Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

Gần 360 người Việt từ Mỹ về nước ngày đầu năm

 

Gần 360 người Việt từ Mỹ về nước ngày đầu năm

https://nld.com.vn/... đăng ngày 01-01-2021 - 13:34.|Thời sự trong nước

(NLĐO)- Sáng nay 1-1-2021, chuyến bay đưa gần 360 người Việt từ Mỹ về nước đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà.

Trong hai ngày 31-12-2020 đến 1-1-2021, các cơ quan chức năng Việt Nam, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Mỹ, hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đã phối hợp với các cơ quan chức năng sở tại đưa gần 360 công dân Việt Nam về nước an toàn. Hành khách trên chuyến bay bao gồm trẻ em dưới 18 tuổi, người cao tuổi, người ốm đau, du học sinh đã hoàn thành chương trình học không có nơi lưu trú do ký túc xá đóng cửa và các trường hợp đặc biệt khó khăn khác.

Gần 360 người Việt từ Mỹ về nước ngày đầu năm - Ảnh 1.

Các công dân Việt Nam trước khi lên máy bay về nước từ Mỹ trên một chuyến bay trước đó (Ảnh do Bộ Ngoại giao cung cấp)

Các cơ quan đại diện Việt Nam đã tích cực hỗ trợ công dân trong đó có nhiều người ở xa, người cần sự hỗ trợ đặc biệt di chuyển tới các điểm tập trung tại sân bay quốc tế TP Houston và New York; đồng thời, cử các cán bộ trực tiếp tới sân bay để hỗ trợ công dân hoàn tất các thủ tục và quá trình lên máy bay diễn ra nhanh chóng, an toàn.

Với mục tiêu đảm bảo sức khỏe cho công dân, ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh, hãng hàng không đã thực hiện nghiêm túc các biện pháp về an ninh, an toàn và vệ sinh dịch tễ trong suốt chuyến bay. Ngay sau khi hạ cánh xuống sân bay quốc tế Cam Ranh, những người tham gia chuyến bay đã được giám sát y tế và cách ly tập trung theo đúng quy định.


Trong năm 2020, Việt Nam đã triển khai công tác bảo hộ công dân trên phạm vi rộng chưa từng có, tổ chức hơn 280 chuyến bay, đưa gần 80.000 công dân từ hơn 59 quốc gia/vùng lãnh thổ về nước an toàn.

Thời gian tới, việc đưa công dân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nước sẽ được sắp xếp theo nguyện vọng của công dân, phù hợp với tình hình dịch bệnh và năng lực cách ly trong nước.

Chào đón những khách du lịch đầu tiên năm 2021

Sáng nay 1-1-2021, Vietnam Airlines Group đã phối hợp với 5 tỉnh, TP (Hà Nội, TP HCM, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng) chào đón những vị khách đầu tiên trong năm 2021 với sự tham dự của đại diện lãnh đạo Sở Du lịch các tỉnh, TP, các cảng hàng không.

Tại Hà Nội, Sở Du lịch TP đã tổ chức lễ chào mừng đoàn khách đầu tiên trong năm 2021 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám lúc 8 giờ sáng và trao tặng 20 phần quà cho các vị khách may mắn. Đây đều là những hành khách đến Hà Nội bằng dịch vụ tour trọn gói của công ty lữ hành Hanoitourist kết hợp di chuyển trên chuyến bay của Vietnam Airlines trước đó.

Thua Thien Hue

Một trong những hành khách đến Thừa Thiên Huế được nhận quà

Tại TP HCM, lễ chào mừng những vị khách đầu tiên đã diễn ra tại sân bay Tân Sơn Nhất vào 7 giờ 55 sáng. Hơn 400 hành khách của 3 chuyến bay đã được chào đón nồng nhiệt, trong đó 9 vị khách may mắn đã được lựa chọn ngẫu nhiên để nhận quà từ ban tổ chức.

Các tỉnh Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế và TP Đà Nẵng cũng lần lượt tổ chức lễ chào đón các chuyến bay đầu tiên, trao tặng 5 vé máy bay cho những hành khách may mắn nhất.

D.Ngọc

Xử phạt 150 triệu đồng hai doanh nghiệp sản xuất thuốc

 

Xử phạt 150 triệu đồng hai doanh nghiệp sản xuất thuốc

https;//nld.com.vn/... đăng ngày 01-01-2021 - 08:36.|Khỏe - Vui

(NLĐO) - Hai doanh nghiệp dược có vi phạm về hồ sơ đăng ký thuốc, chất lượng thuốc vừa bị Cục Quản lý dược xử phạt số tiền 150 triệu đồng.

Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) vừa có các quyết định xử phạt hành chính đối với hai công ty sản xuất thuốc với tổng số tiền phạt là 150 triệu đồng. 

Cụ thể, xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Roussel Việt Nam, do sản xuất thuốc Cortibion (kem bôi da kháng khuẩn và giảm sưng, viêm, ngứa tại chỗ), SĐK: VD-21043-14; thuốc Dumver (trị ký sinh trùng chống nhiễm khuẩn kháng virus kháng nấm), SĐK VD-32345-19, có thay đổi lớn so với hồ sơ đăng ký thuốc đã được phê duyệt nhưng chưa được phê duyệt nội dung thay đổi theo quy định của pháp luật. 

Hình thức xử phạt tổng cộng đối với 2 hành vi vi phạm nêu trên là 100 triệu đồng.

Xử phạt 150 triệu đồng hai doanh nghiệp sản xuất thuốc - Ảnh 1.

Doanh nghiệp sản xuất thuốc Cortibion vừa bị xử phạt 100 triệu đồng


Svinafellsjökull Glacier Hike, Iceland

Mỗi người chúng ta đều cố hết sức vượt hẻm núi có tên "2020".

Xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty cổ phần sản xuất - thương mại dược phẩm Đông Nam (có địa chỉ tại quận Bình Tân, TP HCM), do sản xuất thuốc viên nang mềm Bronzoni (thuốc được dùng sát trùng đường hô hấp, răng, miệng; trị các chứng ho, đau họng, sổ mũi, cảm cúm), SĐK VD-19598-13, số lô 915101, NSX 28-5-2019, HD 28-5-2022, vi phạm chất lượng mức độ 3 theo quy định của pháp luật. Hình thức xử phạt chính phạt tiền với mức phạt là 50 triệu đồng.

Trước đó, Cục Quản lý dược đã yêu cầu thu hồi toàn quốc viên nang mềm Bronzoni (Eucalyptol 100 mg; Tinh dầu gừng 0,5 mg; Tinh dầu tần 0,18 mg; Menthol 0,5 mg) nói trên do vi phạm chất lượng.

D.Thu

Ô nhiễm không khí Hà Nội: Những khoảng trống dữ liệu

 QUẢN LÝ KHOA HỌC

Ô nhiễm không khí Hà Nội: Những khoảng trống dữ liệu

https://tiasang.com.vn/... đăng ngày 01/01/2021 07:15. - Thanh Nhàn

Sau hơn 20 năm kể từ khi xuất bản những nghiên cứu đầu tiên về ô nhiễm không khí ở Hà Nội cũng như một số vùng lân cận, các nhà khoa học Việt Nam vẫn còn chật vật để có dữ liệu đầu vào.


Hà Nội trong những ngày ô nhiễm. Nguồn: vtv.vn


Câu chuyện dựa vào dữ liệu để ra quyết định không còn mới mẻ. Hãy thử hình dung đến một ngày nào đó, ngoài những tiêu chí thông thường như “đường xá thuận lợi, gần nhà trẻ, trường học, siêu thị…” thì người ta có thể cân nhắc thêm những yếu tố môi trường, từ chung chung như “rất ô nhiễm” đến như “nồng độ PM2.5, NOx, SO2” từ các loại bản đồ ô nhiễm không khí trước khi quyết định mua bán nhà cửa.


Tuy nhiên, từ nay đến khi đó còn là một khoảng cách rất xa, không chỉ vì những nghiên cứu gần gũi như thế vẫn còn đang trên đà thực hiện, ví dụ như “Mô hình hóa bản đồ PM2.5 cho thành phố Hà Nội” của PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh (ĐH Công nghệ, ĐHQGHN) hay “Đánh giá tác động của ô nhiễm PM2.5 bên ngoài lên sức khỏe” của TS. Nguyễn Thị Trang Nhung (ĐH Y tế công cộng, Bộ Y tế) vừa mới chỉ báo cáo một số kết quả sơ bộ vào giữa tháng 12/2020, khi Hà Nội rơi vào cao điểm ô nhiễm theo quy luật khí tượng. Quan trọng hơn là những người làm nghiên cứu về ô nhiễm không khí vẫn còn chưa có điều kiện tiếp cận các nguồn dữ liệu đầu vào tốt như mong muốn. “Cho đến hiện nay thì tất cả nguồn số liệu này tại Việt Nam còn tản mát, không nhất quán theo quy chuẩn lưu và công bố số liệu đang rất khó khăn, cả về chất lượng và nơi có thể tiếp cận”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung chia sẻ qua email với chúng tôi như vậy.

Ai cần dữ liệu?

