và bộ sách Du ký Việt Nam trên Nam Phong tạp chí do ông biên soạn - Ảnh: T.ĐIỂU

Theo tác giả Nguyễn Hữu Sơn, trên Nam Phong số 150 ra tháng 5-1930, Phạm Quỳnh đã rút ruột tâm sự qua mấy dòng đề tựa đầy ý nghĩa:

"Muốn cho con trẻ yêu mến nước nhà thì phải cho con trẻ thông thuộc nước nhà, hiểu biết cả lịch sử, địa lý, lễ giáo, phong tục; nhỏ từ cách sinh hoạt trong dân gian; lớn đến các kỷ cương về đạo lý, ngõ hầu mới có lòng thiết tha đến nơi quê hương Tổ quốc của mình.

Lại trước khi biết đến cái tổ quốc lớn là toàn thể quốc gia, phải biết cái tổ quốc nhỏ là nơi địa phương mình sinh trưởng đã".

Phạm Quỳnh đã nuôi mục Du ký trong gần 20 năm tồn tại của tờ Nam Phong tạp chí, để nuôi dưỡng cái tình yêu với non sông gấm vóc, với văn hóa giàu có dân tộc, niềm tự hào về các tiền nhân trong con trẻ và trong mỗi người Việt.

Tất nhiên, trong khung cảnh của một xã hội thuộc địa, nửa thực dân nửa phong kiến, bạn đọc sẽ bắt gặp đây đó trong những bài du ký vẫn có những dòng chữ ca ngợi Nam triều, ca ngợi nước Pháp và người Pháp như là những người có công đi bảo hộ, khai phá văn minh... Điều này là khó tránh khỏi.

Nhưng nó chỉ là những vụn vặt bên cạnh những dòng chữ tha thiết về tình yêu giữa những người Việt cùng chung sống trên mảnh đất của tổ tiên, cùng nói chung tiếng Việt ân tình, cùng đắm mình trong lề thói, văn hóa của cha ông mình...

Bộ sách Du ký Việt Nam trên Nam Phong tạp chí - Ảnh: T.ĐIỂU

Bộ sách Du ký Việt Nam trên Nam Phong tạp chí - Ảnh: T.ĐIỂU

Như Phạm Quỳnh trong Một tháng ở Nam Kỳ đã viết: "Huống chi tuy khác xứ mà cũng đất nước nhà, tuy người lạ mà cùng là anh em, thời càng quen biết lại càng đậm đà cái tình máu mủ, càng đằm thắm cái nghĩa quê hương".

Ông Nguyễn Hữu Sơn khẳng định ngoài những hạn chế lịch sử không tránh khỏi, phải ghi nhận các trang du ký trên Nam Phong tạp chí đã tiếp nối được tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc từ cội nguồn văn học ông cha.

Trong một chừng mực nhất định, nhiều trí thức cựu học và tân học đã biết lợi dụng diễn đàn công khai để khơi gợi và giáo dục tình cảm yêu nước, nhắc nhở lại truyền thống đấu tranh anh dũng ngàn năm thông qua việc du ngoạn, thăm viếng, tưởng niệm các danh nhân đất nước (An Dương Vương, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung...) và các di tích lịch sử (Cổ Loa, đền Lý Bát Đế, hồ Hoàn Kiếm, Hoa Lư, lăng điện xứ Huế, danh thắng Banà, Ngũ Hành Sơn, Sài Gòn, Tây Đô, Phú Quốc, Thạch Động, Hà Tiên)...

Với Phạm Quỳnh, ông Sơn nói học giả có nhiều bài viết về giáo dục của Việt Nam, trong đó hết lòng tôn vinh truyền thống ngàn năm của nước Việt.

Có những đoạn ông còn thẳng thừng nêu ý kiến người Pháp đến đây phải biết rằng nước Nam không phải là một tờ giấy trắng, họ phải có ứng xử văn hóa với truyền thống văn hóa người Việt chứ không thể áp đặt.

Với người Việt, ông nói dân ta trước hết phải yêu tiếng Việt, học tiếng Việt thật giỏi trước khi học tiếng Pháp, phải giữ tiếng Việt cho thật trong sáng.

Giải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm QuỳnhGiải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

TTO - Nhà văn hóa Phạm Quỳnh vừa được xướng tên tại buổi lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh đêm 24-3 ở nội dung Dự án tôn vinh danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2024

Hồ Biểu Chánh qua góc nhìn hậu thế

 Văn hóa

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 17/05/2024 09:56

Hồ Biểu Chánh qua góc nhìn hậu thế

Theo GS Nguyễn Khuê, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là bức tranh trung thực về xã hội miền Nam thời đó với đủ loại nhân vật, quang cảnh, tập tục, lề thói cũng như sự sinh hoạt từ thành thị đến nông thôn.

