Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Cao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Cao. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2023

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài - Kỳ 6: Văn Cao - ông hoàng trở lại

 Thời sự Phóng sự

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 12/11/2023 09:36

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài - Kỳ 6: Văn Cao - ông hoàng trở lại

1988 là năm đánh dấu sự trở lại rực rỡ của Văn Cao cả trong âm nhạc và thơ ca, với chương trình Đêm nhạc Văn Cao diễn hơn 60 đêm trên cả nước cùng tập thơ Lá ra đời từ những cuốn sổ thơ 'bí mật'.

Nhạc sĩ Văn Cao ngồi nghe Ánh Tuyết hát trong đêm nhạc Văn Cao - Trịnh Công Sơn tại Nhà văn hóa Thanh niên năm 1994 - Ảnh: T.T.D.

Nhạc sĩ Văn Cao ngồi nghe Ánh Tuyết hát trong đêm nhạc Văn Cao - Trịnh Công Sơn tại Nhà văn hóa Thanh niên năm 1994 - Ảnh: T.T.D.

1988 - năm của Văn Cao

Kể từ năm 1956, những tình ca lãng mạn thời kỳ trước cách mạng của Văn Cao hầu như vắng bóng trong đời sống văn nghệ miền Bắc, giống như số phận chung của âm nhạc tiền chiến. Không ai nghĩ 30 năm sau các tác phẩm này bắt đầu sống dậy với một sức bật khổng lồ của một chiếc lò xo bị nén chặt thời gian dài.

Kể từ sau cuộc vận động sáng tác Quốc ca mới không thành công năm 1982, Tiến quân ca vẫn là Quốc ca của Việt Nam, Văn Cao dần xuất hiện trở lại trong đời sống văn nghệ các đoàn thể chứ không còn chỉ lặng lẽ sáng tác khí nhạc, viết nhạc phim và vẽ minh họa nữa.

Đó là năm 1983, Đại hội Hội Nhạc sĩ Việt Nam lần thứ III, Văn Cao được trở lại vị trí ủy viên Ban chấp hành sau nhiều năm không tham gia lãnh đạo hội từ sau Nhân văn - Giai phẩm. 

Cùng sự phục hồi này, một chương trình âm nhạc tác giả Văn Cao được Hội Nhạc sĩ Việt Nam phối hợp với gia đình, những người bạn tổ chức mừng sinh nhật tròn 60 tuổi của tác giả và Trịnh Công Sơn đang ở Hà Nội.

Ông Đặng Hữu Phúc, một trong những người cùng tham gia với gia đình tổ chức chương trình này, kể tiệc sinh nhật âm nhạc chỉ gói gọn trong gia đình, bạn bè thân thiết, được tổ chức vào buổi chiều ở căn phòng gác hai trong ngôi biệt thự cổ 51 Trần Hưng Đạo, trụ sở của Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam. 

Ngôi biệt thự cổ từng là nơi Bảo Đại ở mỗi lần ra Hà Nội trong quãng thời gian ông giữ vai trò cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam năm 1945 - 1946. Sau này là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lớn của văn nghệ một thời.

Sau nhiều năm lận đận, sầu khổ vì Nhân văn – Giai phẩm, nhạc sĩ Văn Cao cũng được vinh danh với Huân chương Độc lập hạng Nhất năm 1993 - Ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN

Sau nhiều năm lận đận, sầu khổ vì Nhân văn – Giai phẩm, nhạc sĩ Văn Cao cũng được vinh danh với Huân chương Độc lập hạng Nhất năm 1993 - Ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN

Đặng Hữu Phúc lúc đó mới 30 tuổi, đệm đàn cho cả chương trình và biểu diễn độc tấu hai bản nhạc Văn Cao viết cho piano là Sông tuyến và Hàng dừa xa. Ông còn nhớ khi những ca khúc của người nhạc sĩ tài danh cất lên, ai ai cũng xúc động, đặc biệt là những tình ca lãng mạn đã im bặt ở miền Bắc suốt mấy chục năm như Thiên thai, Trương Chi, Suối mơ...

Ngoài các nhạc phẩm của Văn Cao, bữa ấy Trịnh Công Sơn đã hát tặng "anh Văn" bài Bốn mùa thay lá, còn nhạc sĩ Trần Long Ẩn hát tặng đàn anh bài hát Một đời người một rừng cây của mình.

Kể từ đây, những đêm nhạc chuyên đề Văn Cao thỉnh thoảng lại được tổ chức ở Hà Nội, TP.HCM. Đặc biệt đêm nhạc Văn Cao tối 21-12-1986 tại Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam ở TP.HCM do nhóm bạn nhạc sĩ tổ chức khá thành công. Tháng 9-1987, một Chương trình nhạc Văn Cao được tổ chức ở Cung văn hóa Lao động Việt Xô nhưng chưa gây tiếng vang.