 

Nếu mang câu hỏi “anh/chị có cần dữ liệu?” cho bất cứ nhóm nghiên cứu nào thì có lẽ, ai cũng nhận được cái nhìn sửng sốt “chuyện đương nhiên như thế còn phải hỏi”. Từ nhiều năm nay, nhu cầu về những bộ dữ liệu được thu thập trong thời gian đủ dài, chính xác, đáng tin cậy đã tồn tại âm thầm trong lòng cộng đồng các nhà khoa học. Trong cuộc trò chuyện vào năm ngoái, giáo sư Hoàng Xuân Cơ (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) cho biết, vào năm 2003, ông đã thực hiện một đề tài về việc sử dụng số liệu từ các trạm quan trắc để tìm hiểu xem những ai sử dụng số liệu đó. Điều ông phát hiện ra là “nhà quản lý cần số liệu nhưng là dữ liệu đã được xử lý để phục vụ cho việc quản lý chất lượng môi trường không khí quốc gia; nhà nghiên cứu dùng rất nhiều loại dữ liệu khác nhau để nghiên cứu, tìm ra quy luật của chúng và đưa ra những công cụ tiếp theo, phục vụ cho vấn đề quản lý; doanh nghiệp/tổ chức cần số liệu thông qua đặt hàng; còn cộng đồng cần dữ liệu đã qua xử lý như dưới dạng chỉ số ô nhiễm để có thể hiểu được chất lượng môi trường không khí nơi mình sinh sống như thế nào”.


Có một nguồn dữ liệu đầu vào như vậy là niềm mơ ước của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Không chỉ những người cần số liệu đưa vào các mô hình tính toán lan truyền ô nhiễm, lập bản đồ ô nhiễm hay tìm sự ảnh hưởng của ô nhiễm tới các vấn đề như sức khỏe, thu thập… mà những nhà nghiên cứu ở lĩnh vực khác cũng cần số liệu. “Nhiệm vụ kiểm kê phát thải, tính hệ số phát thải của một chất ô nhiễm nào đó hay quản lý chất lượng môi trường dưới góc độ tính toán khả năng nền của môi trường không khí… thì càng cần số liệu. Việc có nhiều số liệu từ nhiều nguồn khác nhau giúp mở rộng cơ hội nghiên cứu, ví dụ như đánh giá xu thế biến đổi của chất lượng môi trường không khí theo không gian, thời gian, hay ảnh hưởng của từng chính sách, phương thức quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí có thực sự hiệu quả hay không?”, PGS. TS Hoàng Anh Lê, trưởng bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Môi trường, trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), cho biết như vậy.



Ngày 27/5, Hà Nội tổ chức tiếp nhận 24 trạm quan trắc không khí tự động do Công ty TNHH THT (Hàn Quốc) tài trợ, đưa tổng số trạm quan trắc của Hà Nội lên con số 35. Ảnh: dangcongsan.vn.
 

“Về dữ liệu dùng để đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm không khí cần ít nhất hai nguồn chính: phân bố nồng độ ô nhiễm (mức độ ô nhiễm ở các vùng, cần chi tiết càng tốt) và mô hình bệnh tật và tử vong. Ngoài ra chúng tôi cần các số liệu phụ trợ nhằm giúp các đánh giá/ước tính chính xác hơn như dân số, mật độ dân số, bản đồ sử dụng đất, mật độ giao thông và lưu lượng xe. Mặc dù đây là những nguồn số liệu được thu thập theo ngân sách/hỗ trợ của nhà nước nhưng các nhóm như chúng tôi vẫn chưa được tạo điều kiện, nếu không nói là đang rất khó trong tiếp cận số liệu cho mục đích nghiên cứu phục vụ cho đề xuất chính sách và phục vụ cho người dân. Vì vậy chúng tôi đề nghị nên xây dựng quy trình công khai số liệu phục vụ cho các mục đích khác nhau như nghiên cứu hay quản lý” (TS. Nguyễn Thị Trang Nhung).

Là trưởng một nhóm nghiên cứu về thống kê y tế, hơn ai hết TS Nguyễn Thị Trang Nhung hiểu giá trị của dữ liệu với chất lượng nghiên cứu của mình. Một trong những mơ ước của chị là có thể hợp tác với nhiều nhóm khác để có thể tìm hiểu “tác động của ô nhiễm không khí lên các tế bào của con người, qua đó giúp giải thích các kết quả đánh giá mối liên quan của sự gia tăng ô nhiễm không khí lên các bệnh không lây như tiểu đường, ung thư, tim mạch hay là ảnh hưởng lên các biến chứng thai kỳ như sinh non, sinh con nhẹ cân”.

