Biên phòng Quảng Trị phối hợp với các lực lượng địa phương giải cứu một phụ nữ bị mắc kẹt hơn 24 giờ trong rừng vì mưa lũ.
Lực lượng biên phòng giải cứu bà Một sau 24 giờ mắc kẹt trong rừng do mưa lũ - Ảnh: T.G
Ngày 1-11, Đồn biên phòng Làng Ho (Biên phòng Quảng Trị) xác nhận vừa giải cứu thành công một phụ nữ sau hơn 24 giờ bị mắc kẹt trong rừng vì mưa lũ.
Trước đó, khoảng 15h ngày 31-10, phát hiện bà Hồ Thị Một (39 tuổi), trú bản 25, xã Kim Ngân, đi rừng không về nhà nên ông Hồ Văn Sanh (cháu bà Một) huy động 7 người thân trong gia đình đi tìm.
Khi tìm không có kết quả, gia đình bà Một đã báo tin đến Đồn biên phòng Làng Ho và chính quyền địa phương xã Kim Ngân xin hỗ trợ tìm kiếm.
Tiếp nhận thông tin, Đồn biên phòng Làng Ho đã lập tổ công tác phối hợp cùng Công an xã, dân quân và hơn 60 người dân địa phương cùng tổ chức vào rừng tìm kiếm.
Đến 9h30 ngày 1-11, các lực lượng phối hợp và người dân đã tìm thấy bà Một đang mắc kẹt bên kia bờ suối tại khu vực rừng thuộc bản Mít Cát, do nước lũ chảy xiết.
Sau đó, lực lượng cứu hộ đã phải mất hơn 2 giờ phát rừng, rẽ lối để đưa bà Một về nhà an toàn.
Chỉ huy Đồn biên phòng Làng Ho cũng đã chỉ đạo quân y đơn vị thăm khám, theo dõi sức khỏe, đồng thời thăm hỏi động viên bà Một và gia đình sớm ổn định tinh thần, nâng cao nhận thức trong ứng phó với thiên tai, đảm bảo an toàn về người và tài sản.
Đúng 28 năm trước, bão Linda hình thành ở Biển Đông rồi tàn phá Côn Đảo, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau, gây thiệt hại nghiêm trọng.
Phóng sự trên báo Tuổi Trẻ ghi lại cảnh đau thương sau bão Linda - Ảnh: QUỐC VIỆT
Khi bạn đọc xem bài báo này thì đúng cách đây 28 năm, cơn bão tử thần số 5 mang tên Linda đã xuất hiện áp thấp nhiệt đới ở Biển Đông, và chỉ một ngày sau (2-11-1997) bắt đầu gieo chết chóc ở vùng biển Côn Đảo rồi càn quét Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau...
Những ngày bi thảm
Trên trang phóng sự báo Tuổi Trẻ số ra ngày 6-11-1997 sau khi bão Linda vừa quét qua, đã có bài phóng sự "Một vùng biển nhuốm màu tang tóc" mà đến nay đọc lại vẫn nghẹn lòng.
Hai tác giả Dương Thế Hùng và Tiến Hưng ghi lại thế này: "Từ thị xã Cà Mau, chúng tôi đến cửa sông Ông Đốc, huyện Trần Văn Thời, đã thấy một vài chiếc tàu đánh cá trong ngoài tỉnh trở về đất liền. Mỗi chiếc tàu đều mang theo tin buồn về đoàn tàu bị bão trên biển.
Anh Ngũ Tấn Long - người sống sót duy nhất trong số 12 ngư dân sau cơn bão nhờ tàu Long An cứu vớt - cho biết: "Hai chiếc tàu bà Trần Thị Lan đã bị chìm tại một chỗ gần đảo Hòn Chuối. Nhiều tàu neo đậu chung cũng bị sóng đánh trôi và nhấn chìm".
Ngay lúc đó, tàu ông Năm Đởm neo đậu chạy về đã vớt được 36 ngư dân đang lênh đênh trên biển. Đồn biên phòng 692 đóng tại cửa sông Ông Đốc cho biết đến 5h ngày 5-11-1997, phát hiện 135 tàu chìm, có 967 ngư dân. Các tàu đã vớt 10 người chết, 335 người sống và số còn lại đang mất tích...