Phải tới năm 1988 mới chứng kiến sự trở lại bùng nổ của âm nhạc Văn Cao với chương trình Đêm nhạc Văn Cao do Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam thực hiện. Ông Văn Thao nhớ lại hơn 60 đêm nhạc Văn Cao đã diễn ra tại Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Nam Định...

Âm nhạc Văn Cao hầu như im lặng gần 30 năm nay bỗng dội về mạnh mẽ như nó xứng đáng thế. Các ca sĩ Kim Ngọc, Quý Dương, Hoàng Mi, Quang Thọ, Thanh Nga... hát từ Trương Chi, Thiên thai, Suối mơ, Đàn chim Việt... cho tới Trường ca sông Lô, Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Bắc Sơn, Tiến về Hà Nội... Các tác phẩm khí nhạc của ông cũng được biểu diễn.

Văn Thao còn thiết kế logo riêng cho đêm nhạc. Đây là lần đầu tiên đêm nhạc của một tác giả có treo logo tác giả riêng.

Nhạc sĩ Thụy Kha còn nhớ đêm mở đầu chuỗi hơn 60 đêm nhạc diễn ra ngày 17-1-1988 tại Nhà văn hóa Trung tâm Hà Nội (rạp Kim Môn cũ trên phố Hàng Buồm, nay là Trung tâm Văn hóa 22 Hàng Buồm). Khán giả kéo tới đông tới mức người ta phải bán thêm vé đứng. Ngay hôm sau Thụy Kha đã có bài báo về đêm nhạc đăng trên báo Văn Nghệ.

Khỏi nói, Văn Cao đã hạnh phúc chừng nào trong năm này. Hơn 60 đêm nhạc trong một năm, tập thơ Lá được xuất bản sau nhiều năm cất giấu, tập nhạc Thiên thai cũng được NXB Trẻ ấn hành. Hoàn toàn không quá lời khi gọi năm 1988 là năm của Văn Cao.

Cũng năm này, các bạn của ông là Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán và Hoàng Tích Linh được phục hồi hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam sau tháng năm lận đận, sầu khổ vì Nhân văn - Giai phẩm. Nhưng tin buồn lớn cũng đến với Văn Cao trong năm đặc biệt: các bạn ông, ba họa sĩ kỳ tài Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên lần lượt qua đời cùng năm.

Ca sĩ Ánh Tuyết và nhạc sĩ Văn Cao trong một lần gặp gỡ tại TP.HCM năm 1994 - Ảnh: NVCC

Ca sĩ Ánh Tuyết và nhạc sĩ Văn Cao trong một lần gặp gỡ tại TP.HCM năm 1994 - Ảnh: NVCC

Đầu đời có Kim Tiêu, cuối đời có Ánh Tuyết

Năm 1993, Văn Cao tròn 70 tuổi thì âm nhạc của ông bỗng tìm được tri âm. Đó là giọng hát Ánh Tuyết.

Trong một quán cà phê ở Hà Nội đầu thu, Ánh Tuyết ríu rít kể chuyện chị vừa ghé thăm bà Văn Cao ở căn gác 108 Yết Kiêu. Cảnh cũ người xưa khiến kỷ niệm cuộc gặp gỡ định mệnh với âm nhạc Văn Cao ùa về như mới ngày hôm qua...

Thời điểm đó Ánh Tuyết đang định bỏ nghề vì chạy sô miết cũng không đủ sống. Một ngày tháng 7-1993, bỗng chị nhận được lời mời: "Tuyết, em hát bài Buồn tàn thu và Thiên thai của Văn Cao cho chương trình nha".

Đó là chương trình tác giả Văn Cao diễn hai đêm cuối tháng 7 và đầu tháng 8-1993 tại quán Nhạc Sĩ ở số 7 Nguyễn Văn Chiêm (sau lưng Nhà văn hóa Thanh niên), do nhóm Những Người Bạn (nhạc sĩ Từ Huy, Thanh Tùng, Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn...) tổ chức, nhân có nhạc sĩ Văn Cao vô Sài Gòn.

Ánh Tuyết còn nhớ đêm đó mưa miết, âm thanh trục trặc, khán giả đến quá đông, quán phải đóng cửa không nhận thêm khách. Đêm đó có Lê Dung, Thanh Lan, Hồng Vân... nên Ánh Tuyết rất run. Rồi cô tự trấn an: Mình ngồi dưới đất rồi còn có gì sợ té, cứ hát thôi.

Ánh Tuyết bước ra, cất giọng hát thánh thót như tạc vào đêm tối: "Ai lướt đi ngoài sương gió...".