Tại Việt Nam, do những nghiên cứu liên quan đến tế bào hay bio-marker còn rất hiếm hoi nên chị chọn cách thực hiện hướng xác định mối liên quan giữa ô nhiễm không khí lên các bệnh không lây để khảo sát các tác động dài hạn (long term effect). Vì vậy điều chị cần là “độ chính xác của nguồn dữ liệu môi trường, cụ thể là phân bố nồng độ ô nhiễm, để có thể áp dụng các hướng dẫn của WHO trong tính toán tác động sức khỏe bên cạnh mô hình bệnh tật của địa bàn đánh giá” bên cạnh các số liệu phụ trợ khác.

 

Ở đâu nguồn dữ liệu?

 

Có thể thấy, điểm hội tụ của các nhà khoa học ở nhiều hướng nghiên cứu đều là cần số liệu thu thập đầu vào đủ tin cậy và đủ dài theo thời gian. “Muốn hiểu được diễn biến của chất lượng không khí như thế nào thì cần phải có chuỗi số liệu đủ dài, chuỗi số liệu ngắn hạn thì rất khó đánh giá”, PGS. TS Hoàng Anh Lê cho biết. Thế nào là đủ dài? “Đối với chất lượng môi trường không khí, chuỗi số liệu  cũng phải từ năm năm trở lên, hoặc ít nhất cũng phải ba năm liên tục thì mới có thể bắt đầu đánh giá được. Chuỗi số liệu như vậy hiện tại chỉ có thể có được từ các trạm quan trắc chất lượng môi trường không khí quốc gia. Có lẽ cũng rất nhiều người mong muốn có được bộ số liệu của trạm quan trắc chất lượng môi trường không khí quốc gia để đánh giá, thế nhưng các nhà khoa học cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập được nguồn số liệu này”.



Một bảng biểu thị chất lượng không khí Hà Nội và TPHCM vào tháng 9/2019 của Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc (Tổng cục Môi trường). Nguồn: Tổng cục Môi trường.

Vậy tại sao ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu chưa được cung cấp những dữ liệu cần thiết như vậy? Dưới góc độ của người từng làm quản lý trong lĩnh vực môi trường, TS. Hoàng Dương Tùng giải thích qua điện thoại “Ở Việt Nam thực sự chưa có thói quen chia sẻ dữ liệu môi trường, nhà nghiên cứu cũng không biết nguồn cung ở đâu để tiếp cận. Theo tôi hiểu, có hai nguyên nhân khiến người ta không muốn chia sẻ dữ liệu là vốn dĩ trước đây nhà nước không có thói quen công khai số liệu, bây giờ cũng không muốn vì sợ số liệu không đủ chất lượng, số liệu không đồng đều do thiết bị quan trắc cũng thường trục trặc, mỗi lần như thế phải ngừng vận hành mà ngừng vận hành thì trống dữ liệu thu thập”.


Từng đề cập đến trạm chuẩn đặt ở khuôn viên Tổng cục Môi trường trong cuộc trao đổi với chúng tôi vào tháng 3/2020, TS. Hoàng Dương Tùng cho biết, thiết bị hiện đại đó không chỉ đo được bụi PM2.5 mà còn đo được cả SO2, NO2, VOCs (hợp chất hữu cơ dễ bay hơi)… và cả điều kiện khí tượng nhưng nhưng ngặt một nỗi, chi phí vận hành vào khoảng tỷ đồng/năm. “Cơ chế tài chính của Việt Nam là mua được máy thì dễ nhưng để máy vận hành và chạy tốt thì khó vì khó đề nghị được kinh phí vận hành. Xin mãi mới được chừng 400 triệu đồng, tức là 40%, đùng cái nó hỏng, hỏng thì phải thay, thay bằng cách nào? Mỗi lần đề xuất phê duyệt tiền, nhanh cũng mất ba bốn tháng và quãng thời gian hỏng đó thì chúng tôi không có số liệu. Rồi đến kiểm chuẩn, vì có những yếu tố không thể kiểm chuẩn ở Việt Nam được, phải mang sang hãng sản xuất, người ta tháo ra mang về mất mấy tháng, nghĩa là thời gian đó không có số liệu”, anh bổ sung.