Hàng trăm người đổ về ngóng trông và nhận mặt xác chết để xem có phải người thân mình không. Họ buồn rầu, ủ rũ và khóc. Khoảng sân bùn đất nhão nhoẹt sau cơn bão cùng với nước đọng tràn ra từ khu phố càng tăng thêm cảnh thê lương, tang tóc.
Dì Trần Thị Nhi (ở xã Hồ Thị Kỷ, huyện Trần Văn Thời) sau khi xem mấy xác chết không thấy con mình, dì bỏ ra ngoài khóc tức tưởi: "Nó là thằng Nguyễn Văn Đen, mới có 22 tuổi hà! Nhà nghèo, không cha, nó nói với tôi: mẹ cho con đi biển kiếm tiền về nuôi em. Ai dè...".
Nói xong dì lại khóc ngất! "Chắc là nó chết rồi - dì nói trong nước mắt - bởi vì cùng đi chung một tàu bốn người. Ba người kia được vớt về cứu sống, kể rằng cùng cột phao trong nhóm, nhưng thằng Đen bị sóng đánh văng ra cuốn đi". Cái lo của dì Nhi bây giờ là lo tìm được xác Đen. Dì không biết tìm ở đâu giữa mênh mông sóng biển.
Ở ấp Khánh Hội, xã Khánh Lâm, huyện U Minh, có một phụ nữ đang thắc thỏm mong ngóng tin chồng. Tên chị là Nguyễn Thị The, chỉ mới 25 tuổi và đang mang thai. Chị chờ chồng - anh Trần Văn Tâm - đã đi biển chuyến ngày 30-10-1997. Chị chờ hoài chờ mãi mà không thấy anh về.
Đêm bão 2-11, căn nhà nhỏ của chị bị gió cuốn tan hoang. May nhờ chị chui xuống gầm giường nên không bị đè. Đứa nhỏ trong bụng càng lúc càng đạp mạnh hơn...
Chị nói trong nước mắt: "Phải chi không có mang đứa nhỏ, tui chết theo ảnh cho rồi". Hàng xóm tốt bụng thương chị, lo cho đứa con chưa ra đời, nên chưa thông báo cho chị cái tin sét đánh chồng chị đã chết trên tay một người bạn cùng đi...
Tại khu vực Hoa Biển, phường Vĩnh Thanh Vân (Rạch Giá, Kiên Giang), nơi tạm để 21 xác nạn nhân vừa được các tàu cứu hộ đưa về từ biển, không khí thật ảm đạm...".
Còn rất nhiều trang báo trĩu lòng như thế trong suốt tháng 11-1997 mà khó nhắc hết ra đây. Bao năm đã trôi qua, tôi về lại Khánh Hội, xã duyên hải cũ của tỉnh Cà Mau vẫn nghe người dân kể ngày đó rẻo đất nhỏ xíu bên biển như ngập tiếng khóc và màu khăn tang.
Nhiều người mẹ làm tang cho con, vợ tiễn chồng còn không có quan tài vì sóng biển đã nhấn chìm thi hài người thân họ mãi mãi.
Anh Nguyễn Duy Quân, nguyên phó chủ tịch UBND xã Khánh Hội cũ, chùng giọng nói: "Nếu anh về đúng ngày 2 và 3-11 sẽ thấy nhà nhà làm giỗ nghi ngút khói nhang. Cả đoạn lộ bên bờ kinh xáng hầu như nhà nào cũng có giỗ".
Sau ngày thảm họa đó, tôi cũng có mặt ở Kiên Giang, khu vực vừa bị bão Linda càn quét. Trong cảnh đau thương bên hàng chục thi thể ngư dân (mà càng lúc càng nhiều thêm) được vớt về bờ biển Rạch Giá, tôi ám ảnh mãi hình ảnh bà mẹ vừa khóc vừa run rẩy lật chiếu để xem mặt từng thi hài.