Bên dưới khán giả những gương mặt lập tức giãn ra, rồi những tràng pháo tay giòn giã. Ánh Tuyết thử liếc nhìn Văn Cao xem phản ứng của ông, vẫn chỉ thấy ông ngồi im như một pho tượng. Đêm nhạc kết thúc, cô ca sĩ trẻ chạy qua cùng bà Thúy Băng dìu Văn Cao xuống bậc tam cấp, hòng nghe một lời nhận xét của nhạc sĩ, nhưng ông vẫn... không nói gì.

Sáng hôm sau báo chí bùng nổ những lời ngợi khen cho giọng hát Ánh Tuyết. Cô hết bỏ nghề. Kể từ đó âm nhạc của Văn Cao chắp cho cô đôi cánh thênh thang.

Một năm sau gặp nhạc sĩ Văn Cao vô Nam. Ánh Tuyết muốn tìm hiểu những bài hát của ông từ chính tác giả, nhưng nhạc sĩ Văn Cao lúc nào cũng kiệm lời, kiệm biểu cảm nên Ánh Tuyết không dám hỏi. Vậy là hai bác cháu chỉ ngồi lặng lẽ bên nhau hàng giờ đồng hồ, cháu thì chén trà, bác thì chén rượu.

Rồi bỗng dưng người nhạc sĩ già nở nụ cười, đôi mắt vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ: "Đầu đời âm nhạc Văn Cao thì có Kim Tiêu" (nam ca sĩ cũng người Hải Phòng có giọng hát rất hay, tham gia cách mạng bị địch bắt nhưng sau khi ra tù không hát nữa, rồi mất sớm). Một lúc sau nhạc sĩ nói thêm: "Không ngờ cuối đời thì có Ánh Tuyết".

Nghe thế nữ ca sĩ trẻ vui lắm nhưng không dám biểu cảm gì. Hồi lâu, Ánh Tuyết mới dám lên tiếng: "Nhưng mà bác à, Ánh Tuyết thì chỉ mới ánh thôi, tuyết rồi cũng sẽ tan".

Văn Cao cũng lại hồi lâu mới đáp: "Con bé này cũng khéo nói".

"Trương Chi là tôi đấy"

Ánh Tuyết nhớ có lần hai bác cháu cũng ngồi yên lặng, người bên chén trà người bên chén rượu, nhưng ở nhà Văn Cao ngoài Hà Nội. Hôm ấy Ánh Tuyết muốn hỏi ông về bài Trương Chi. Hồi lâu Văn Cao mới nói, năm chữ thôi: "Trương Chi là tôi đấy".

"Lúc đó tôi không hỏi gì nữa hết. Tự cảm nhận, tự hiểu lấy, càng thấy thương ông, thương lắm", nữ ca sĩ ngậm ngùi.

-----------------

Cuộc đời bậc kỳ tài từng chịu nhiều đau khổ Văn Cao cho đến cuối cùng thì đọng lại vẫn là một chữ tình để "từ đây người biết yêu người...".

Kỳ tới: Từ đây người biết yêu người

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài kỳ 5: Văn Cao vẽ Đặng Thai Mai - hai đỉnh núi giáp đầuVăn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài kỳ 5: Văn Cao vẽ Đặng Thai Mai - hai đỉnh núi giáp đầu

Nổi tiếng nhất ở mảng âm nhạc nhưng hội họa mới chính là mối băn khoăn hơn hết của Văn Cao, theo nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân - một người bạn tâm giao của ông.

Thứ Bảy, 11 tháng 11, 2023

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài kỳ 5: Văn Cao vẽ Đặng Thai Mai - hai đỉnh núi giáp đầu

 Thời sự Phóng sự

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 11/11/2023 09:22

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài kỳ 5: Văn Cao vẽ Đặng Thai Mai - hai đỉnh núi giáp đầu

Nổi tiếng nhất ở mảng âm nhạc nhưng hội họa mới chính là mối băn khoăn hơn hết của Văn Cao, theo nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân - một người bạn tâm giao của ông.

Chân dung Đặng Thai Mai do Văn Cao vẽ, hiện trưng bày tại không gian lưu niệm Đặng Thai Mai ở Hà Nội -  Ảnh: T.ĐIỂU

Chân dung Đặng Thai Mai do Văn Cao vẽ, hiện trưng bày tại không gian lưu niệm Đặng Thai Mai ở Hà Nội - Ảnh: T.ĐIỂU

Văn Cao "dỏm" là ân nhân của Văn Cao thật

Cũng chính hội họa đã giúp Văn Cao có được chút thu nhập nuôi gia đình trong mấy chục năm chìm nổi sau vụ Nhân văn - Giai phẩm, cũng là nơi chứng kiến nhiều ân tình thời đại.

Bức chân dung Đặng Thai Mai do Văn Cao vẽ không chỉ đẹp mà đằng sau nó còn là câu chuyện mang tầm văn hóa Đặng Thai Mai - Văn Cao.