“Việc lắp một hay nhiều trạm còn tùy thuộc vào từng quy mô thành phố, ví dụ chúng ta có những thành phố nhỏ, thành phần môi trường tương đối đồng nhất thì chúng ta có thể lắp một trạm. Tuy nhiên với những thành phố lớn như thành phố Hà Nội, TP HCM thì không thể nói là một trạm đại diện cho chất lượng môi trường không khí toàn thành phố được. Theo tôi, đối với thành phố Hà Nội hay TPHCM, số trạm phải tăng lên. Mặt khác, ở hai thành phố này, các nguồn phát thải rất đa dạng và thay đổi liên tục nên giữa khu vực này với khu vực kia thì có lẽ phải có thêm trạm để rõ hơn về biến đổi chất lượng môi trường không khí.  
Tuy nhiên việc lắp đặt các trạm phải đi kèm với việc đảm bảo được chất lượng số liệu, vốn phụ thuộc vào thiết bị, nguồn nhân lực vận hành thiết bị và nguồn kinh phí để vận hành, bảo dưỡng nó. Nhìn chung nguồn kinh phí này đối với Việt Nam thường khá eo hẹp, vì thế cứ “giật gấu vá vai”, cho nên chuỗi số liệu có thể thiếu ổn định, không liên tục” (PGS. TS Hoàng Anh Lê).


Trong khi chưa có được dữ liệu như mong muốn thì nhiều nhóm nghiên cứu đã tự tìm nguồn dữ liệu đầu vào cho mình, đó là phát triển các hệ thống ghi đo chi phí thấp (low-cost sensor). “Có lẽ cũng phải đầu tư vài tỷ mới có thể làm được trạm có thiết bị tương tự như trạm quan trắc quốc gia. Rõ ràng với các nhóm nghiên cứu thì rất khó, nếu không muốn nói là không thể có được một trạm quan trắc quy mô như vậy”, PGS. TS. Hoàng Anh Lê cho biết thêm.


Tuy vậy đây không phải là giải pháp hoàn hảo cho các nhà nghiên cứu. “Các quốc gia muốn phát triển công nghệ cảm biến trong quan trắc chất lượng không khí vì chi phí thấp hơn nhiều và cộng đồng hoàn toàn có thể tiếp cận để có được thiết bị này, nó giống như cái nhiệt kế để biết nhiệt độ của phòng là bao nhiêu. Hiện tại các cảm biến đo chất lượng không khí vẫn còn nhiều hạn chế, độ chính xác chưa cao. Tuy vậy càng ngày với sự tiến bộ của khoa học công nghệ giúp cho các cảm biến càng ngày có số liệu càng chính xác hơn. Nhưng tôi cho là về mặt ý nghĩa khoa học thì nó không hoàn toàn thay thế được các trạm quan trắc truyền thống. Ví dụ trường hợp với bụi, các cảm biến chỉ đưa ra cho chúng ta con số mà thôi, còn  nồng độ của một số chất ô nhiễm trong hạt bụi đó là bao nhiêu thì hệ thống đó chưa thực hiện được”, ông giải thích thêm.

Con đường nào cũng dẫn đến kiểm kê

 

Tất cả các cuộc trao đổi của chúng tôi với những nhà khoa học đang rất năng động trong nghiên cứu về ô nhiễm không khí ở Hà Nội rút cục đều quy về cụm từ “kiểm kê phát thải”, một phương thức mà theo họ không chỉ đem lại được số liệu chính xác hơn mà quan trọng hơn giúp các nhà quản lý có thể xác định được các nguồn phát thải và phần đóng góp của mỗi nguồn vào bầu không khí ô nhiễm của Thủ đô.


Đó là câu chuyện mà các nhà khoa học đã tư vấn cho các cơ quan quản lý môi trường nhiều năm qua. “Chúng tôi đã nói rất nhiều ý kiến về kiểm kê phát thải. Nó là công cụ bản lề cho các công cụ khác, đặc biệt cho công tác quản lý về chất lượng môi trường, không chỉ riêng không khí. Lâu nay, chúng ta rất loay hoay với quản lý môi trường vì chúng ta thiếu công cụ kiểm kê khí thải trong đó. Chỉ lúc đó chúng ta mới biết được nguồn nào là nguồn đóng góp chính, chủ yếu, nguồn nào là nguồn phát thải các chất nguy hại trong môi trường và mới có giải pháp quản lý cho đúng chứ không phải bây giờ đùng cái chúng ta đưa ra cấm loại phương tiện này, cấm phương tiện kia”, PGS. TS Hoàng Anh Lê nhấn mạnh đến vai trò của kiểm kê và cho biết, các nhà nghiên cứu ở những quốc gia đã tiến hành hoạt động này ở gần Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan… đều có những công bố về vấn đề rất hay và số liệu hết sức thuyết phục.


Về tổng thể, kiểm kê ô nhiễm không khí là một vấn đề hết sức phức tạp và tốn kém nhưng “đây là việc mà các quốc gia đều phải làm, bắt buộc phải làm, không làm không được”, TS Hoàng Dương Tùng nói. Dù được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 nhưng hiện chưa địa phương nào ở Việt Nam triển khai kiểm kê ô nhiễm không khí cả.