Họ bị mảnh vỡ tàu bè và sóng biển quăng quật suốt mấy ngày nên không thể nhận diện được nữa. Bà mẹ như điên dại khóc lóc: "Ai tìm giúp con tui, chắc nó nằm ở đây, để tui đưa nó về nhà cho bớt lạnh, con ơi con".
Còn chị Lý Hồng Mận, một người vợ ở Khánh Hội mất chồng và hơn 10 người trong dòng họ vì bão Linda, kể tới ngày giỗ nhiều người vợ góa bụa vẫn dựa nhau khóc và nhắc kỷ niệm "ảnh hứa chuyến đi biển này về sẽ gom tiền sửa lại mái nhà cho vợ con ở đỡ cực", "ảnh nói sẽ ráng đi biển để sắm cho vợ cái lắc vì hồi cưới nghèo quá tiền đâu mà mua".
Phụ nữ tuyệt vọng khóc đợi chồng, con ở bờ biển Cà Mau sau bão - Ảnh: tư liệu báo Đất Mũi
Bài học đau xót
28 năm, 28 mùa mưa bão và 28 cái giỗ cho gần 3.000 nạn nhân, nhắc lại bão Linda lịch sử của miền Nam không chỉ kể nỗi đau thương mà còn rút ra bài học như cố giáo sư Võ Tòng Xuân nói "tài sản có thể phục hồi, nhưng sinh mạng con người nằm xuống thì chẳng gì bù đắp được". Việt Nam là đất nước trải dài trước biển, năng lực phòng chống thiên tai phải luôn được tăng cường và sẵn sàng ở mức độ cao nhất.
Khoảng 5 năm trước, khi giáo sư Xuân còn khỏe, tôi đã có cuộc trao đổi với ông ở Long Xuyên về vấn đề phát triển Đồng bằng sông Cửu Long và biến đổi khí hậu.
Chuyện cũ, chuyện mới miên man, ông kể: "Tôi nhớ dịp ngồi với mấy anh cựu lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau cũng bàn vấn đề này. Có anh day dứt tâm sự: phải chi hồi năm 1997 đủ kinh nghiệm phòng chống bão để tăng cường bộ đội biên phòng, công an giúp dân kịp trú tránh nơi an toàn thì có thể đỡ thiệt hại.
Một anh khác nói cũng có phần do bão diễn biến nhanh, khi địa phương nhận lệnh phòng chống bão từ trên thì không kịp nữa. Hồi đó nhiều tàu cá nhỏ thiếu trang bị máy liên lạc, họ còn đang lênh đênh ngoài biển ngay lúc bão ập đến".
Ông Xuân kể thêm các cựu cán bộ địa phương đã tâm sự thẳng thắn nhiều vấn đề, và không ai phủ nhận thực tế năm 1997 cả người dân lẫn chính quyền địa phương đều thiếu kinh nghiệm phòng chống bão. Tuy nhiên cũng không thể đổ lỗi cho dân, vì quá nhiều năm vùng dưới này được xem như "đất lành" không bị bão tố như miền ngoài.
Là người quê Tri Tôn (An Giang), vùng đất không giáp biển, nhưng ông Xuân từng đi học và làm việc ở "vành đai bão" Nhật Bản, Philippines nên rất hiểu sức mạnh khi thiên nhiên nổi cơn thịnh nộ.
Hôm đó, ông đã nói lại với các vị lãnh đạo địa phương cần phải chuẩn bị sẵn sàng cả trong người dân lẫn chính quyền, nhất là ở thời kỳ biến đổi khí hậu ngày càng khó lường.
Dải đất và vùng biển phía dưới này ít bị bão tố, nhưng chỉ hai trận bão đầu và cuối thế kỷ 20 là bão Linda năm 1997 và Giáp Thìn 1904 đều gây thiệt hại khủng khiếp, trận nào cũng hàng ngàn đồng bào phải thiệt mạng, tàu bè vỡ nát, nhà cửa đổ sập, ruộng vườn tan hoang...
Không ai được chủ quan với thiên tai. Nhiều năm bình yên nhưng chỉ vài giờ thảm họa cũng phải trả giá vô cùng nặng nề và rất lâu mới khắc phục được.