Tuy chỉ học hai năm ở Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với tư cách dự thính viên tự do (auditeur libre), Văn Cao ngay từ những cuộc ra mắt đầu tiên ở triển lãm năm 1943 - 1944 đã được sự chú ý của người yêu nghệ thuật bởi phong cách riêng.

Ông sớm chọn hội họa lập thể cho sáng tác của mình, trong khi các họa sĩ Mỹ thuật Đông Dương tới lúc đó vẫn thường chọn phong cách vẽ hiện thực lãng mạn.

Trên chiến khu Việt Bắc, ngoài làm báo, sáng tác ca khúc, làm thơ, Văn Cao cũng tiếp tục vẽ minh họa, vẽ một số bức tranh sơn dầu. Sau biến cố Nhân văn - Giai phẩm, Văn Cao chỉ còn nghề vẽ minh họa giúp ông có chút tiền sinh sống.

Họa sĩ Bùi Thanh Phương (con trai họa sĩ Bùi Xuân Phái) kể ở báo Văn Nghệ lúc đó có họa sĩ Lê Chính phụ trách trình bày báo.

Có thể nói trong những tháng năm khó khăn ấy, Lê Chính là ân nhân giúp các họa sĩ Nhân văn - Giai phẩm như Văn Cao, Bùi Xuân Phái có thêm chút thu nhập cải thiện phần nào khó khăn kinh tế của gia đình bằng việc đặt các ông vẽ minh họa cho báo trong vài thập niên.

Nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng cho biết thống kê cho thấy từ 1970 - 1980 Bùi Xuân Phái vẽ khoảng 3/4 tranh minh họa trên báo Văn Nghệ, đứng thứ nhì chính là Văn Cao.

Lê Chính không chỉ giúp Văn Cao mà còn được đùa gọi là "Văn Cao dỏm" bởi ông có mái tóc bạc cũng để dài hất ngược ra sau khiến không ít người nhầm là... Văn Cao.

Ngoài vẽ minh họa báo, Văn Cao còn vẽ khoảng 300 bìa sách, một số lượng rất lớn. Nhà văn Sơn Tùng, vốn là đàn em thân thiết của Văn Cao, mỗi lần có tác phẩm được in đều xin Văn Cao "chiếc áo" cho "con" mình.

Ông Nghiêm Thành - người con trai nối nghiệp hội họa của Văn Cao - cho biết anh rất thích phong cách vẽ kiệm màu, kiệm nét, bỏ nét của bố mình. "Bây giờ người ta nói tới tranh tối giản, nhưng ông đã tối giản từ lâu", họa sĩ Nghiêm Thành nói.

Nhà phê bình Thái Bá Vân đánh giá rất cao đóng góp xuất sắc của Văn Cao trong nghệ thuật vẽ minh họa và đồ họa sách: "Chính Văn Cao và vài ba người nữa vào những năm 1960 đã mở một thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa sách...

Có thể nói Văn Cao đã lập được trường phái minh họa và bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc".

Ngoài vẽ minh họa, Văn Cao cũng sáng tác một số bức tranh sơn dầu, trong đó có Chân dung bà Băng, Chân dung Đặng Thai Mai, Uống rượu vùng cao, Chân dung ông Lâm cà phê... được nhiều người yêu thích, không chỉ bởi tranh đẹp mà còn bởi những câu chuyện thú vị đằng sau.

Từ trái qua “Văn Cao dỏm” Lê Chính và Văn Cao, Bùi Xuân Phái, nhạc sĩ Huy Du - Ảnh: HÀ TƯỜNG

Từ trái qua “Văn Cao dỏm” Lê Chính và Văn Cao, Bùi Xuân Phái, nhạc sĩ Huy Du - Ảnh: HÀ TƯỜNG

Tầm văn hóa Đặng Thai Mai - Văn Cao

Họa sĩ Văn Thao kể bố mình vẽ Đặng Thai Mai bởi tình nghĩa, quý trọng nhân cách ông Đặng Thai Mai, lại thân với con rể ông là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mối duyên giữa Văn Cao và Đặng Thai Mai đã có từ sớm.

Đầu năm 1946, Văn Cao có một thời gian dạy hội họa ở trường học do Đặng Thai Mai mở tại Hà Nội. Sau khi Nguyễn Đỗ Cung không thể tham gia dạy cho trường đã giới thiệu Văn Cao thay thế.

Đặng Thai Mai đồng ý luôn và trả lương cho Văn Cao như trả cho Nguyễn Đỗ Cung trước đó. Trường giải tán sau ngày Toàn quốc kháng chiến.