Với một việc làm chưa có tiền lệ thì Việt Nam có phải tự ‘mò mẫm” thực hiện được không? Theo góc nhìn PGS. TS Hoàng Anh Lê, “chúng ta hoàn toàn làm được chứ không phải không làm được. Các nhà khoa học Việt Nam có đủ trình độ, phương pháp tính toán và có thể tiếp cận được các công cụ phục vụ cho kiểm kê phát thải”.

Ở các đô thị lớn như Hà Nội, nguồn đóng góp vào ô nhiễm hết sức phức tạp, không chỉ những nguồn phát sinh tại chỗ như khí thải xe máy, ô tô, xây dựng, giao thông… đến đốt rơm rạ theo mùa vụ, sản xuất công nghiệp ở vùng lân cận hay những nguồn xuyên biên giới… Do đó chắc hẳn việc tiến hành kiểm kê sẽ phức tạp và tốn kém. Vậy Hà Nội có nên kiểm kê từng phần? “Việc nên hay không nên phụ thuộc vào mục tiêu của thành phố Hà Nội. Nếu Hà Nội đặt đầu bài là kiểm kê phát thải cho toàn thành phố thì cần có sự tham gia của tất cả các ngành, các lĩnh vực khác mà không chỉ có các đơn vị về môi trường”. Nhìn chung khá phức tạp và nguồn kinh phí lớn nhưng về mặt khoa học thì hoàn toàn làm được”, PGS. TS Hoàng Anh Lê nêu.


Dù công việc kiểm kê ô nhiễm đòi hỏi một lượng kinh phí lớn và cần nhiều ngành nghệ cùng tham gia nhưng điều thú vị của nó là đem lại một bức tranh toàn cảnh về ô nhiễm, “nhìn vào đó các nhà quản lý sẽ thấy ngay nguồn phát thải nào cần được giảm thiểu, ví dụ nếu thấy ô nhiễm quá từ nguồn giao thông thì phải có giải pháp tăng các phương tiện công cộng lên, hạn chế xe cá nhân xuống”, TS. Hoàng Dương Tùng lưu ý.


Đó là một con đường dài mà một người gắn bó với ngành môi trường kể từ khi làm việc tại Tổng cục Môi trường cho đến khi làm chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Hà Nội như TS. Hoàng Dương Tùng mong muốn thấy ở Hà Nội. “Tôi nghĩ làm được điều đó sẽ thay đổi rất nhiều trong nhận thức của nhiều người, từ người dân đến nhà quản lý. Sau khi thực hiện, các nhà quản lý sẽ phải công bố rộng rãi kết quả và công khai dữ liệu. Và điều đó sẽ có lợi cho họ bởi càng công khai bao nhiêu thì người dân càng có ý thức giữ gìn môi trường hơn còn nhà khoa học sẽ có nhiều dữ liệu tốt để nghiên cứu, qua đó đề xuất trở lại nhiều khuyến nghị với nhà quản lý”. □

Chúng tôi núp dưới bóng cây đa, cây đề chứ không có hình ảnh gì cả

 THỜI SỰ

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng:

'Chúng tôi núp dưới bóng cây đa, cây đề chứ không có hình ảnh gì cả'

"Văn phòng Chính phủ là cơ quan giúp việc cho Thủ tướng, Chính phủ, chúng tôi núp dưới bóng cây tùng, cây đa, cây đề chứ không có hình ảnh gì cả".

Nhân dịp năm mới, Bộ trưởng - Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng chia sẻ nhiều trăn trở về quá trình loại bỏ lợi ích khi mạnh tay cắt giảm thủ tục hành chính, giấy phép con, tiến tới "Chính phủ điện tử, Chính phủ phi giấy tờ".

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho rằng, khi Chính phủ quyết tâm sử dụng hồ sơ điện tử thay vì hồ sơ giấy nghĩa là động chạm đến quyền lợi, cát cứ mà thực chất là lợi ích nhóm. Vì vậy quá trình cải cách này đòi hỏi phải làm minh bạch, phải giữ mình trong sạch, dám cắt bỏ lợi ích riêng để hướng tới lợi ích chung.

'Chúng tôi núp dưới bóng cây đa, cây đề chứ không có hình ảnh gì cả'
Bộ trưởng - Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng. Ảnh: Việt Hùng

Văn phòng Chính phủ không bị tác động từ bất cứ bộ nào

Chắc hẳn trong quá trình này, bản thân Bộ trưởng nói riêng và VPCP nói chung gặp không ít rào cản và chịu nhiều áp lực từ các bộ, ngành?