Trận bão Linda làm thiệt mạng hàng ngàn đồng bào và thiệt hại vật chất nặng nề là bài học vô cùng quá đau xót vẫn còn tính thời sự cho hôm nay lẫn mai sau!
Bão Giáp Thìn năm 1904 tàn phá miền Nam
Nhiều sách báo vẫn nhắc trận bão lụt kinh hoàng ở miền Trung năm Giáp Thìn 1904, nhưng ít người biết vùng "đất lành" Nam Kỳ cùng năm này cũng bất ngờ có trận bão làm thiệt mạng hàng ngàn người. Khu vực bị thiệt hại nặng nhất là Sài Gòn, Gò Công, Long An...
Trên Nam Kỳ tuần báo (do nhà văn Hồ Biểu Chánh làm chủ nhiệm) phát hành ngày 8-6-1944, tác giả ký tên Mỹ Xuân viết bài kể lại trận bão năm Thìn hoành hành ngày chủ nhật 1-5-1904 ở đất Sài Gòn.
Nội dung kể mưa tầm tã ngay "hòn ngọc Viễn Đông", cuồng phong làm sập nhà cửa, kể cả mái nhà ga xe lửa, đổ ngã cây cối, thổi bay xe ngựa, nhấn chìm ghe thuyền và các tàu lớn đang neo đậu ở sông Sài Gòn cũng không thoát nạn. Hàng ngàn người đã thiệt mạng ngay tại Sài Gòn và vùng lân cận như Gò Công...
Khi bài báo này đăng cũng là thời điểm hàng ngàn gia đình miền Tây Nam Bộ đang chuẩn bị nhang khói ngày giỗ chung vì cơn cuồng phong kinh hoàng có tên Linda, tức cơn bão số 5 hoành hành đầu tháng 11-1997.
Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa khát vọng này, đất nước phải bước vào giai đoạn "tăng tốc", dựa trên các nền tảng cốt lõi, đổi mới sáng tạo độc lập và tự cường.
Để tăng trưởng bền vững, cần phát triển dựa trên những tiềm năng và lợi thế quốc gia để tránh các cú sốc bên ngoài. Trong ảnh: công nhân lắp ráp phụ kiện ô tô tại nhà máy THACO - Chu Lai - Ảnh: HỮU HẠNH
Tuổi Trẻ đã trao đổi với PGS.TS Trần Hoàng Ngân xoay quanh câu chuyện chuyển trạng thái từ tăng trưởng chậm, an toàn sang đi nhanh, vững, chất lượng cao. Ông nói: "Tăng trưởng nhanh phải dựa trên những lợi thế mạnh nội tại để tránh các cú sốc bên ngoài. Đặc biệt, Việt Nam phải chọn hướng đi bền vững, đảm bảo yếu tố xanh, bền vững và quan trọng nhất là tăng trưởng phải đi đôi với hạnh phúc của người dân".
Để tránh rơi vào bẫy tăng trưởng nóng, thiếu bền vững, cần phải tránh phụ thuộc bên ngoài và xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên tiềm năng và lợi thế của mình.
PGS.TS Trần Hoàng Ngân
Dựa vào thế mạnh nội tại, tránh cú sốc bên ngoài
* Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa khát vọng này, đất nước phải bước vào một giai đoạn "tăng tốc" bởi thời gian còn lại chỉ 20 năm?
PGS.TS Trần Hoàng Ngân
- Trước hết, chúng ta cần nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới từ năm 1986 đến nay. Tăng trưởng bình quân của Việt Nam trong giai đoạn này đạt khoảng 6,4-6,5%.
Điều đáng mừng là Việt Nam đã từng chạm tới ngưỡng tăng trưởng cao, ví dụ như giai đoạn đầu thập niên 1990 đến 1997, tăng trưởng đạt tới 8,5-9%, thậm chí đạt mức 9,5% vào các năm 1996, 1997. Điều này cho thấy tiềm năng tăng trưởng cao của chúng ta là có và từng đạt được.
Tuy nhiên, trong 40 năm qua, kinh tế Việt Nam thường bị chững lại bởi những cú sốc từ bên ngoài. Điển hình là khủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008. Những cú sốc này khiến tăng trưởng kinh tế đi theo hình chữ U, tăng trưởng chậm lại kéo dài 2-3 năm, khiến mức tăng trưởng bình quân chung cuối cùng chỉ đạt 6,4-6,5%.