Vợ chồng nhạc sĩ Văn Cao và vợ chồng nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân - Ảnh: HÀTƯỜNG

Vợ chồng nhạc sĩ Văn Cao và vợ chồng nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân - Ảnh: HÀTƯỜNG

Trên báo Văn Nghệ vào ngày 19-7-2003, nhà văn Sơn Tùng cũng từng kể lại nguyên cớ trực tiếp dẫn tới việc Văn Cao vẽ chân dung Đặng Thai Mai.

Trong một bữa rượu ở Chiếu văn (nhà ông Sơn Tùng ở ngõ Văn Chương trên phố Khâm Thiên), ông kể với các bạn văn chuyện Đặng Thai Mai an ủi ông vì cuốn Con người và con đường bị nhà xuất bản xẻo chỗ nọ chỗ kia, đến bức tranh bìa của Văn Cao vẽ cũng bị xén mất một khúc.

Nhìn tấm bìa bị xén, Đặng Thai Mai an ủi "Đây vẫn là của Văn Cao" và động viên rằng rồi một ngày cuốn sách và bức tranh bìa sẽ được tái bản nguyên vẹn.

Nghe xong, trong Chiếu văn ai cũng gật gù về bản lĩnh của nhà văn hóa lớn của thế kỷ. Đặng Đình Hưng lúc đó mới lên tiếng gợi ý Văn Cao nên vẽ chân dung cụ Đặng Thai Mai ngay dịp này, "một đại thụ văn lâm".

Văn Cao thực ra có dự định đã khá lâu sẽ vẽ chân dung bằng sơn dầu Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Nguyễn Tuân. Nhưng vì phải vẽ theo đặt hàng của các báo, vẽ mẫu mã theo yêu cầu để có chút tiền hằng ngày cho nên dự định ấy vẫn còn là món nợ. Lần này, được bạn bè động viên, ông gắng hoàn thành tâm nguyện.

Đúng 9h ngày 21-11-1977, Văn Cao, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hạp và Sơn Tùng... có mặt ở nhà Đặng Thai Mai. Suốt buổi sáng hôm ấy, Đặng Thai Mai ngồi mẫu cho Văn Cao vẽ và Nguyễn Hạp chụp ảnh làm tư liệu cho Văn Cao tự vẽ ở nhà những ngày sau đó.

Văn Cao vẽ bức này rất kỹ, nhờ nhiều bạn bè đến thẩm định từng giai đoạn. Đến ngày sinh nhật 75 tuổi của Đặng Thai Mai vào 25-12-1977, Văn Cao vẫn còn muốn hoàn thiện thêm. Bạn bè gợi ý không nên quá tháng 12, Văn Cao hứa ngày 31-12 bức tranh sẽ về nhà Đặng Thai Mai.

Ngày đón bức tranh cũng được tổ chức rất trang trọng mà Văn Cao gọi là "Một lễ tâm tầm văn hóa Đặng Thai Mai".

Lần ấy, Đặng Thai Mai khi nhận được tin báo đón tranh về, ông đã gọi nhà văn Sơn Tùng đến để nhờ vợ chồng nhà văn vốn là người thân của cả hai bên sẽ thay mặt ông bà Đặng Thai Mai mang lễ đến nhà Văn Cao để đón tranh.

Ông không muốn để các con ông đến đón tranh dù các con trai gái dâu rể của ông đều là những người có địa vị trong xã hội (các nhà khoa học, kiến trúc sư và các vị tướng).

Vậy là đúng 8h30 ngày 31-12-1977, xe từ nhà Đặng Thai Mai đưa vợ chồng Sơn Tùng cùng lễ vật đến nhà Văn Cao để đón tranh về. Lễ vật gồm có chai rượu Lúa Mới, thuốc lá Thăng Long bao bạc, chè Hồng Đào, kẹo Hải Châu, hoa Vạn Thọ.

Ông bà Văn Cao đã đón đợi sẵn ở ngay cửa phòng. Bà Thúy Băng đon đả nói: "Ông bà bác Đặng Thai Mai lễ tất chu đáo chúng tôi chưa từng thấy...". Còn Văn Cao thì cảm kích nói: "Một lễ tâm tầm văn hóa Đặng Thai Mai".

Chân dung người vợ Nghiêm Thúy Băng dưới nét cọ của Văn Cao

Chân dung người vợ Nghiêm Thúy Băng dưới nét cọ của Văn Cao

Bà Băng phải đến cơ quan, hẹn một lúc sẽ đến nhà GS Đặng Thai Mai sau. Văn Cao và vợ chồng nhà văn Sơn Tùng đi trước cùng bức tranh. Tới nơi, Văn Cao vừa bước lên thềm, Đặng Thai Mai ôm hôn Văn Cao - hình ảnh xúc động khiến Sơn Tùng "cảm niệm như hai đỉnh núi giáp đầu nhau".