Đã là đổi mới, cải cách thì phải có sự phản đối. Đổi mới mà không có sự phản đối, vẫn dựa trên những tiền lệ cũ, những rào cản không bị cắt bỏ, những quyền lợi, nhóm lợi ích không bị cắt bỏ thì không phải là đổi mới.

Với sự chỉ đạo rất gương mẫu của Thủ tướng thì khi giao nhiệm vụ chúng ta phải chấp hành, thực hiện. Khi thực thi, không phải ai cũng đồng thuận ngay, hiểu ngay một lúc. Nhưng phải có sự rất quyết tâm, rất quyết liệt, quan trọng là quá trình làm phải công khai.

Trong quá trình đó, gặp phải áp lực là chuyện bình thường. Chính phủ, Thủ tướng đã chỉ đạo từ bỏ “trên nóng, dưới lạnh”, tham nhũng “vặt”… Có nghĩa, không riêng VPCP mà tất cả bộ, ngành, địa phương đều phải tham gia cải cách mạnh mẽ.

So với ban đầu, sức ép bây giờ giảm nhiều vì chúng ta đã có làn sóng cải cách. Tất nhiên, dù có sức ép cũng phải thực hiện cho được mục tiêu hàng đầu là cải cách. Còn anh nào tạo ra rào cản, co kéo lợi ích về bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo thì người đứng đầu bộ đó phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, trước nhân dân.

Tôi nghĩ, tất cả vì một đất nước hùng cường thì tư tưởng cục bộ cá nhân, vun vén cho nhóm lợi ích dần dần sẽ hạn chế. Hơn nữa, với sự giám sát của các cơ quan báo chí, người dân thì tư tưởng co kéo lợi ích sẽ dần bị loại bỏ, nếu có cũng nhẹ hơn rất nhiều.

Vấn đề là làm sao để hài hòa giữa lợi ích của người dân, DN với lợi ích của nhà nước và có khi nào Bộ trưởng phải thỏa hiệp trước sự phản ứng mạnh mẽ từ một phía nào đó?

Tôi cho rằng tất cả cơ chế, chính sách phải đảm bảo hài hòa các lợi ích, mà trước hết là lợi ích của đất nước, lợi ích của người dân, của DN.

Là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Chính phủ và Thủ tướng, chúng tôi phải luôn trung thành, tận tụy, trung thực. Khi nhận thấy có vấn đề không ổn phát sinh hay có rào cản, chúng tôi phải báo cáo độc lập, phản biện luôn tại cuộc họp Chính phủ. 

Nếu VPCP không làm được như vậy thì có lỗi rất lớn và phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng. Cho nên, trong từng vấn đề VPCP thảo luận rất kỹ, cũng như lắng nghe báo chí, các hiệp hội…

Tôi cho rằng ở chỗ này, chỗ kia có lúc sẽ không tránh khỏi việc phải thỏa hiệp. Riêng VPCP là cơ quan trung gian nên chúng tôi rất khách quan, minh bạch, không chịu tác động từ bộ nào, cũng chẳng lấy của ai để co kéo gì về mình. Chúng tôi chỉ làm tất cả những việc được pháp luật quy định, giao nhiệm vụ.

Đồng tiền biết nói và thời gian biết nói hết

Nhìn lại một nhiệm kỳ giữ vai trò Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP, người phát ngôn của Chính phủ với những việc đã làm được, Bộ trưởng mong muốn người dân nhớ về mình là một vị bộ trưởng gần dân, bộ trưởng hành động, cải cách hay là một tên gọi nào khác?

Mong muốn của người dân thì rất nhiều, rất lớn và VPCP là cơ quan giúp việc cho Thủ tướng, chúng tôi núp dưới bóng cây tùng, cây đa, cây đề chứ không có hình ảnh gì cả.

'Chúng tôi núp dưới bóng cây đa, cây đề chứ không có hình ảnh gì cả'

Mai Tiến Dũng

Bộ trưởng - Chủ nhiệm VPCP

Đồng tiền biết nói và thời gian biết nói hết. Chúng tôi không làm gì để thông qua báo chí đánh bóng cơ quan hay cá nhân.

Chúng tôi trung thành với Tổ quốc, đất nước, tận tụy phục vụ để hướng tới một Chính phủ phục vụ người dân, DN. Nếu người dân, DN hài lòng, chúng tôi rất phấn khởi, hài lòng với những gì mình đã đóng góp cho đất nước, cho Chính phủ. 