Hiện tại, chúng ta bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu tăng tốc, phấn đấu đạt mức tăng trưởng trên 10% để trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Khát vọng này hoàn toàn có cơ sở bởi sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế.
Đặc biệt, chúng ta đã bắt đầu hoàn thiện thể chế đồng bộ hơn và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bao gồm đường bộ cao tốc, đường sắt đô thị, cảng hàng không... Đây là nền tảng vững chắc để chúng ta tự tin tăng tốc trong 20 năm tới.
* Đâu là những nền tảng cốt lõi để chúng ta tự tin có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới?
- Theo tôi, chúng ta cần phát triển dựa trên thế mạnh và lợi thế sẵn có để tránh phụ thuộc, từ đó không bị ảnh hưởng và tránh những cú sốc từ bên ngoài. Trong đó, cần đẩy mạnh khai thác các tiềm năng lớn có sẵn, bao gồm:
Thứ nhất là kinh tế biển. Với bờ biển dài và đẹp, cần đầu tư để kinh tế biển trở thành kinh tế mũi nhọn, bao gồm năng lượng biển như điện gió ngoài khơi, khí, dầu, thủy sản và du lịch. Cần phát triển chuỗi logistics, đầu tư vào các cảng nước sâu, cảng trung chuyển quốc tế như Cần Giờ, Cái Mép - Thị Vải, Đà Nẵng, Hải Phòng và các cảng ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ hai là nông nghiệp công nghệ cao. Cần chuyển nền nông nghiệp truyền thống thành nông nghiệp công nghệ cao để nông sản Việt hướng ra thế giới. Với lĩnh vực nông nghiệp, chúng ta có nhiều lợi thế và thực tế đã có nhiều ngành xuất khẩu mũi nhọn như gạo, tiêu, hạt điều, sầu riêng...
Thứ ba, chúng ta cần phát triển hơn nữa du lịch và văn hóa, đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp không khói, tận dụng danh lam thắng cảnh và sự ổn định của đất nước để thu hút khách quốc tế.
Vấn đề quan trọng tiếp theo là cần phải tập trung xây dựng đội ngũ doanh nhân và lực lượng doanh nghiệp Việt Nam đủ tầm vươn ra thế giới. Cần triển khai hiệu quả các nghị quyết quan trọng như nghị quyết 68 của Bộ Chính trị và nghị quyết 198 của Quốc hội về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính sách đã khơi thông, vấn đề còn lại là cần có chương trình hành động cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, nguồn vốn lãi suất thấp, ưu đãi về thuế và cải thiện môi trường kinh doanh.
Việc này sẽ tạo ra một hệ sinh thái sản xuất kinh doanh vững mạnh cho người Việt Nam, từ hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, đến các tập đoàn kinh tế tư nhân chủ lực.
* Còn với tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, cần có chiến lược như thế nào để những động lực này đóng góp quan trọng vào tăng trưởng quốc gia trong giai đoạn tới?
- Mặc dù xuất nhập khẩu Việt Nam đã nằm trong top 20 thế giới, nhưng độ mở lớn khiến chúng ta dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động thế giới. Do đó, bên cạnh thị trường quốc tế, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến thị trường 100 triệu dân trong nước cùng 30 triệu lượt khách quốc tế hằng năm.
Cần phải đáp ứng nguồn hàng hóa, làm sao để người Việt Nam thực sự yêu thích và tin dùng hàng Việt Nam. Thực tế đáng lo ngại là có một số bộ phận người Việt hiện nay không mua một số hàng Việt Nam mà lại nhập hàng nước ngoài, kể cả trái cây, thậm chí là gạo, dù đây là thế mạnh của Việt Nam.
Cần nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu hàng hóa chất lượng cao cho người Việt, khuyến khích người Việt Nam ưu tiên hàng Việt Nam, nông sản Việt. Điều này sẽ thúc đẩy một thị trường nội địa vững chắc bên cạnh mảng xuất khẩu đang phát triển tốt và sẽ giúp chúng ta tăng trưởng ổn định, bền vững.