Ngắm bức chân dung, Đặng Thai Mai xúc động bảo: "Anh đã thể hiện cái mà tôi vắng mặt". Còn Văn Cao thì bảo: "Tấm lòng tôi muốn giữ cái mà anh có cho người hôm nay và cho người mai sau...".

Một lúc thì bà Nghiêm Thúy Băng đến cùng bó hoa lay ơn bảy bông trắng, hai bông tím, một bông vàng, trao cho vợ giáo sư Đặng Thai Mai là bà Hồ Thị Toan. Màu hoa cũng đồng điệu với màu bức tranh mới.

Bức tranh không bán nhưng tặng

Ông Nghiêm Thành kể sinh thời nhà sưu tập Đức Minh rất thích bức tranh Uống rượu vùng cao của Văn Cao nhưng hỏi mua ông không bán.

Khi mẹ Văn Cao mất, ông Đức Minh phúng viếng một phong bì giá trị, nhờ đó mà Văn Cao có tiền lo cho mẹ.

Xong việc tang gia, Văn Cao cho người gọi ông Đức Minh tới nhà tặng bức tranh ông ước muốn bao lâu mà chưa có được.

-----------------

1988 là năm đánh dấu sự trở lại rực rỡ của Văn Cao cả trong âm nhạc và thơ ca với Đêm nhạc Văn Cao diễn hơn 60 đêm trên cả nước.

Kỳ tới: Văn Cao - ông hoàng trở lại

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài - Kỳ 4: "Tác phẩm vĩ đại" và bài hát tiên tri của Văn CaoVăn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài - Kỳ 4: 'Tác phẩm vĩ đại' và bài hát tiên tri của Văn Cao

Nếu như Trường ca sông Lô được Phạm Duy gọi là tác phẩm vĩ đại, và Văn Cao là "cha đẻ của loại trường ca", thì Tiến về Hà Nội khiến tác giả bị phê bình lạc quan tếu chỉ vì… thấy trước tương lai 5 năm.

Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2023

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài - Kỳ 4: 'Tác phẩm vĩ đại' và bài hát tiên tri của Văn Cao

 Thời sự Phóng sự

dvnien copy từ https://tuoitre.vn/..., trang web này đăng ngày 10/11/2023 11:22

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài - Kỳ 4: 'Tác phẩm vĩ đại' và bài hát tiên tri của Văn Cao

Nếu như Trường ca sông Lô được Phạm Duy gọi là tác phẩm vĩ đại, và Văn Cao là "cha đẻ của loại trường ca", thì Tiến về Hà Nội khiến tác giả bị phê bình lạc quan tếu chỉ vì… thấy trước tương lai 5 năm.

Văn Cao khi ở Việt Bắc sáng tác Trường ca sông Lô, Tiến về Hà Nội - Ảnh: TRẦN VĂN LƯU

Văn Cao khi ở Việt Bắc sáng tác Trường ca sông Lô, Tiến về Hà Nội - Ảnh: TRẦN VĂN LƯU

Nhưng Tiến về Hà Nội vẫn chưa phải là bài hát lận đận nhất của Văn Cao, mà chính là Mùa xuân đầu tiên.

Trường ca sông Lô - tác phẩm vĩ đại

Người con trai của nhạc sĩ Văn Cao là ông Văn Thao kể sau khi rút khỏi việc tình báo ở Lào Cai, bố ông đưa vợ con trở về Vĩnh Yên, tiếp tục làm báo, phụ trách báo Độc Lập lúc đó có cơ sở in ở chợ Me Đồi, Vĩnh Yên.

Cuối tháng 10-1947, trận sông Lô xảy ra, pháo binh ta đánh tan một số tàu chiến Pháp khiến địch phải rút khỏi Việt Bắc. Văn Cao được gọi lên Hạ Hòa, Phú Thọ, làm báo Văn Nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam vừa thành lập.

Vậy là Văn Cao cõng con trai đầu lòng Văn Thao trên lưng, cha con, vợ chồng đi bộ dọc dòng sông Lô đoạn từ thị trấn Me Đồi qua bến Then sang bên kia là Phú Thọ.

Hình ảnh xóm làng bị giặc đốt cháy chỉ còn nền trơ than xám, nhưng dưới lòng sông xác giặc nổi trôi vào bờ mà ông nhìn thấy suốt dọc đường đi, cộng với niềm vui chiến thắng đã khiến Văn Cao xúc cảm viết Trường ca sông Lô.

Tác phẩm được đăng số báo Văn Nghệ đầu tiên ra tháng 3-1948, cùng Nhận đường của Nguyễn Đình Thi, Cá nước của Tố Hữu, Làng của Kim Lân, Tây Tiến của Quang Dũng…

Bài hát được nhạc sĩ Phạm Duy ngợi ca hết lời cả về lời thơ và âm nhạc trong hồi ký của ông. Người nhạc sĩ kiêu bạc này không ngần ngại gọi Trường ca sông Lô là "tác phẩm vĩ đại". Còn Văn Cao là người khai phá, cha đẻ của loại trường ca.