Lời ghi của Hồ Biểu Chánh trên mục Quảng cáo đồng nhơn về Đại Việt tập chí - Ảnh: HỒ LAM

Lời ghi của Hồ Biểu Chánh trên mục Quảng cáo đồng nhơn về Đại Việt tập chí - Ảnh: HỒ LAM

Công trình khảo cứu Chân dung Hồ Biểu Chánh của giáo sư Nguyễn Khuê in lần đầu năm 1974, đến nay tròn nửa thế kỷ.

Quyển sách vừa được Trung tâm Nghiên cứu quốc học tái bản lần thứ ba.

PGS.TS Võ Văn Nhơn cho rằng gần như ai nghiên cứu về văn học quốc ngữ Nam Bộ trước kia hay hiện nay cũng đều phải tham khảo tác phẩm này.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

GS Nguyễn Khuê đọc tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh những năm 1960, ông nung nấu ý định viết sách.

Chia sẻ với Tuổi Trẻ, ông nói: "Khi định viết về ông, tôi chưa có điều kiện đọc toàn bộ, nhất là thơ của Hồ Biểu Chánh, khá khan hiếm.

Tình cờ, tôi gặp ông Hồ Văn Kỳ Trân, con trai trưởng của Hồ Biểu Chánh, tại Trường tư thục Les Lauriers (nay là Trường tiểu học Đuốc Sống).

Ông Kỳ Trân đọc cuốn Tâm trạng Tương an quận vương qua thi ca của ông của tôi và bảo: "Ước gì "ông cụ" tôi được viết một cuốn sách như thế này". Tôi bảo nếu ông Kỳ Trân muốn thì tôi có thể với điều kiện xin ông hãy đưa tất cả những tư liệu về Hồ Biểu Chánh cho tôi".

Rồi thì rất nhiều cuốn tiểu thuyết đóng bìa cứng có thủ bút của Hồ Biểu Chánh đã được chuyển cho ông Nguyễn Khuê, trong đó có tác phẩm viết tay Tâm hồn tôi. Sau khoảng một năm rưỡi, bức Chân dung Hồ Biểu Chánh đã thành hình.

Cuốn Chân dung Hồ Biểu Chánh - Ảnh: HỒ LAM

Cuốn Chân dung Hồ Biểu Chánh - Ảnh: HỒ LAM

Có một nhà báo Hồ Biểu Chánh

Ngoài những đóng góp lớn cho nền văn học, thi ca của nước nhà, giới nghiên cứu còn nhìn nhận Hồ Biểu Chánh trong vai trò là một nhà báo.

Trong cuốn Chân dung Hồ Biểu Chánh, ông Nguyễn Khuê nhận định Hồ Biểu Chánh nhận trợ cấp của Sở Thông tin tuyên truyền Pháp để làm Nam Kỳ tuần báo và Đại Việt tập chí nên đã có những dư luận không tốt cho ông. Lòng yêu mến của độc giả với ông cũng không còn nguyên vẹn.

Khi trò chuyện về cuốn sách này, TS Nguyễn Nam đồng tình với phân tích của ông Nguyễn Khuê.

Nhưng ông nói 50 năm sau, hậu thế đã có cái nhìn cởi mở hơn. Theo Hồ Biểu Chánh, người viết báo chân chính phải tự lãnh hai nhiệm vụ: phát minh công lý, chánh đạo và bênh vực quyền lợi công cộng của nước nhà.

Ông Nguyễn Nam cho rằng làm báo dưới chế độ thuộc địa Pháp tại Nam Kỳ, Hồ Biểu Chánh có một nguyện vọng muốn hé lộ thực tại chính trị ở Việt Nam, đi vào thực học, giúp người dân nâng cao nhận thức, tri thức của mình. Những điều này cực kỳ quan trọng trong việc tạo dựng ý thức độc lập dân tộc và hướng tới định hướng tích cực hơn cho một xã hội phát triển.

Trên mục Quảng cáo đồng nhơn, Hồ Biểu Chánh viết: "Chúng tôi lập Đại Việt tập chí nầy chẳng hề dám sánh lòng viễn đại như Đông Dương tạp chí bên Trung Quốc hoặc tính luận cao sâu như Nam Phong tạp chí ngoài Bắc Kỳ.

Chỗ chủ ý của chúng tôi thì tầm thường mà thôi; chúng tôi duy muốn buộc tình thân ái của Pháp quốc với Việt Nam, muốn truyền tư tưởng mới, muốn tỏ môn thiệt học, ngỏ giúp quốc dân muôn một trong đường tấn hóa".