Tôi mong rằng báo chí sẽ tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, Thủ tướng và VPCP để  tạo ra những kết nối, thông tin 2 chiều hài hoà. Chúng tôi làm không tốt thì các cơ quan báo chí không thể nói tốt được và khi không làm được thì cũng không bao giờ nói chúng tôi làm được.

Chúng tôi luôn luôn minh bạch và tạo ra công cụ để đánh giá sự minh bạch này. Đồng tiền biết nói và thời gian biết nói hết. Chúng tôi không làm gì để thông qua báo chí đánh bóng cơ quan hay cá nhân.

Chúng tôi là người giúp việc, chỉ đứng sân sau. Nhưng những điều Chính phủ, Thủ tướng làm được, chúng tôi phải nói để thông qua báo chí cũng truyền tải tư tưởng đến người dân.

Thủ tướng đã truyền cảm hứng về tinh thần cải cách 

Chỉ còn vài tháng nữa là kết thúc một nhiệm kỳ Chính phủ và bắt đầu một nhiệm kỳ mới, nhìn lại cả quá trình vừa qua, điều gì khiến Bộ trưởng vẫn còn trăn trở?

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, quyết tâm của chúng tôi là xây dựng VPCP thành đơn vị chuyên nghiệp, hiện đại, quản trị thông minh. Tư tưởng này được quán triệt và thấm nhuần đến từng cán bộ, công chức, viên chức.

Nhìn lại, tôi thấy sự cố gắng của anh em vô cùng lớn, đến giờ khác rất nhiều so với thời đầu nhiệm kỳ. Từ đánh giá cán bộ đến công khai, minh bạch trong đào tạo, tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, đều rất công khai, không giấu giếm.

Chúng tôi cũng có phần mềm đánh giá công việc của từng chuyên viên. Anh nào giỏi mà làm chậm thì là “đánh võng”, còn làm chậm mà không giỏi tức là giấu dốt, bảo thủ. Chúng tôi phân công việc là theo năng lực chứ không bổ đầu mỗi anh phụ trách một mảng và phải làm việc theo nhóm để vừa giám sát, theo dõi, vừa trao đổi để xử lý công việc hiệu quả tốt hơn.

'Chúng tôi núp dưới bóng cây đa, cây đề chứ không có hình ảnh gì cả'
Bộ trưởng Mai Tiến Dũng kiểm tra tại Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Đình Vũ, Hải Phòng. Ảnh: TTXVN

Tất nhiên, sự đóng góp của anh em VPCP chỉ góp một phần rất nhỏ trong thành công của Chính phủ. Với mong muốn của Chính phủ, Thủ tướng thì chúng tôi phải cố gắng rất nhiều, luôn trau dồi lý luận, đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Ở VPCP, khi việc chưa xong thì chưa về chứ không có định nghĩa làm việc mỗi ngày 8 tiếng. Chúng tôi sẽ tiếp tục cải cách, đổi mới để đáp ứng yêu cầu, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng và mong muốn của người dân.

Với tinh thần “dám vứt bỏ quyền lợi” liệu có làm giảm vị thế của VPCP vốn được nhiều người gọi là "siêu bộ" hay không thưa Bộ trưởng?

Ngay từ những ngày đầu nhậm chức, tôi khẳng định ngay VPCP không phải “siêu bộ”. Từ “siêu bộ” người ta dùng để đánh giá cơ quan đó rất quyền lực, rào cản lớn. Còn pháp luật từ đó đến nay vẫn quy định VPCP là cơ quan tham mưu, giúp việc, tổng hợp cho Chính phủ, Thủ tướng.

Có thể nói, Thủ tướng đã truyền cảm hứng về tinh thần cải cách, về một Chính phủ kiến tạo đến chúng tôi. Vì vậy, thời gian qua, VPCP là cơ quan rất gương mẫu, đi đầu trong cải cách, chất lượng cán bộ, công chức, viên chức đã thay đổi rất nhiều.

Biên chế của VPCP cũng giảm nhiều, đến năm 2021 đã giảm 11,9%. Nhưng với ứng dụng CNTT, chúng tôi vẫn hoàn thành nhiệm vụ, công khai, minh bạch và không có chuyện “quyền anh, quyền tôi”.

Tôi nghĩ, người ta có quý mới gọi điện trao đổi, chứ không đã nói “sau lưng” thì đau đớn, day dứt, tâm tư hơn nhiều. Cho nên, khi Bí thư, Chủ tịch các địa phương chủ động liên hệ, dù văn bản chưa đến chúng tôi vẫn làm ngay. VPCP phải chia sẻ với các bộ, ngành, địa phương nhưng dùng kỹ xảo, kỹ thuật để đánh lừa thì không thể qua mắt được chúng tôi.

Thu Hằng