Phạm Duy nhận định bài hát: "Chẳng thua gì bất cứ một tuyệt phẩm nào của loại nhạc cổ điển Tây phương. Nét nhạc của trường ca rất mạnh khỏe, rất tươi sáng. Nhịp điệu vô cùng phong phú với những chuyển đoạn rất tài tình. Bài này đánh dấu sự trưởng thành của tân nhạc".

Tiến về Hà Nội - "lạc quan tếu" hay tiên tri?

Giữa năm 1949, tại Việt Bắc, Văn Cao đang làm báo Văn Nghệ. Ông cùng một số văn nghệ sĩ được triệu tập đến dự một cuộc họp để nghe Trung ương phổ biến tình hình chiến sự. Đích thân hai ông Trường Chinh và Tố Hữu chủ trì cuộc họp.

Mọi người được nghe phổ biến chủ trương chuẩn bị tổng phản công và giới văn nghệ sĩ được giao nhiệm vụ: "Cần phải nhanh chóng có những sáng tác kịp thời phục vụ kháng chiến".

Sau cuộc họp đó, Văn Cao cùng Nguyễn Đình Thi được phân công trở lại Khu 3 công tác và phổ biến lại cho mọi người chủ trương này. Văn Cao thuê một chuyến đò dọc, đưa vợ con cùng Nguyễn Đình Thi xuôi theo dòng sông Lô về Khu 3.

Chợ Đại - Cống Thần (thuộc huyện Ứng Hòa, Hà Tây) gần như là thủ phủ của giới văn nghệ sĩ lúc đó, do ông Lê Quang Đạo (bí thư liên tỉnh Hà Nội - Hà Đông) phụ trách. Lê Quang Đạo và Văn Cao rất thân thiết, ông đã đề nghị Văn Cao nên sáng tác một bài cho chủ trương này.

Vui mừng nghĩ ngày chiến thắng trở về không còn xa, Văn Cao sáng tác liền lúc hai bài Tổng tiến công và Tiến về Hà Nội. Trong đó Tiến về Hà Nội ông làm trong một đêm thu trong vắt. Gần ngôi nhà ông ở có họa sĩ Tạ Tỵ và Bùi Xuân Phái.

"Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân kéo về" ngày 10-10-1954 đúng như bài hát Tiến về Hà Nội của Văn Cao - Ảnh: NGUYỄN DUY KIÊN

"Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân kéo về" ngày 10-10-1954 đúng như bài hát Tiến về Hà Nội của Văn Cao - Ảnh: NGUYỄN DUY KIÊN

Vậy là ngay trong đêm viết bài hát xong, ông gọi mọi người dậy để ông hát cho nghe. Tạ Tỵ nghe xong thích quá vỗ đùi, nói ngay ngày mai phải triệu tập anh em phổ biến bài này. Hai chàng họa sĩ Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái chính là hai người đã được Văn Cao dạy hát bài này đầu tiên.

Chủ trương tổng phản công chưa kịp thực hiện thì cuối năm 1949, Pháp đã mở các cuộc càn quét lớn vào các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ. Để bảo toàn lực lượng, quân ta phải rút lên rừng. Nhóm Văn Cao, Tạ Phước, Tô Vũ... chạy sang Đống Năm, Thái Bình.

Tại đây, đầu năm 1950, nhạc sĩ Tạ Phước đã dàn dựng Tiến về Hà Nội, biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân. Bài hát nhanh chóng lan đi khắp nơi.

Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, bài hát cũng bị một số anh em lính đặt lời bịa thành "Trùng trùng bom rơi như chấu, lớp lớp đoàn quân xuống hầm"… Ít lâu sau tại Việt Bắc, trong các cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân, bài hát được đem ra mổ xẻ và tác giả bị phê phán là "lạc quan tếu", mang tinh thần tiểu tư sản ảnh hưởng đến mọi người.

Bài hát bị cấm không được hát nữa nhưng vẫn cứ ngấm ngầm lan tỏa trong nhân dân, vì nó là ước vọng âm ỉ trong lòng mọi người. 5 năm sau khi bài hát ra đời, chúng ta thắng lớn ở Điện Biên Phủ, tiến về giải phóng thủ đô.

Sự kiện diễn ra đúng như hình ảnh bài bát của Văn Cao đã mô tả: "Trùng trùng quân đi như sóng/Lớp lớp đoàn quân kéo về…

Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về/ Như đài hoa đón mừng, nở năm cánh đào, chảy dòng sương sớm long lanh…". Và thật xúc động khi cả Hà Nội bừng lên đón đoàn quân giải phóng bằng bài hát Tiến về Hà Nội.