"Khác với Đại Việt tập chí dành cho giới trí thức, Nam Kỳ tuần báo sẽ phổ cập kiến thức cho đại chúng. Tờ báo tạo tinh thần mới cho quốc dân, kết hợp với luân lý cố hữu, với tánh khí hùng hào, tiến thủ của thời đại, khôi phục những thuần phong mỹ tục của dân tộc" - TS Nguyễn Nam phân tích.

Bậc thầy Việt hóa tác phẩm văn học thế giới

Giáo sư Nguyễn Khuê bên cạnh công trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh của mình - Ảnh: NGỌC HÂN

Giáo sư Nguyễn Khuê bên cạnh công trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh của mình - Ảnh: NGỌC HÂN

Với đạo diễn, biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc, Hồ Biểu Chánh là bậc thầy Việt hóa các tác phẩm văn học thế giới như: Cay đắng mùi đời phỏng theo Không gia đình của Hector Malot, Ngọn cỏ gió đùa phỏng theo Những người khốn khổ của Victor Hugo, Chúa tàu Kim Qui phỏng theo Bá tước Monte Cristo của Alexandre Dumas, Người thất chí phỏng theo Tội ác và hình phạt của Dostoevsky...

Bà nói: "Ông chẳng những Việt hóa tác phẩm của những nhà văn Pháp gần gũi phong cách sáng tác, phù hợp kiến thức Pháp ngữ của ông mà còn mô phỏng tác phẩm của nhà văn Nga độc lạ là Dostoevsky".

Trong sáng tác, bà học hỏi nhiều từ cách nhà văn Hồ Biểu Chánh chọn lọc chi tiết gần gũi văn hóa người Việt, thay đổi hoàn cảnh để độc giả tin câu chuyện có thể xảy ra ở Việt Nam, sáng tạo làm giàu thêm tinh thần gốc.

Ví dụ, chi tiết bối cảnh cách mạng Pháp trong Những người khốn khổ của Victor Hugo đổi thành giặc Lê Văn Khôi trong Ngọn cỏ gió đùa, hay chi tiết ăn cắp "ổ bánh mì" đổi thành "trã cháo heo".

"Lê Văn Đó nghèo khổ "đến mượn một vài giạ lúa về mà cứu cấp mẹ già cháu nhỏ đói nằm thở hoi hóp" mà họ không cho.

"Cùng thế bưng cháo của heo ăn đem về cho mẹ với cháu ăn đỡ, họ không nghĩ lại bắt mà đánh", chi tiết rất thật như hoàn cảnh của người dân Việt Nam nên ai đọc cũng xót thương thân phận người dân nghèo khổ" - Minh Ngọc dẫn chứng.

Theo đạo diễn Hồ Ngọc Xum, một trong những người làm nhiều phim truyền hình chuyển thể nhất từ tác phẩm Hồ Biểu Chánh, rất nhiều tiểu thuyết của ông đã được chuyển thể thành phim, kịch, cải lương bởi cốt truyện rõ ràng, hấp dẫn, đủ mọi thành phần nhân vật, đặc biệt có tính nhân văn: trọng nghĩa khinh tài, trọng lễ khí, có vay có trả...

Điều này gần gũi với khán giả.

"Trong tính cách của người Nam Bộ, chữ nghĩa luôn làm đầu, tiền bạc là "phù du". Thông qua truyện của mình, Hồ Biểu Chánh đánh đúng tâm lý của người Nam Bộ xưa: nghèo cho sạch, rách cho thơm nên vì vậy mà các tác phẩm của ông có giá trị lâu dài trong đời sống văn chương miền Nam" - ông Hồ Ngọc Xum cho biết.

Cuốn Chân dung Hồ Biểu Chánh nhìn nhận thân thế, sự nghiệp của ông trong các lĩnh vực báo chí và biên khảo, thi ca, tiểu thuyết.

GS Nguyễn Khuê từng là trưởng bộ môn Hán Nôm, khoa văn học Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG TP.HCM).

Ông là nhà nghiên cứu văn hóa có nhiều đóng góp có giá trị cho văn học Hán Nôm và văn học quốc ngữ thời kỳ sơ khai của Nam Bộ tại Việt Nam.

Tác phẩm Hồ Biểu Chánh lại lên phimTác phẩm Hồ Biểu Chánh lại lên phim

TT - Ðó là bộ phim 30 tập Hai khối tình, lên sóng lúc 20g từ thứ hai đến thứ năm hằng tuần trên HTV7, bắt đầu từ ngày 29-1.