Huy động tổng lực cho phát triển hạ tầng
* Chúng ta đang đẩy mạnh phát triển đầu tư công lẫn đầu tư tư trong lĩnh vực hạ tầng, để lĩnh vực này tiếp tục là động lực tăng trưởng, cần huy động mọi nguồn lực để đẩy nhanh các dự án hạ tầng quan trọng?
- Hạ tầng là yếu tố mấu chốt để giảm chi phí logistics, giúp tăng hiệu quả kinh doanh, giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí. Tuy nhiên, do hạ tầng logistics còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết... dẫn đến chi phí logistics của Việt Nam trung bình ở mức 16-17% GDP, cao hơn nhiều so với mức bình quân chung 10,6% của thế giới. Cần phải kéo giảm tỉ lệ này thông qua việc nâng cấp hạ tầng.
Giai đoạn 2016-2020, chúng ta dành 2,2 triệu tỉ đồng ngân sách cho đầu tư phát triển; giai đoạn 2021-2025 là khoảng 3,4 triệu tỉ đồng. Giai đoạn 2026-2030, số tiền đầu tư cho hạ tầng phải tăng lên gấp đôi, gấp ba mới đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn mới.
Chúng ta không chỉ dựa vào đầu tư công mà phải huy động nguồn lực từ khu vực ngoài nhà nước. Khối tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong đầu tư hạ tầng. Hiện Quốc hội đã ban hành nhiều thể chế ưu tiên kêu gọi vốn đầu tư trong nước, đặc biệt là khu vực tư nhân, tham gia đầu tư vào hạ tầng, song số lượng vẫn còn ít.
Theo tôi, các doanh nghiệp tư nhân cần thực hiện giải pháp đồng tài trợ, đồng đấu thầu bằng cách hợp sức, hình thành các tổ hợp liên kết.
Đặc biệt, phải ưu tiên hạ tầng kết nối để phát huy lợi thế của từng vùng đất, kết nối các cực tăng trưởng với nhau. Ví dụ, kết nối sân bay Tân Sơn Nhất với sân bay quốc tế Long Thành; kết nối Long Thành đến các khu vực có thể thu hút đầu tư, thu hút du lịch như khu vực Hồ Tràm phát triển kinh tế biển, đến Thủ Thiêm phát triển trung tâm tài chính quốc tế hay khu thương mại tự do, đến Cần Giờ.
Do đó, tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam tới đây cần phải được quan tâm đầu tư để khai thác triệt để từng vùng đất để nơi nào cũng có đóng góp lớn vào ngân sách, vào tăng trưởng, tạo ra GDP. Có như vậy mới phát triển tổng lực và hạ tầng là yếu tố quyết định.
* Vấn đề tăng hàm lượng khoa học công nghệ trong tăng trưởng là một yêu cầu bắt buộc, nhưng dường như không ít doanh nghiệp vẫn chưa thực sự đầu tư vào nghiên cứu phát triển (R&D), đầu tư cho khoa học công nghệ?
- Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã có. Chính phủ cần nỗ lực ban hành sớm để khuyến khích doanh nghiệp ưu tiên phát triển công nghệ.
Bản thân doanh nghiệp đã ý thức được rằng không có khoa học công nghệ, không có đổi mới sáng tạo, không có chuyển đổi số thì không thể tồn tại trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0. Họ cần cơ chế và nguồn lực, đặc biệt là vốn.
Việc phát triển trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam sẽ là nơi giúp các start-up có thể gọi vốn được. Khi mọi "điểm nghẽn" đã được khơi thông, chắc chắn doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh vào R&D và đầu tư cho khoa học công nghệ.
"Phát triển phải đi đôi với hạnh phúc của người dân"
* Dòng vốn FDI trong nhiều năm qua đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng, nhưng nhiều dự án "đại bàng" thế hệ cũ thâm dụng lao động, đất đai đang đếm ngược thời hạn đầu tư. Đâu là lời giải cho bài toán giữ chân dòng vốn FDI, đồng thời thu hút được FDI thế hệ mới (công nghệ cao, R&D)?