Một điều Văn Cao rất tiếc đó là ngày trở về thủ đô vỡ òa hạnh phúc mà ông đã tiên đoán chính xác hoàn toàn từ 5 năm trước, cuối cùng ông lại không được chứng kiến tận mắt.

Vì giữa năm 1954, Văn Cao được trong phái đoàn Văn hóa cứu quốc do ông Trần Huy Liệu dẫn đầu cùng một số văn nghệ sĩ tên tuổi đi thăm Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ.

Nhạc sĩ Văn Cao và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sinh thời Đại tướng cho biết thích nhất bài Bắc Sơn và Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao - Ảnh: QUANG PHÙNG

Nhạc sĩ Văn Cao và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sinh thời Đại tướng cho biết thích nhất bài Bắc Sơn và Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao - Ảnh: QUANG PHÙNG

Mùa xuân đầu tiên - lận đận cuối cùng của Văn Cao

Sau bài hát bị phê bình là "lạc quan tếu", Văn Cao không đoạn tuyệt hoàn toàn với sáng tác ca khúc như một số bài báo đã viết.

Ông Văn Thao cho biết một vài lần những tin vui ở chiến trường cũng làm cha ông rất xúc động và ông đã sáng tác vài ca khúc trong kháng chiến chống Mỹ, như bài Dưới ngọn cờ giải phóng, Đường dây qua bản Mèo, Hải Phòng mở ra biển lớn.

Đặc biệt, mùa xuân đầu tiên khi đất nước thống nhất năm 1976, trong nỗi vui tận hưởng một mùa xuân thanh bình, đặc biệt là niềm thôi thúc viết một cái gì đó để kết thúc cuộc chiến tranh mà 30 năm trước ông đã hiệu triệu mọi người bước vào cuộc chiến với bài Tiến quân ca, Văn Cao đã sáng tác bài hát Mùa xuân đầu tiên.

Bài hát được in ngay trên báo Sài Gòn Giải Phóng, nhưng nó sớm bị bỏ rơi bởi điệu valse của nó thật lạc lõng trong âm hưởng hào hùng, phơi phới tự hào chung của các ca khúc lúc bấy giờ.

Đây chính là lận đận cuối cùng của nhạc sĩ tài hoa Văn Cao sau nỗi sầu khổ vì Nhân văn - Giai phẩm.

Nhưng bất ngờ là ngay trong năm 1976, Mùa xuân đầu tiên được in và biểu diễn ở Liên Xô, mà gia đình Văn Cao chỉ may mắn biết vào những năm 1980, khi con gái Nguyễn Hương Hương của ông học ở Học viện Âm nhạc Tchaikovsky báo về.

Năm 1991, Nguyễn Thụy Kha làm một phim video ca nhạc về cuộc đời Văn Cao, trong cảnh Văn Cao về quê Nam Định, ông lồng bài hát Mùa xuân đầu tiên vào một đoạn dài, thì lần đầu tiên ca khúc này do ca sĩ Quốc Đông thu âm mới được phổ biến tới công chúng.

Nhưng bài hát chỉ thật sự "bừng sáng" nhờ giọng hát ca sĩ Thanh Thúy năm 1995, trong bộ phim ca nhạc Văn Cao - Buổi sáng có trong sự thật do đạo diễn Đinh Anh Dũng làm sau khi nhạc sĩ đã qua đời...

Bài Tiến về Hà Nội khiến Văn Cao được nhiều người gọi là cánh chim báo bão của cách mạng.

Nhưng đây không phải là lần đầu tiên Văn Cao thể hiện tính tiên tri trong các bài hát. Ngay từ năm 1945, khi cách mạng chưa thành công, Văn Cao đã sáng tác các bài Không quân Việt Nam, Bài ca chiến sĩ hải quân khi bộ đội ta hầu hết còn… đi bộ. Và quả nhiên từ thập niên 1960 thì không quân, hải quân đã lần lượt ra đời trong quân đội ta.

----------------------------

Nổi tiếng nhất ở âm nhạc, nhưng hội họa mới chính là mối băn khoăn hơn hết của Văn Cao, theo nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân, một người bạn tâm giao của ông.

Kỳ tới: Văn Cao vẽ Đặng Thai Mai - hai đỉnh núi giáp đầu

Văn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài - Kỳ 3: Văn Cao - người chồng yêu vợ và nhà tình báo đặc biệtVăn Cao, trăm năm một bậc kỳ tài - Kỳ 3: Văn Cao - người chồng yêu vợ và nhà tình báo đặc biệt

Tại sao ông Lê Giản tha thiết mời Văn Cao ở lại hoạt động trong ngành công an, nhưng Văn Cao kiên quyết từ chối?