- Việt Nam hiện nay đang chọn lọc, không kêu gọi dòng vốn FDI bằng mọi giá. Chúng ta ưu tiên FDI có khoa học công nghệ cao và ưu tiên doanh nghiệp trong nước trước. Nếu hạ tầng tốt, FDI sẽ còn chảy vào nhiều hơn nữa. Ví dụ sân bay, cảng biển, đường cao tốc, các khu công nghiệp xanh, hiện đại... đáp ứng nhu cầu thì dòng vốn FDI thế hệ mới còn vào Việt Nam nhiều hơn hiện nay.
Tới đây, các khu công nghiệp sẽ được cơ cấu lại để không duy trì các doanh nghiệp FDI thâm dụng lao động, công nghệ lạc hậu, ảnh hưởng đến môi trường. Thay vào đó, chúng ta sẽ có các chính sách thu hút, giữ chân và để các doanh nghiệp công nghệ cao đầu tư, nâng cấp công nghệ và đầu tư mạnh vào R&D. Đối với các khu công nghiệp hết hạn, chúng ta cần chuyển đổi sang mô hình công nghệ cao, giữ chân các doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng và tái đầu tư.
Công nhân kỹ thuật làm việc tại nhà máy chip bán dẫn của Công ty TNHH Hana Micron Vina (vốn Hàn Quốc) tại tỉnh Bắc Giang cũ - Ảnh: DANH LAM
* Làm thế nào để Việt Nam tránh được "bẫy" tăng trưởng nóng, thiếu bền vững mà một số quốc gia đã gặp phải?
- Để tránh tăng trưởng nóng, thiếu bền vững, chúng ta phải tránh phụ thuộc bên ngoài và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dựa trên tiềm năng và lợi thế của mình. Đặc biệt, phát triển phải đảm bảo yếu tố xanh và bền vững.
Hiện nay, ngay cả logistics, dịch vụ, cảng biển, năng lượng, vận chuyển đều phải đảm bảo các tiêu chí về xanh và Việt Nam cũng cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào 2050. Do đó, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững là lựa chọn bắt buộc.
Điều cuối cùng và quan trọng nhất là: phát triển phải đi đôi với việc chú ý đến hạnh phúc của người dân. Phát triển bền vững chính là tạo ra hệ sinh thái xã hội với mục tiêu quan trọng là nâng cao chất lượng sống và đem lại hạnh phúc cho người dân.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: "Hạnh phúc của nhân dân phải được đo bằng nhà ở, bằng giáo dục, bằng y tế, bằng môi trường sống trong lành, bằng cơ hội tạo lập cuộc sống hoàn thiện hơn cho mỗi gia đình, bằng niềm tin rằng con cháu chúng ta sẽ sống tốt hơn chúng ta hôm nay...".
Tạo ra nhiều "đoàn tàu" kéo kinh tế tăng tốc
Siêu đô thị Hà Nội và TP.HCM, hai cực tăng trưởng quan trọng của đất nước - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Theo PGS.TS Trần Hoàng Ngân, đã đến lúc phải phát huy tiềm năng những vùng đất mới, cần tận dụng hiệu quả sinh lời trên từng mảnh đất. Đặc biệt, những khu có hiệu quả cao thì phải có những thể chế tương thích.
Ví dụ, cần có thể chế tương thích với quy mô kinh tế và dân số cho các đầu tàu lớn như TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng để vực dậy các cực tăng trưởng này, đưa các đầu tàu này vươn lên, kéo kinh tế Việt Nam cùng tăng tốc bước vào kỷ nguyên mới.
Theo ông Ngân, không nên phát triển phải theo hướng tổng lực, không chỉ tập trung cho một hai đô thị, mà nơi nào cũng tạo ra được động lực tăng trưởng và GDP. Điều này đòi hỏi vai trò quyết định của yếu tố hạ tầng đồng bộ để liên kết các địa phương, liên kết vùng và liên kết ???quốc gia.
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV đã khẳng định vị trí then chốt của giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tôi xin góp ý tập trung vào năm định hướng chính để giáo dục thành sức mạnh nội sinh cho phát triển bền vững.